Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhân viên xã hội chuyên nghiệp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhân viên xã hội chuyên nghiệp. Hiển thị tất cả bài đăng

28 tháng 7, 2008

Nhân viên xã hội và "sống đơn giản"


Nhân viên xã hội và "sống đơn giản"
Sáng thứ bảy, ngày 21-6-2008, Hội quán Đến với nhau đã tổ chức một buổi sinh hoạt chuyên đề về “Sống đơn giản” do cô Nguyễn Thị Oanh trình bày. Số người đến tham dự rất đông, người già thì có đến 81 người, tuổi trẻ thì khoảng 13 người; đủ các thành phần: nhân viên xã hội (NVXH), nhà văn, tu sĩ, sinh viên, giáo viên….

Đến phần thảo luận, chia sẻ kinh nghiệm thì sôi nổi, hết giờ rồi mà vẫn còn ý kiến. Là một NVXH, tôi cảm nhận được lối sống đơn giản theo nghề nghiệp của mình như sau:

Trong xã hội, ai cũng có nhu cầu tự khẳng định mình về vị trí, đẳng cấp theo nhiều kiểu khác nhau. Nhà kinh doanh khẳng định bằng những biệt thự đồ sộ, xe hơi loại mắc tiền, những buổi tiệc tại nhà hàng sang trọng. Thế còn NVXH đã khẳng định mình như thế nào. Nhìn chung tuy không sang trọng như nhà doanh nghiệp nhưng cũng không phải là không có. Tôi có dịp làm việc với một vài cán bộ dự án của một INGO, lương lãnh bằng đô (dollar), công tác phí cũng bằng đô, dĩ nhiên mức sống cũng không thể giống như cán bộ địa phương. Trong những lần tôi đi tập huấn ở cơ sở, chứng kiến không ít lần cán bộ dự án INGO lảng tránh những quán bình dân mà học viên vào ăn. Về phòng ở, nếu ở cùng khách sạn thì phòng của họ phải là "deluxe" (sang), hoặc họ ở khách sạn khác với khách sạn học viên ở. Mỗi "đẳng cấp" đều có tiêu chuẩn riêng, tuy nhiên có cần phải phân biệt một cách rạch ròi như vậy hay không? Trong buổi hội thảo, vài tham dự viên đề cập đến phương tiện làm việc của một tập huấn viên. Thời buổi này đi tập huấn mà thiếu máy vi tính xách tay, đèn chiếu thì có vẻ yếu, không được “pro” cho lắm. Ai ai cũng có, cũng dùng chương trình powerpoint, mình không dùng thì ngó “không giống ai”. Điều này có thể đồng nghĩa với thiếu tự tin và không thấy giá trị thực của chính mình. Thực tế Powerpoint là một phương tiện hữu hiệu trong tập huấn, nhưng không phải tuyệt đối. Trong điều kiện không có powerpoint ta vẫn sử dụng giấy bìa và giấy khổ lớn để trình bày, tuy có mất nhiều thời gian hơn cho việc chuẩn bị nhưng tạo được sự tham gia nhiều hơn so với cách thuyết giảng khi dùng powerpoint. Kiến thức, kỹ năng, bản lĩnh và kinh nghiệm quyết định sự tự tin cũng như khẳng định chính mình chứ không phải phương tiện. Gặp trường hợp cúp điện, powerpoint mất hiệu lực, tập huấn viên bối rối và mất tự tin ngay.

Là một NVXH, trong những lần đi công tác các tỉnh phía Bắc, tôi gặp phải sự khác biệt về cách ăn mặc, đặc biệt là mùa lạnh. Tham dự viên cấp tỉnh, huyện đều mặc vest, thắt cà vạt, cấp xã cũng có nhưng ít hơn. Đối với địa phương, cán bộ ai cũng mặc vest, đi xe gắn máy đời mới, mình mà không có cảm thấy như là mình không thuộc về "đẳng cấp" đó. Khi đó tôi nhủ thầm, giá trị của mình không phải ở bộ cánh mà ở chất lượng giảng dạy, đạt mục tiêu của khoá tập huấn với mức cao nhất. Tôi đã tạo sự tự tin bằng chính năng lực của mình. Thực ra, tôi không quen mặc vest, hai lần tôi mặc là đám cưới tôi và của con trai tôi. Bình thường nếu phải khoác vest vào thì lại rất lúng túng, cho nên không hẳn thứ gì sang trọng khoát lên người cũng mang sự tự tin.
Trong phần thảo luận, một tham dự viên đã góp ý để sống đơn giản mà vẫn cảm thấy tự tin và hạnh phúc, ta cần xây dựng giá trị thực cho chính mình. Nhà cửa, xe cộ, và các thiết bị khác cũng chỉ là phương tiện phục vụ cho mình. Không nhất thiết phải vứt bỏ hết mà biết sử dụng sao cho mình cảm thấy thoải mái, tự tin, hạnh phúc. Mình làm ra của cải chứ của cải không làm ra mình nên sống không lệ thuộc vào nó. Mỗi người đều có một điều kiện, hoàn cảnh và năng lực riêng, do đó ta chọn cho mình một lối sống đơn giản phù hợp. Với NVXH, để hội nhập với cộng đồng, chất lượng phục vụ là thước đo giá trị, sống đơn giản là cách dễ được người dân chấp nhận. Chu Dũng

24 tháng 6, 2008

NHÂN VIÊN XÃ HỘI


NHÂN VIÊN XÃ HỘI
Giáo dục chuyên nghiệp ở trường công tác xã hội tạo thuận lợi cho việc tiếp thu thái độ, kiến thức và kỹ thuật thích hợp. Nhưng quá trình tự đào tạo vẫn được tiếp tục cho dù sinh viên đã rời ghế nhà trường.
Giáo dục chuyên nghiệp chỉ là bước khởi đầu
Đó là một quá trình qua đó sự tăng trưởng và phát triển nghề nghiệp tiến lên một cách vững chắc. Sự tăng trưởng bao gồm các khoá tu nghiệp bổ sung định kỳ giúp có cái mới về chuyên môn, tiếp nhận những kỹ thuật mới và phục hồi lòng quyết tâm trong nghề.
Phẩm chất và sự nhạy bén được khơi dậy bằng sự nỗ lực
Một số điều căn bản cho một nhân viên xã hội lý tưởng
Nhân viên xã hội là người có thời thơ ấu không bị mang dấu ấn về sự thiếu hụt các nhu cầu. Một người mà nhu cầu vật chất và tinh thần được đáp ứng đầy đủ thì khi lớn lên không có những xung đột tâm thần chưa giải quyết được, và vì thế, người ấy không dùng thân chủ để đáp ứng nhu cầu riêng tư của mình. Tuy nhiên, điều đó không phải ai có thời thơ ấu nghèo khó, mất cha mất mẹ và các tai ương khác là không phù hợp với ngành công tác xã hội. Không phải tất cả trẻ em chịu đựng sự khó khăn và thiếu thốn đều có tính cách hư hỏng cả. Nhiều em có những yếu tố bù đắp để giảm bớt tác động của những hoàn cảnh khó khăn và giúp chúng hòa nhập. Sự hòa nhập như thế có thể đưa đến việc thực hiện tốt hơn chức năng xã hội, tốt hơn mức trung bình ở một số lĩnh vực. Thí dụ, có những người sau khi trải qua những kinh nghiệm không vui đã phát triển được tính nhạy cảm khác thường so với những người đang có vấn đề rắc rối.
Khả năng đối phó là quan trọng
Điều quan trọng không phải là từ chính hoàn cảnh mà là hành vi đối phó của cá nhân. Một tính cách hòa nhập tốt là điều mong ước đối với nhân viên xã hội, có nghĩa là hệ thống bản năng, bản ngã, siêu ngã hoạt động ở trạng thái cân bằng, phù hợp. Siêu ngã được phát triển tốt, và bản năng hoạt động trong giới hạn mà xã hội quy định. Người ta mong đợi sức mạnh bản ngã đáng kể của nhân viên xã hội. Điều đó nghĩa là, có những mức độ kiềm chế cảm hứng đột ngột và chịu đựng nỗi thất vọng vì lợi ích của những mục tiêu dài hạn.
Bản ngã hiệu quả
Nhân viên xã hội làm việc với những người có vấn đề rắc rối và thường đòi hỏi phải chế ngự sự căng thẳng. Khả năng suy nghĩ và hành động cần thiết để kiềm chế sự căng thẳng. Chức năng quan hệ với khách thể cũng phải hoạt động liên tục. Có nhiều mối quan hệ nghề nghiệp có dính dáng đến nhân viên xã hội, như quan hệ với bạn đồng nghiệp, với những người chuyên môn khác, với những nhân viên không chuyên nghiệp và với nhân viên của bộ máy quản lý. Có người có khả năng bẩm sinh hình thành và duy trì các quan hệ làm việc ở các cấp khác nhau và với nhiều mức độ gắn bó khác nhau, nhưng có người khác lại phải học tập, phải tiếp thu nó.
Tính khách quan
Suy nghĩ có phê phán và khách quan là điều quan trọng đặc biệt trong việc đánh giá con người và tình huống. Trong những tình huống con người bị tình cảm chi phối, con người có xu hướng áp đảo những sự việc khách quan trong cảm nghĩ của mình. Nhân viên xã hội phải khách quan và một khía cạnh của tính khách quan là khả năng phân biệt cảm xúc và sự kiện.
Gắn bó tình cảm với thân chủ như thế nào là thích hợp
Nhân viên xã hội gắn bó tình cảm để nâng cao sự hiểu biết về thân chủ nhưng không để cản trở suy nghĩ khách quan. Có những lúc nhân viên xã hội đối đầu với sự thù địch, sự giận dữ hoặc mỉa mai châm chọc của thân chủ; có thể tạo nên những cảm giác khó chịu nơi nhân viên xã hội. Nhân viên xã hội cần tránh cơn giận dữ hoặc thù địch. Sự đáp trả do giận dữ hay khó chịu như thế sẽ làm tổn hại mối quan hệ. Tuy vậy không có nghĩa là nhân viên xã hội không được có xúc cảm. Nhân viên xã hội phải là người nhiệt tình có khả năng chịu đựng các xúc cảm và không phải trường hợp nào thì xúc cảm cũng bị phủ nhận. Nhưng sự biểu lộ xúc cảm phải có ý thức hướng tới sự thông đạt có lời và không lời, đóng vai trò để sửa chữa chứ không phải là đổ thêm dầu vào lửa.
Tự ý thức là chủ yếu
Sự ý thức về cảm xúc là một khía cạnh của sự tự ý thức. Tự ý thức là điều có thể được bản ngã giúp làm cho tâm trí hướng nội. Một khi được triển khai và kiên trì sử dụng thì sự tự ý thức sẽ phát triển vững chắc, làm phong phú nhân cách. Sự tự ý thức là một bộ phận có chức năng trắc nghiệm thực tế của bản ngã. Trắc nghiệm thực tế đòi hỏi hiểu biết về hiện thực bên ngoài và thực tế bên trong, bên ngoài liên quan đến hoàn cảnh và bên trong liên quan đến các khía cạnh của nhân cách, gồm cả ưu điểm và hạn chế.
Phối hợp giữa sự tự chấp nhận và tự trọng
Những hoạt động tinh thần được biểu thị bằng các thuật ngữ phụ thuộc lẫn nhau như “tự nhận thức”, “tự chấp nhận” và “sự tự trọng”, vì chúng ảnh hưởng lên nhau. Việc thực thi cả ba cái nầy đều quan trọng trong việc định hướng cho nhân viên xã hội. Sự tự ý thức bao hàm sự tự chấp nhận mà tự chấp nhận thì tạo ra lòng tự trọng. Sự nhận biết về ưu điểm của mình hình thành nên lòng tự trọng và lòng tự trọng thì cần thiết cho nhân viên xã hội xây dựng lòng tin và hy vọng vào nhiệm vụ giúp đỡ. Tương tự, một cảm giác an toàn bên trong và lòng tin có được từ cảm giác thoải mái với chính họ, là điều kiện cần thiết cho hoạt động tinh thần để đối phó với những nét tiêu cực của nhân cách. Hiểu biết về sự lầm lạc của một người giúp cho nhân viên xã hội đánh giá công việc của mình một cách khách quan và để từng bước hoàn thiện chính mình và công việc.

Ghi nhận riêng về sự phát triển của một người
Thật là đáng giá khi nhân viên xã hội gìn giữ được một hồ sơ ghi chép về sự phát triển của chính mình thông qua việc tự nhận thức – đó là hồ sơ cá nhân. Một đoạn trích từ một hồ sơ cá nhân được ghi ra đây. Nhân viên xã hội vãng gia gia đình một thân chủ lần đầu ở trong một khu ổ chuột. Người cha mà trước đây anh ta đã có gặp thì nay không có mặt. Sau đây là những gì mà nhân viên xã hội viết :
(Trích đoạn từ nhật ký)
Khi tôi gặp họ tôi quên hết những gì phải nói và làm. Tôi im lặng cả phút đồng hồ rồi bắt đầu nói cà lăm và vấp váp. Tôi bị bối rối khi mọi người đứng nhìn chằm chặp vào tôi. Bây giờ suy nghĩ về chuyện đó, tôi thấy có những nguyên nhân sau : (1) tôi không đủ khả năng giao tiếp chính xác (2) bản chất của tôi quá ý thức về nhược điểm nầy (3) lo lắng về việc hoàn thành mối quan hệ (4) tôi háo hức bắt đầu làm việc càng sớm càng tốt. Trong khi bị bối rối, tôi không nhận ra rằng các khuynh hướng tôi bày tỏ ra thì chúng phủ định lẫn nhau. Chẳng hạn, bằng cách đấu tranh cật lực để có hiệu quả và tháo vát tôi đã làm chậm đi quá trình hình thành mối quan hệ.
Ở một vào một thời điểm nọ, tôi hoảng sợ thật sự khi có một người hàng xóm hỏi xin địa chỉ của tôi. Tôi đưa địa chỉ của mình cho anh ta hết sức máy móc. Sau đó tôi mới biết rằng anh ta xin tôi địa chỉ để nói cho chủ nhà biết để đến gặp tôi. Thất vọng và chán nản, tôi trở về cơ quan vào giữa trưa. Nhưng sau đó hồi tưởng lại chuyện đã qua cho thấy rằng sự việc nầy không hẳn là vô ích. Nó làm tôi ý thức về nhân cách của mình và việc thực hiện chức năng cần được cải thiện.
Nếu nói rằng một nhân cách đặc thù nào đó không có xung đột vô ý thức không có nghĩa là cá nhân đó có cuộc sống hết sức thoải mái. Nhưng nó có nghĩa là kinh nghiệm sống người ấy, cả tích cực lẫn tiêu cực, đã thấm sâu và được kết hợp lại trong tính cách con người ấy mà không để lại bất cứ hậu quả tác hại nào cả. Một tính cách không có xung đột cũng không phải là hoàn toàn không có những cơ chế phòng vệ. Những cơ chế phòng vệ có thể đang hoạt động nhưng ít mãnh liệt và kiên trì, vì vậy chúng được đưa đến vùng ý thức với những phương tiện thăm dò. Một đoạn trích từ một hồ sơ cá nhân khác được giới thiệu ở đây cho thấy một phong cách trong đó sự tự nhận biết về cơ chế phòng vệ của cô ta hiện lên trong tâm trí nhân viên xã hội :
Trích nhật ký
Hôm nay, Phong (thân chủ) đến gặp tôi. Trong cuộc vấn đàm anh ta trở nên khó chịu và bắt đầu lăng mạ tôi ám chỉ tôi không giúp đỡ anh ta. Anh ta đứng dậy, kéo mạnh ghế và đi ra với vẻ giận dữ. Trước khi tôi có thể nén đi những cảm xúc bị thương tổn và giận dữ thì Thiện bước vào. Anh ta bắt đầu kể cho tôi nghe những phiền toái anh gặp phải ở chỗ làm ngày hôm trước. Thay vì lắng nghe anh ta thì tôi lại buột miệng ra rằng có lẽ chính anh ta là nguyên nhân của các phiền toái ấy. Anh ta không nói về đề tài đó nữa. Anh ta nói về đứa con bị chậm phát triển trí tuệ. Anh ta nói rằng muốn xin tôi lá thư giới thiệu để xin cho đứa con vào học trường đặc biệt. Anh ta ra về ngay và nói rằng một tuần sau sẽ quay lại lấy lá thư. Sau khi Thiện đi rồi, tôi bắt đầu tự hỏi tại sao tôi lại quá lỗ mãng với anh ta. Tôi vô cùng hối hận. Tôi đã nhận ra rằng mình đã trút nỗi giận Phong lên Thiện. Đó thực ra là một cơ chế tự vệ. Một lần nữa tôi lại vụng về.
Nhân viên xã hội phải là người đáng tin cậy, có nhiệt tình và thiện chí với người khác và có ước muốn giúp đỡ những người có vấn đề khó khăn. Ở một số người, tình yêu thương con người nẩy sinh như một quá trình bẩm sinh; tuy nhiên, điều họ cần khai thác phẩm chất để giúp đỡ con người có hiệu quả với phương pháp khoa học. Mặt khác, có những người thừa nhận rằng họ không có lòng nhiệt tình bẩm sinh. Tuy thế họ coi việc giúp đỡ con người là việc quan trọng. Những người thuộc nhóm thứ hai không phải là không thích hợp đối với công tác xã hội với điều kiện là họ sẵn lòng vun xới tình thương yêu đối với con người và những phẩm chất khác có liên quan quan trọng đối với nghề công tác xã hội. Phẩm chất nghề nghiệp của nghề công tác xã hội cho thấy là những phẩm chất và kỹ thuật cần có để thực hành tốt có thể nắm bắt được, và những người có động cơ tốt nắm bắt chúng bằng con đường học hỏi và làm việc.

Cần sự tin cậy
Yêu cầu về tính trung thực có một đòi hỏi khác : đó là nhân viên xã hội tin vào các giả định và các nguyên tắc triết học. Hơn nữa, cần có một mức độ trung thực nhất định giữa cuộc sống riêng tư và cuộc sống nghề nghiệp của nhân viên xã hội, giữa điều mà họ nghĩ và điều họ nói ra và giữa truyền thông có lời và truyền thông không lời. Tuy nhiên không có ngụ ý là nhân viên xã hội phải biểu lộ cảm nghĩ ở mọi lúc mà ngụ ý nhân viên xã hội không biểu lộ những tình cảm trái với cảm xúc nội tâm để nhằm tâng bốc xu nịnh thân chủ hay mưu cầu lợi ích riêng tư.
Có ý thức trau dồi bản thân
Một người mới vào nghề công tác xã hội bắt đầu có ý thức áp dụng các kỹ thuật, dần dần chuyển thành các kỹ năng nhờ lặp đi lặp lại và làm tốt công việc. Vì vậy, kỹ năng nói tới quyền làm chủ một kỹ thuật, hay nói cách khác là nói tới trình độ năng lực cao hoặc sự khéo tay khi sử dụng một kỹ thuật.
Sự phù hợp của các ứng viên không thể nào phát hiện được ở khâu tuyển vào
Hy vọng rằng chỉ những người tuyệt nhiên không có xung đột cảm xúc được tuyển vào học ngành công tác xã hội là đòi hỏi một điều không thể có được. Hơn thế nữa, thật khó phát hiện những xung đột ẩn dấu bên trong con người lúc tuyển sinh vào học trường công tác xã hội. Chỉ trong khóa học người ta mới lộ rõ những dấu hiệu xung đột vốn che kín bấy lâu, điều đó làm cản trở việc học và thực hành công tác xã hội của cá nhân người ấy. Đó không phải là tình thế tuyệt vọng cho sinh viên cũng như cho nghề nghiệp. Tư vấn nghề nghiệp sẽ điều chỉnh lại tình thế cho đúng, nó sẽ giải tỏa năng lực tâm thần và xúc cảm khỏi phạm vi xung đột, làm cho chúng sẵn sàng để thực hành tốt công tác xã hội.
Sẵn sàng thay đổi đưa tới quyền thay đổi nơi thân chủ
Sự thay đổi là cần thiết cho tất cả, một số cần thay đổi nhiều, một số khác cần thay đổi ít. Nhân viên xã hội không có quyền lèo lái các hoạt động của mình nhằm tạo ra thay đổi nơi thân chủ khi mà thân chủ không chịu thay đổi những lĩnh vực cần thay đổi. Nhìn nhận sự kiện nầy là một yếu tố quan trọng trong việc hướng dẫn nghề nghiệp của nhân viên xã hội. Điều khiêm tốn và phấn khởi khi biết rằng nhân viên xã hội không cao hơn không giỏi hơn thân chủ của mình, và người đó phải hoàn thiện mình khi làm việc với người khác.
Định nghĩa công tác xã hội cá nhân
Công tác xã hội cá nhân là một phương pháp mà nhân viên xã hội làm việc ở các cơ sở xã hội sử dụng để giúp con người giải quyết các vấn đề khó khăn để thực hiện chức năng xã hội. Đó là một dịch vụ riêng tư với các cá nhân và gia đình của họ thông qua mối quan hệ một - một. Những vấn đề khó khăn trong việc thực hiện chức năng xã hội do các yếu tố xã hội, tâm lý, sinh lý gây ra; hoặc hai hoặc nhiều yếu tố nầy kết hợp lại. Tiến trình giúp đỡ bao gồm sự huy động các tài nguyên bên ngoài và bên trong thân chủ, nhờ đó họ được giúp đỡ để đóng vai trò tích cực trong việc giải quyết các khó khăn của mình. Nội dung kiến thức bao gồm những giá trị triết lý, các nguyên tắc, kiến thức về hành vi con người và xã hội và rút ra từ các khoa học hành vi; nhũng công cụ kỹ thuật giúp đỡ; và các tiến trình. Vấn đàm và mối quan hệ là những công cụ quan trọng bởi vì trong phạm vi bản chất và cấu trúc của chúng các khía cạnh giúp đỡ là mấu chốt, là tự nhiên. Điều nầy góp phần cho sự giúp đỡ đạt được những mục tiêu cụ thể, mà vì chúng các công cụ được nhắm vào vấn đề. Hai mục tiêu lớn của công tác xã hội cá nhân là giúp đỡ thân chủ có vấn đề, và giúp họ bằng cách tăng cường sức mạnh cho thân chủ, làm cho họ tự lực và độc lập tùy theo năng lực của mỗi người.
Tiếp thu các nguyên tắc từ các phương pháp khác của công tác xã hội
Công tác xã hội cá nhân là một phương pháp không có những chiến lược có thể ngăn ngừa những vấn đề xảy ra trên diện rộng, ảnh hưởng đến nhiều người. Trong công tác xã hội cá nhân, nhân viên xã hội đến với các nhóm người chịu thiếu thốn tài nguyên vật chất và văn hóa, sự giải quyết trực tiếp của nhân viên xã hội cho một hoặc hai người trên cơ sở cá nhân mà không giúp đỡ đến cùng được. Thiếu thốn tài nguyên cơ bản phải được đáp ứng ở cấp nhóm, cộng đồng, quốc gia. Tuy vậy không phải là nhân viên xã hội rút lui. Các chiến lược của các phương pháp công tác xã hội khác như công tác xã hội nhóm, tổ chức cộng đồng đã được vận dụng. Nhiều nhân viên xã hội chủ yếu gắn bó với các cơ sở có định hướng công tác xã hội cá nhân được coi là có sử dụng các phương pháp khác của công tác xã hội. Thay vì thực hiện chức năng người làm công tác xã hội cá nhân, họ hoạt động như những người thực hành tổng quát áp dụng tới các phương pháp được biết đến như là các phương pháp công tác xã hội tổng hợp. Mô hình công tác xã hội mà J. Fischer (1978) đưa ra trong cuốn sách của ông ta, trình bày nhiều lĩnh vực phòng ngừa khác nhau cho công tác xã hội cá nhân, giao cho nhân viên xã hội các vai trò có liên quan đến việc đưa đến những thay đổi trong các hệ thống xã hội ăn khớp với nhau mà thân chủ thuộc về hệ thống đó.

Các hạn chế của công tác xã hội cá nhân
Công tác xã hội cá nhân có những mặt hạn chế của nó. Công tác xã hội cá nhân hay ngay cả các phương pháp công tác xã hội tổng hợp cũng không thể giúp một số thân chủ có vấn đề nan giải. Lý do không phải luôn luôn thiếu vắng các tài nguyên mà còn là sự thiếu hụt về kiến thức và kỹ thuật hoặc kỹ năng ngành công tác xã hội.
Công tác xã hội cá nhân có thể được những người chăm sóc sử dụng
Ngoài những nhân viên xã hội được huấn luyện chuyên môn có nhiều công chức không chuyên nghiệp đang làm việc với những người nhận các dạng trợ giúp khác nhau từ những cơ sở xã hội. Những viên chức nầy gồm những người làm cha mẹ ở các cơ sở tập trung, người phục vụ ở các bệnh viện đặc biệt là những người phục vụ ở các bệnh viện tâm thần, những nhân viên phúc lợi cấp cộng đồng và những nhân viên phúc lợi cấp làng xã. Để dễ gọi ta đặt cho những người nầy cái tên là “những người chăm sóc”. Những người chăm sóc tham gia tiếp xúc trực tiếp với thân chủ trong công việc phục vụ ở các cơ sở xã hội. Thật đáng quý khi những người chăm sóc sử dụng phương pháp của công tác xã hội cá nhân để làm việc với thân chủ. Cách tiếp cận của công tác xã hội cá nhân nói tới thái độ đặc thù được hình thành nên do thừa nhận các giá trị triết lý của công tác xã hội cá nhân và do nằm lòng những khái niệm sơ đẳng của công tác xã hội cá nhân liên quan đến hành vi con người và các công cụ và kỹ thuật giúp đỡ. Chấp nhận thân chủ với các điểm yếu và vấn đề của họ, có khả năng thực hiện những cuộc tiếp xúc không mang tính cứng nhắc mà với phong cách cá nhân hóa cùng với sự nhạy cảm và hiểu biết. Ngay cả với cảnh sát và những người khác khi được gọi đến hiện trường tai nạn hay những cuộc khủng hoảng khác sẽ được trang bị tốt hơn để làm việc với những người bị stress nhờ phương pháp công tác xã hội cá nhân. Để giúp cho những người chăm sóc tiếp thu phương pháp công tác xã hội cá nhân cần phải có các chương trình huấn luyện. Họ không cần kiến thức sâu về các lý thuyết công tác xã hội cá nhân, các công cụ và kỹ thuật. Chẳng hạn, họ không cần phải học các kỹ thuật tư vấn mà chỉ những kiến thức về kỹ thuật hỗ trợ sẽ có ích cho họ trong công việc hằng ngày với mọi người.
GRACE MATHEW(Trích từ quyển Nhập môn CTXH cá nhân)

20 tháng 6, 2008

Nhân viên xã hội chuyên nghiệp



BạN Tự NÂNG Đỡ MÌNH VÀ NÂNG Đỡ ĐồNG NGHIệP


BạN Tự NÂNG Đỡ MÌNH VÀ NÂNG Đỡ ĐồNG NGHIệP

Khi hoạt động công tác xã hội, ta khó tìm được thì giờ để nghĩ đến việc tự nâng đỡ mình và nâng đỡ các bạn đồng nghiệp. Nhưng vấn đề lâu dài, những ai được nâng đỡ về mặt tinh thần sẽ hoạt động hữu hiệu hơn, khó rơi vào tình trạng cạn kiệt tâm lý, “hết nhiên liệu”.
CẠN KIỆT
Người “cạn kiệt” là người mất hứng thú trong công việc làm lụng chiếu lệ chứ không suy nghĩ hoặc hoạch định, không còn năng lực để đáp ứng những cơn khủng hoảng hoặc đáp ứng người khác, cảm thấy suy sụp tinh thần và chán chường. Thường có kèm theo những rối loạn sinh lý khiến người ấy không làm việc được nữa.
Tình trạng cạn kiệt xảy ra khi con người sống dưới sự căng thẳng (stress), gánh vác những trách nhiệm nặng nề không có đủ thì giờ để thư giãn và giải trí. Người bị cạn kiệt khó có thể đáp ứng một cách thông cảm với người khác.
Có thể làm gì để tránh bị cạn kiệt ?
Thái độ tinh thần ?
Nên tự nhủ rằng mình không thể làm tất cả mọi chuyện hoặc không giải quyết tất cả mọi vấn đề. Đôi khi có thể tìm được người gánh vác đỡ một ít trách nhiệm hoặc chia sẻ công việc với bạn tuy rằng bạn có thể cảm thấy áy náy vì muốn liên tục chăm lo cho trẻ.
Nghỉ ngơi và thư giãn
Khi có quá nhiều đau khổ trong cộng đồng, ta có thể cảm thấy áy náy khi dành thời giờ để nghỉ ngơi tuy biết rằng nghỉ ngơi sẽ giúp ta làm việc hiệu quả hơn. Rất cần có những thời gian giải lao đều đặn.
Rất hữu ích nếu có sự linh động về thời gian nghỉ việc, ví dụ có thể ngừng làm việc vào một vài ngày không nhất định để lo việc riêng hoặc để nghỉ ngơi.
Luân phiên thay đổi trách nhiệm và công tác
Tình trạng cạn kiệt khó xảy ra hơn nếu ta có thể luân phiên thay đổi trách nhiệm và công tác cho mọi cá nhân.
Nâng đỡ và chăm sóc
Những cuộc họp hội đồng nhân viên khiến cho sự căng thẳng không thể chồng chất lên được: mọi người có dịp đào sâu vào các vấn đề và nâng đỡ nhau về mặt tinh thần và xã hội. Người nào bất mãn gay gắt với cách tổ chức công việc thì càng dể bị cạn kiệt sức lực vì công việc.
Chăm sóc cho cá nhân hoặc chăm sóc cho các nhóm một cách đều đặn là việc rất cần thiết đối với những người làm việc trong những hoàn cảnh khó khăn. Ví dụ, 3 nhân viên không được huấn luyện làm nhiệm vụ chăm sóc một nhóm trẻ em khuyết tật - hàng tháng các nhân viên này được một y sĩ săn sóc sức khỏe và điều này khiến cho họ có thể tiếp tục làm việc rất hiệu quả.
Nâng cao tay nghề.
Việc huấn luyện cho các nhân viên giúp họ cảm thấy mình được trân trọng chứ không chôn chân mãi ở lối mòn buồn tẻ. Công tác huấn luyện phải vừa vui tươi vừa hữu ích !
Trích quyển Trao đổi với trẻ, trợ giúp trẻ bị khổ tâm
Naomi Richman

9 tháng 5, 2008

CHÂN DUNG CỦA MỘT SỐ NHÂN VIÊN XÃ HỘI CHUYÊN NGHIỆP



CHÂN DUNG CỦA MỘT SỐ NHÂN VIÊN XÃ HỘI CHUYÊN NGHIỆP
Đây là kết quả cuộc khảo sát nhỏ về 30 nhân viên xã hội chuyên nghiệp được đào tạo trong nước và nước ngoài. Họ nghĩ về họ như thế nào? Họ mong muốn gì về ngành công tác xã hội trong tương lai? Những khó khăn mà họ gặp phải khi thực hành CTXH?

1. LÝ DO CHỌN NGÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI
Có 11 người (52%) đã chọn ngành này vì yêu thích làm việc với người nghèo, muốn phục vụ con người, vì chứng kiến cảnh nghèo và muốn làm gì đó. Hai người nói là do bạn rủ rê đi học, hai người khác là do cơ quan phân công. Số còn lại thì cho là do:
• Thích những giá trị của công tác xã hội.
• Công tác xã hội phù hợp với công việc đang làm lúc đó (lúc chưa học) như là giáo viên dạy học sinh nghèo vùng xa, cán bộ Đoàn Thanh niên.
• Muốn trở thành nhân viên xã hội vì ngành này giúp cho chính mình và cho người khác.
• Muốn công bằng xã hội, mọi người có cơ hội để phát triển.

2. NHÂN VIÊN XÃ HỘI TỰ MÔ TẢ VỀ MÌNH

Khi định nghĩa nhân viên xã hội chuyên nghiệp là gì, đa số họ cho rằng nhân viên xã hội chuyên nghiệp là người có trình độ kiến thức chuyên môn vững vàng về phát triển xã hội và có kỹ năng chuyên nghiệp (13 ý kiến). Những ý kiến khác nhấn mạnh các điểm như sau:
a. Là người có tấm lòng và công việc đạt hiệu quả cao.
b. Là người thực thi đạo đức chuyên nghiệp trong đời sống, công tác và có quan điểm phát triển lấy con người làm trọng tâm.
c. Là tác nhân thay đổi về nhận thức và hành vi.
d. Là người vận động sự tham gia của mọi người.
e. Là người có tầm nhìn xa, sáng tạo, biết tôn trọng, thấu cảm, biết làm việc với nhóm và có thái độ cởi mở.
f. Là người có nhân cách tốt, có vai trò mang lại cơ hội phát triển cho cá nhân, nhóm và cộng đồng.
g. Là người chăm lo cho người nghèo, thiệt thòi bằng những phương cách chuyên môn khoa học.
h. Có thể là người làm mọi việc, mọi lãnh vực, lúc nào cũng tất bật, có khi “đứng 2-3 chân”, ăn mặc không diện, không mốt.
i. Là người giản dị, hài hòa trong cuộc sống, quan tâm đến các vấn đề xã hội, giúp thân chủ vượt qua khó khăn, hòa nhập cuộc sống.
j. Là người nhiệt tình, dấn thân, cầu tiến, tu rèn đạo đức.
k. Là người ý thức về mình, hòa đồng với môi trường xung quanh, vì lợi ích xã hội.
l. Là người đề xuất các chính sách xã hội, người thực hiện chính sách, cung cấp dịch vụ xã hội.
m. Là người luôn sẵn sàng, có tâm huyết.
n. Là người hòa giải, kết nối, gan dạ, tiên phong và bị xã hội xem là “mát”.
o. Là người hiểu rõ tính chất liên ngành trong phát triển, có thái độ tác phong phù hợp.
p. Là người góp phần xây dựng nền an sinh xã hội, xóa bỏ bất công.

3. VAI TRÒ QUAN TRỌNG NHẤT CỦA NHÂN VIÊN XÃ HỘI HIỆN NAY

Nói đến vai trò quan trọng nhất của nhân viên xã hội trong bối cảnh hiện nay, có 9 ý kiến nêu vai trò xúc tác viên để gây ý thức, thu hút sự quan tâm của xã hội, tác động ở 3 cấp (cá nhân, cộng đồng, xã hội) vì nhận thức của xã hội về ngành chưa đúng, còn lệch lạc và vai trò đào tạo vì bối cảnh hiện nay là sự khởi đầu thay đổi và nhu cầu phát triển đội ngũ nhân viên xã hội. 3 ý kiến khác chú trọng đến vai trò chứng minh và khẳng định nghề nghiệp để được công nhận. Các ý kiến còn lại nêu các vai trò :
a. Tham gia xây dựng chính sách xã hội, giảm tệ nạn xã hội và chấn hưng đạo đức xã hội.
b. Xóa khoảng cách giàu - nghèo, tạo cơ hội cho người nghèo.
c. Tham mưu, cải tiến tổ chức và chính sách.
d. Nối kết nhu cầu với tài nguyên sẵn có trong cộng đồng.
e. Ngoài ra, có một ý kiến cho rằng vì ngành công tác xã hội chuyên nghiệp mới bắt đầu nên chưa có vai trò nào quan trọng cả.

Khi được hỏi họ có thỏa mãn vai trò của mình hiện nay không thì có 15 người (74%) thỏa mãn, 01 người tạm thời hài lòng và 05 người (23,8%) không hài lòng. Các lý do hài lòng về vai trò của mình là: phù hợp với công việc, môi trường làm việc thích hợp, làm đúng chuyên môn, công việc hiệu quả, đáp ứng được nhu cầu của xã hội, có điều kiện phát huy các tiềm năng trong các lãnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, làm được cái mình mong muốn.

Những người không hài lòng cho rằng còn nhiều khó khăn khi thực hành công tác xã hội, trình độ, năng lực chưa đáp ứng so với yêu cầu của tình hình xã hội ngày càng phát triển và nhiều vấn đề xã hội phát sinh, môi trường hoạt động còn gò bó, chưa có nghiệp đoàn và công tác xã hội chưa được công nhận như là một nghề chuyên môn.

4. ĐIỀU KIỆN LÀM VIỆC HIỆN NAY CỦA NHÂN VIÊN XÃ HỘI

Tất cả 21 nhân viên xã hội (100%) đều khẳng định là hiện nay các điều kiện làm việc đáp ứng được cho việc thực hành công tác xã hội chuyên nghiệp. Các lý do được nêu ra: các nhân viên xã hội có cơ hội tiếp xúc với nhiều thành phần xã hội, thực hành đúng chuyên môn của mình, được lãnh đạo tạo điều kiện, tự sắp xếp và quyết định trong công việc và làm việc có hiệu quả, đưa được quan điểm con người vào tiến trình quyết định. Hơn nữa, có người cảm thấy thích thú khi thực tế thực hành giúp họ tự bổ sung kiến thức đã học được ở trường, xã hội có nhu cầu rất lớn tạo điều kiện cho việc thực hành công tác xã hội, nhất là trong lãnh vực đào tạo, nghiên cứu, tư vấn cho các dự án phát triển cộng đồng.

4.1. Trong điều kiện làm việc hiện nay, phần lớn nhân viên xã hội thể hiện mối quan tâm của mình về vấn đề đào tạo, đội ngũ giáo viên có chuyên môn cao, có uy tín trong xã hội, về tư cách pháp nhân, về sự hình thành nghiệp đoàn công tác xã hội. Các quan tâm khác là:
a. Tình trạng thiếu nhân viên xã hội chuyên nghiệp tại các tổ chức xã hội, vì thế hiện nay có một số tổ chức xã hội hoạt động mang tính hình thức hơn là tính chuyên môn.
b. Tình trạng mạnh ai nấy làm.
c. Nhân viên xã hội chưa đủ thế để làm việc, chưa có cơ quan chức năng giám sát nhân viên xã hội nên có người lạm dụng ngành công tác xã hội.
d. Nhân viên xã hội dễ bị hiểu lầm khi họ tiếp xúc với các thân chủ của mình.
e. Xã hội hiểu không đúng về người làm công tác xã hội (theo nghĩa từ thiện nhiều hơn) và ai cũng tưởng mình là người làm công tác xã hội.
f. Thái độ, tác phong của nhân viên xã hội phải đồng hành bên cạnh các ngành khác, cùng thúc đẩy sự phát triển chứ không phải là sự độc tôn do mình có chuyên môn.
g. Tính bền vững của ngành công tác xã hội.
h. Vấn đề gây ý thức cho mọi người, nhất là giới trẻ.
i. Người nghèo thiếu hiểu biết nên chưa được hưởng hết các phúc lợi của nhà nước.
4.2. Trong điều kiện làm việc hiện nay của nhân viên xã hội, nhiều người cảm thấy hài lòng vì đã giúp người khác thay đổi nhận thức và hành vi do sự tác động của họ, cải thiện được cuộc sống của một bộ phận người nghèo, thấy được sự thay đổi từng bước của thân chủ và cộng đồng, người nghèo được quan tâm và có nhiều cơ hội tham gia nhiều hơn vào tiến trình giải quyết các vấn đề của chính họ. Họ đã tạo được mối quan hệ tốt với các bên đối tác, một số địa phương đã công nhận tính hiệu quả của phương pháp phát triển cộng đồng, là phương cách tốt nhất trong xóa đói giảm nghèo. Một số nhân viên xã hội khác nhấn mạnh đến việc mình được quý mến, được trân trọng từ người mình phục vụ, giá trị của công tác xã hội đã mang lại lợi ích về sự thay đổi tích cực của bản thân đồng thời cho cả hai phía nhân viên xã hội và thân chủ, về sự hiểu biết con người và cơ cấu xã hội với các mối tương tác của nó.

Có 14 nhân viên xã hội cảm thấy có nhiều thuận lợi khi hợp tác với các ngành khác, lý do đưa ra là khi các ngành ấy có cùng mục tiêu, cùng lãnh vực hoạt động và cùng mối quan tâm, có sự tham gia hợp tác của các đoàn thể địa phương, các ngành khác ngày càng hiểu về công tác xã hội chuyên nghiệp và có nhu cầu tuyển dụng nhân viên xã hội. Hơn nữa, sự thuận lợi trong thực hành công tác xã hội cũng như trong hợp tác cũng nhờ vào tính khiêm tốn, ý thức về mình, tính tôn trọng và chấp nhận của nhân viên xã hội.

4.3. Tuy nhiên, cũng còn nhiều điều mà họ chưa hài lòng, thậm chí bực mình vì trong tập thể nhân viên xã hội chuyên nghiệp vẫn còn người quá máy móc, cứng ngắt, gây ảnh hưởng hoặc làm người khác ngộ nhận về ngành, làm việc chung với đồng nghiệp thì hay bị chê, nhân viên xã hội “lắm chuyện”, có người thiếu phẩm chất đạo đức. Có ý kiến cho rằng lúc học ở trường thì lý tưởng rất đẹp, nhưng khi ra thực hành, làm việc thì gặp nhiều trở ngại nơi chính đồng nghiệp của mình, cũng có ý kiến tự đánh giá về mình là chưa đủ kiến thức khi tiếp cận với thân chủ.

Trong môi trường làm việc, có nhân viên xã hội buộc phải đội nhiều “mũ“ khác nhau vì ngành chưa được công nhận, có lúc bị hiểu lầm là người phát chẩn, thân chủ trông chờ để rồi vỡ mộng. Quan điểm, cách nhìn của một số lãnh đạo địa phương và một số ngành có khác với quan điểm và giá trị của ngành công tác xã hội, vấn đề này thường dẫn đến sự chậm trễ và trục trặc ở một số dự án phát triển (ví dụ như nam giới lãnh đạo còn xem thường phụ nữ). Có nơi còn e dè, nghi ngờ, thiếu linh hoạt, chưa chấp nhận phương thức tham gia (có thể do nhân viên xã hội tác động chưa tốt), sự phối hợp với các ban ngành, đoàn thể địa phương còn nhiều khó khăn, nhân viên xã hội bị đòi hỏi quá nhiều gây thiệt thòi cho người dân nghèo. Có ý kiến cho rằng phần lớn các hoạt động công tác xã hội chuyên nghiệp còn tùy thuộc nhiều vào các dự án đối tác với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài. Cuối cùng có ý kiến không hài lòng là hiện nay công tác đào tạo còn chú trọng nhiều vào số lượng.

Những khó khăn lớn nhất mà các nhân viên xã hội gặp phải là ngành công tác xã hội chưa có tiếng nói chính thức, quan điểm còn bất đồng khi tiếp cận một số lãnh đạo địa phương, cán bộ cơ sở chưa nhiệt tình hợp tác, cơ chế tổ chức và quản lý nhà nước còn nặng nề, thiếu linh hoạt, thay đổi chậm, cơ cấu nhân sự thiếu ổn định. Một khó khăn có ảnh hưởng không ít là lương nhân viên xã hội còn rất thấp và họ không đủ sống so với công sức bỏ ra.

Thông thường, để khắc phục những khó khăn nêu trên, các nhân viên xã hội phải kiên trì thương lượng, phát huy các kỹ năng thuyết phục, phải làm việc trên nhiều cấp độ, ở nhiều mô hình nhằm để chứng minh bằng hiệu quả công việc, vận động, tổ chức nhiều khóa tập huấn, giải thích, tác động đến giới lãnh đạo.

Trong một môi trường làm việc như thế, trong số 21 nhân viên xã hội được thăm dò ý kiến, chỉ có 03 người là không bị “stress” do áp lực của công việc quá tải, do nôn nóng hoàn thành công việc hoặc do các mâu thuẫn nảy sinh, phải suy nghĩ rất nhiều. Những người bị “stress” cũng do nghe nhiều, bị đeo đẳng những tâm tư về thân phận con người, cảm thấy bất lực, bị người khác nghĩ sai về mình, do chưa biết sắp xếp công việc một cách khoa học.

Tự xét về thân phận của mình, có 10 nhân viên xã hội (47,6%) tự cảm thấy cô đơn trong công việc vì theo họ là chưa có nhiều đồng nghiệp giỏi, làm nhiều nhưng không thấy thay đổi nhiều, có ngành khác không cần người chuyên môn về công tác xã hội, ít người hiểu về mình, nhất là người thân trong gia đình, không có đồng nghiệp để tâm sự khi gặp khó khăn, thiếu chia sẻ thông tin trong đội ngũ nhân viên xã hội. Trong khi đó có 11 nhân viên xã hội (52,4%) không tự cