Ngày 17 tháng 06 năm 2008

Việt Nam đang hướng tới hệ thống an sinh xã hội năng động, hiệu quả


Việt Nam đang hướng tới hệ thống an sinh xã hội năng động, hiệu quả
Diễn đàn An sinh Xã hội Thế giới lần thứ nhất vừa được tổ chức tại Mátxcơva (Liên bang Nga) từ ngày 10 đến ngày 15 tháng 9 năm 2007. Tham dự, có gần 1300 đại biểu của các tổ chức an sinh xã hội đến từ 129 quốc gia. Hiệp hội An sinh Xã hội Thế giới (ISSA) ra đời năm 1927, được tổ chức tại Brussel với sự tham gia của 17 tổ chức đại diện cho 20 triệu đối tượng từ Bỉ, Tiệp Khắc, Pháp, áo, Đức, Luxembourg, Ba Lan, Thuỵ Sỹ và Anh. Chủ tịch đầu tiên là ông Leo Winter, Phó Chủ tịch thứ nhất của Liên đoàn Toàn quốc các Cơ quan Bảo hiểm ốm đau của Tiệp Khắc (1927-1928).

80 năm qua, từ một tổ chức nhỏ đại diện cho các liên đoàn quốc gia của các quỹ bảo hiểm ốm đau của 9 nước châu Âu, ISSA đã trở thành một đối tác có tầm ảnh hưởng quan trọng và có vị thế lớn trên các diễn đàn và hợp tác quốc tế, đại diện cho hàng triệu đối tượng được bảo hiểm và bảo trợ trong mọi lĩnh vực của hệ thống an sinh xã hội.
Cùng với thời gian, mục tiêu và nội dung của hội nghị quốc tế của hiệp hội (CIMAS) cũng đã được mở rộng, bao gồm cả chế độ bảo hiểm tuổi già, thương tật, tử tuất. ISSA đã chứng tỏ được sự lớn mạnh và hoạt động của mình trong lĩnh vực vận động xã hội và tăng cường kiến thức về tầm quan trọng sống còn của an sinh xã hội trong các nền kinh tế đương đại. ISSA giờ đây đã là tổ chức hàng đầu thế giới chuyên về tập hợp các ý tưởng và kiến thức chuyên môn liên quan đến các vấn đề an sinh xã hội. Hiệp hội thường xuyên xây dựng các diễn đàn quy mô toàn cầu nhằm trao đổi thông tin và những vấn đề liên quan đến an sinh xã hội. ISSA có tầm bao phủ toàn cầu nhờ số lượng thành viên của mình, bao gồm 360 tổ chức, cơ quan an sinh xã hội của 150 nước trên thế giới.
Ngày nay, khái niệm về hệ thống an sinh xã hội được mở rộng. Vai trò của an sinh xã hội không chỉ còn giới hạn trong việc tái phân bổ thu nhập và trợ cấp để đảm bảo nhu cầu cơ bản cho người dân. An sinh xã hội cần phải năng động hơn và chuyển từ tư duy cho rằng an sinh xã hội là phương tiện bảo trợ, là một số khoản trợ cấp xã hội sang nhận thức mới, chủ yếu là hướng vào việc phòng tránh và bảo vệ từng cá nhân trước những rủi ro và sự yếu thế. Phương pháp tiếp cận mang tính đổi mới này được gọi là “Hệ thống an sinh xã hội năng động”, có vai trò không chỉ đơn thuần là phương tiện bồi thường và khắc phục khó khăn cho đối tượng mà là sự đầu tư vào yếu tố con người “vốn con người”.
Mục tiêu chính của hệ thống an sinh xã hội năng động là phát triển dịch vụ xã hội bền vững và dễ tiếp cận hơn, không chỉ chú trọng đến dịch vụ bảo trợ mà còn tăng cường các biện pháp phòng tránh và hỗ trợ hoà nhập việc làm, nhằm xây dựng xã hội hiệu quả về kinh tế, xã hội và hoà nhập cộng đồng tốt hơn.
Diễn đàn An sinh xã hội lần này diễn ra sôi động, mang tính đa chiều, hướng tới hệ thống an sinh xã hội năng động sẽ mở rộng phạm vi, diện bao phủ và cung cấp dịch vụ đồng bộ hơn, hoạt động hiệu quả hơn, giảm được chi phí quản lý và hành chính, áp dụng một cơ chế quản lý chung cho các loại hình dịch vụ, đơn giản hoá thủ tục. Trong các phiên họp, diễn đàn đã thực sự là cơ hội cho mọi đại biểu chia sẻ và trao đổi kiến thức, kinh nghiệm của nhiều quốc gia về những thách thức của hệ thống an sinh xã hội, cùng xây dựng một tầm nhìn chung về sự phát triển, xu hướng và vai trò của hệ thống an sinh xã hội trong bối cảnh chung của nền kinh tế toàn cầu. Tại diễn đàn, các chủ đề chính được các đại biểu nhiều quốc gia quan tâm: Sự phát triển và các xu hướng an sinh xã hội; hỗ trợ một hệ thống an sinh xã hội năng động; áp dụng công nghệ thông tin nhằm thúc đẩy tác động của hệ thống an sinh xã hội; chế độ trợ cấp gia đình; quản lý hành chính; công nghệ thông tin và truyền thông là một công cụ hỗ trợ chuyển đổi; thách thức về bệnh hiểm nghèo, bệnh nghề nghiệp, tai nạn lao động đối với bảo hiểm xã hội; bảo hiểm y tế; thách thức về đầu tư của các quỹ bảo hiểm; bảo hiểm thất nghiệp và quản lý trường hợp nhằm tái hoà nhập việc làm; các giả định về nhân khẩu học và kinh tế được sử dụng trong đánh giá thống kê bảo hiểm đối với chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
Hệ thống an sinh xã hội bền vững thực chất là nhu cầu đối phó với vấn đề già hoá dân số và xu hướng toàn cầu hoá, an sinh xã hội dễ tiếp cận phải mang tính phổ cập với hàm ý mở rộng độ bao phủ dịch vụ, ví dụ như bảo hiểm y tế phải hướng tới toàn dân. Việc thực hiện các chương trình trợ cấp (đối với nước ta chính là trợ cấp xã hội cho các đối tượng khó khăn) là phương án khả thi để mở rộng độ bao phủ các dịch vụ và giảm tỷ lệ người nghèo và nhóm dễ bị tổn thương như nhóm dân cư nghèo khổ, người già cả cô đơn, người tàn tật, trẻ em mồ côi, trẻ bị bỏ rơi không nơi nương tựa, người nhiễm HIV/ AIDS…cải thiện hiệu quả để trợ cấp đầy đủ. Xu hướng chung của hệ thống an sinh xã hội của các quốc gia đều nỗ lực hướng tới cải thiện hiệu quả hoạt động: phương thức mới trong quản lý rủi ro, quản lý và có biện pháp đón đầu đối với những thay đổi và biến động trong xã hội và thị trường lao động; phân bổ nguồn lực hợp lý hơn, đặc biệt trong lĩnh vực y tế, hợp lý hoá chi tiêu cho y tế và tăng cường biện pháp quản lý chất lượng dịch vụ; cải thiện hiệu quả hoạt động và quản lý Nhà nước của các chương trình trợ cấp bảo hiểm xã hội. Hỗ trợ các phương pháp tiếp cận và phòng tránh chủ động. Đây là phương pháp đầu tư vào đối tượng cá thể và từ đó đáp ứng cho cả mục tiêu phát triển nguồn nhân lực như chuyển đổi chương trình bảo hiểm bệnh tật sang bảo hiểm y tế; các chương trình phát triển và xây dựng lối sống lành mạnh, trao quyền cho các đối tượng; xây dựng quan hệ đối tác giữa bên cung cấp dịch vụ và người nhận dịch vụ.
Trong bối cảnh toàn cầu hoá, già hoá dân số, người già ở các nước đang phát triển phải đối mặt với nhiều khó khăn để đảm bảo thu nhập, ổn định cuộc sống. Nguyên nhân của tình trạng này là do những thay đổi về nhân khẩu học, kinh tế và xã hội. Các loại bệnh tật phổ biến, đặc biệt những bệnh hiểm nghèo, bệnh mới, HIV/AIDS và việc di dân cũng như xu hướng đô thị hoá đã tác động tiêu cực đến đời sống của người già vì họ phải chịu gánh nặng chăm sóc trẻ em có bố mẹ đi làm ăn xa hoặc các cháu mồ côi.
Xu hướng chung được nhiều quốc gia xem xét và áp dụng nhằm bảo đảm thu nhập cho người già là cung cấp các loại trợ cấp (hưu trí không đóng góp) cho người già. Tương tự trợ cấp cho người cao tuổi từ 85 tuổi trở lên (không có lương hưu,trợ cấp BHXH ở nước ta), trợ cấp thường xuyên đối với những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn là một xu hướng phản ánh quan điểm chuyển đổi cách tiếp cận về vai trò an sinh xã hội. Đó là chuyển sang phòng tránh chủ động và bảo vệ để cân bằng các nhu cầu khác nhau về phát triển kinh tế, xã hội. Xu hướng này cũng phản ánh một hiện tượng thực tế đó là người già là một trong những nhóm đối tượng dễ bị tổn thương nhất, đặc biệt ở các nước đang phát triển, do những thay đổi về hình thái gia đình, mạng lưới xã hội và người già phải gánh vác thêm nhiều trách nhiệm xã hội và gia đình: Xu hướng này củng cố quan điểm cho rằng việc dành các khoản tiền trợ cấp cho người già, đặc biệt từ nguồn ngân sách Nhà nước là rất cần thiết có thể góp phần cải thiện phúc lợi cho các hộ gia đình và thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương. Xu hướng này cũng ghi nhận một thực tế là sự già hoá dân số là một hiện tượng toàn cầu và ngày càng có nhiều người già đang sinh sống ở các nước chậm phát triển, mà ở đó, diện bao phủ của hệ thống hưu trí dựa vào sự đóng góp còn rất thấp. Xu hướng này cũng phù hợp với mục tiêu chung của thế giới là giảm nghèo đói, khẳng định An sinh xã hội là một quyền của con người.
Thực tế ở nhiều nước, tình trạng thất nghiệp vẫn gia tăng cho dù có nỗ lực xây dựng các chế độ bảo hiểm thất nghiệp với các biện pháp hữu hiệu nhằm giúp người lao động trở lại làm việc. Tại diễn đàn cũng có quan điểm cho rằng bảo hiểm thất nghiệp không chỉ tốn kém mà còn kém hiệu quả- diễn đàn đã dành nhiều thời gian để tranh luận về các quan điểm tán thành và phản đối bảo hiểm thất nghiệp. Không chỉ những nước có nền kinh tế chậm phát triển mà cả những nước có nền kinh tế phát triển vẫn còn một bộ phận lao động thất nghiệp thiếu việc làm, do sự chuyển đổi nền kinh tế, thay đổi kỹ thuật, công nghệ sản xuất, trình độ người lao động không còn phù hợp, doanh nghiệp phải sắp xếp lại nên phải có chính sách hỗ trợ, giúp đỡ, tạo điều kiện cho người lao động ổn định cuộc sống, bớt khó khăn hoặc tham gia các khoá học nghề, nâng cao nghiệp vụ chuyên môn để chuyển nghề mới.
Trong các nước phát triển, bảo hiểm dựa vào cộng đồng đang phát triển, mở rộng phạm vi bao phủ, khả năng chống chọi của mỗi cá nhân từ việc cung cấp dịch vụ bảo vệ sang dịch vụ phòng ngừa, quản lý rủi ro mở rộng phạm vi. Cũng có đại biểu nhận định đối tượng tham gia thị trường lao động có xu hướng giảm, đối tượng hưởng trợ cấp gia tăng. Vì là quyền con người, họ có làm việc hay không làm việc, vấn đề phải có cơ chế, chính sách khuyến khích họ tham gia vào thị trường lao động - Đối với những nước có nền kinh tế chậm phát triển hoặc đang phát triển thì diện bao phủ thấp, không thể thực hiện chế độ bảo hiểm thất nghiệp như những nước có nền kinh tế phát triển. Người lao động muốn nhận được trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp trước hết phải có quan hệ lao động, phải có thời gian tham gia bảo hiểm thất nghiệp, theo nguyên tắc đóng – hưởng, có san sẻ, số đông bù số ít.
Trên thực tế đều có những rủi ro, vấn đề cơ bản là đặt lưới an toàn ở đâu. Xác định lưới an toàn ở đâu là do Chính phủ- thiết kế lưới này thế nào tuỳ thuộc vào nhận thức của cơ quan chức năng để tham mưu cho Chính phủ. Bởi xã hội luôn luôn phát triển, luôn có mặt trái. Thiết kế bảo hiểm thất nghiệp phải tinh vi hơn, quản lý bảo hiểm thất nghiệp sẽ phức tạp hơn, chi phí cao hơn nên phải hướng tới sự hoàn thiện nền kinh tế và thị trường lao động, toàn cầu hoá, phi chính thức, phải phù hợp với cuộc chơi chung, có cách nhìn khác hơn cho bảo hiểm thất nghiệp ở các nước đang phát triển, các nước có điều kiện kinh tế khác nhau. Nhưng sự thống nhất cao là phải làm thế nào để bảo hiểm thất nghiệp mang ý nghĩa bảo vệ nhiều nhất, giảm thiểu chi phí.
Nhiều đại biểu cho rằng bảo hiểm y tế là rất quan trọng, các nước cần thực hiện đúng cam kết quốc tế, từng bước bao phủ đến người dân, mở rộng đến cả người ăn theo của đối tượng. Tuỳ thuộc vào nền kinh tế của mỗi nước, mỗi quốc gia phải xây dựng chiến lược toàn diện thực hiện quyền của người dân, quyền con người. Bảo hiểm y tế đang gặp trở ngại và thách thức lớn – diện bao phủ thấp, đối tượng đóng chưa phải là toàn dân – nguy cơ bệnh hiểm nghèo gia tăng – ngân quỹ không đáp ứng, phải tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân, lấy số đông bù đắp, san sẻ số ít, xác định mức đóng phù hợp mới có khả năng trợ giúp kịp thời cho những người không may bị bệnh hiểm nghèo có cơ hội được cứu chữa. Vấn đề quan trọng là nhận thức của mọi người, phải hướng tới sự tham gia bảo hiểm y tế toàn dân – khắc phục tình trạng khi biết bệnh rồi mới tham gia.
Bệnh nghề nghiệp, thách thức đối với bảo hiểm xã hội. Qua diễn đàn, nhận thức về bệnh nghề nghiệp rất đa dạng, về bản chất, việc định nghĩa bệnh nghề nghiệp là “ thuật ngữ pháp lý” hay “thuật ngữ y học” sẽ tác động đến cách thiết kế chế độ bảo hiểm này. Bệnh nghề nghiệp trở thành một thách thức đối với bảo hiểm xã hội do sự xác định nguyên nhân gây bệnh rất phức tạp, đặc biệt là xác định các yếu tố liên quan đến công việc và không liên quan đến công việc. Khó khăn trong xác định nguyên nhân dẫn đến khó khăn trong việc phòng chống và bảo hiểm. Qua diễn đàn, đại biểu nhiều nước cùng đi đến thống nhất về những thách thức: khó khăn trong công tác báo cáo và thống kê bệnh nghề nghiệp, đặc biệt là những bệnh có thời gian ủ bệnh lâu. Vấn đề này phức tạp ở chỗ có nhiều căn bệnh mới hoặc đang xuất hiện, khó có thể xác định là do điều kiện làm việc gây ra như bệnh rối loạn thần kinh; thách thức thứ hai là mở rộng diện bao phủ của bảo hiểm bệnh nghề nghiệp và tai nạn lao động trong khu vực phi chính thức, mở rộng cơ hội tiếp cận hệ thống kiểm tra sức khoẻ, khám bệnh nghề nghiệp và bồi thường thương tật.
Thông qua Diễn đàn An sinh Xã hội Thế giới lần này cũng giúp cho Việt Nam có thêm kinh nghiệm để hướng tới xây dựng hệ thống an sinh xã hội năng động, hiệu quả hơn, góp phần vào công cuộc giảm nghèo bền vững. Do nhiều nguyên nhân nên Việt Nam chưa tham gia Hiệp hội An sinh Xã hội Thế giới, nhưng những gì mà Chính phủ và nhân dân Việt Nam đã và đang thực hiện trong nhiều thập kỷ qua đều hàm chứa nội dung cơ bản của hệ thống an sinh xã hội bao gồm: Các hoạt động phòng ngừa rủi ro, phát triển hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp…cả về chiều rộng và chiều sâu, tăng cường mức độ bao phủ, cải thiện chất lượng dịch vụ, từng bước mở thêm các hình thức bảo hiểm nhằm bảo đảm an toàn cho người lao động, phòng ngừa rủi ro. An sinh xã hội có mối quan hệ chặt chẽ với phát triển bền vững của nền kinh tế, an sinh xã hội cũng nhằm phát triển các thế hệ tương lai, thúc đẩy dân chủ, nhân quyền. An sinh xã hội tốt sẽ thúc đẩy thực hiện các quyền cơ bản của con người. Các hoạt động trợ giúp thường xuyên sẽ bảo đảm từng bước được mở rộng đối tượng bao phủ mà quan niệm của các nước là chương trình trợ cấp “không đóng góp, hưu trí không đóng góp” nhưng vẫn tập trung cho những đối tượng khó khăn nhất, bảo đảm công bằng trong các chính sách hỗ trợ, không để sót đối tượng nhằm đảm bảo cho mọi thành viên trong xã hội được bảo vệ về cuộc sống. Đa dạng hoá và linh hoạt trong các hình thức hỗ trợ- đáp ứng tốt hơn nhu cầu của đối tượng trên cơ sở mở rộng sự tham gia của các đối tượng vào các hoạt động trợ giúp. Các hoạt động trợ giúp đột xuất bảo đảm đến đúng đối tượng, đến kịp thời và đáp ứng nhu cầu của đối tượng. Linh hoạt trong hoạt động cứu trợ và huy động được sự tham gia rộng rãi của cộng đồng nhưng trách nhiệm chính vẫn thuộc về Nhà nước.
Như vậy, hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam ngoài tuân thủ nguyên tắc đóng và hưởng còn có trách nhiệm của Nhà nước cùng cộng đồng xã hội đối với người dân- những người có hoàn cảnh khó khăn không trực tiếp tham gia các hình thức bảo hiểm, bảo đảm an toàn cho mọi thành viên trong xã hội, bền vững về tài chính. Kết hợp giữa phòng ngừa rủi ro có hiệu quả với giảm thiểu và khắc phục rủi ro. Tạo môi trường để khu vực phi chính thức tham gia vào quá trình cung cấp các dịch vụ của an sinh xã hội. Hướng tới bảo đảm công bằng và ổn định xã hội tạo môi trường cho phát triển bền vững. Đầu tư cho an sinh xã hội là đầu tư cho con người, phát triển vốn con người. An sinh xã hội có vai trò quan trọng trong cuộc chiến chống đói nghèo, bần cùng hoá.
So với lịch sử 80 năm của hệ thống an sinh xã hội thế giới, hệ thống an sinh xã hội Việt Nam còn non trẻ, đang tích cực học tập, kế thừa và phát huy những mặt tốt, tiến bộ của các nước phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của Việt Nam, hướng tới một hệ thống an sinh xã hội năng động, hiệu quả, phòng ngừa được những biến cố, rủi ro, đóng góp tích cực vào cuộc chiến chống đói nghèo để nhân dân có cuộc sống tốt đẹp hơn.
TS. Đàm Hữu Đắc
Thứ trưởng Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội

Không có nhận xét nào: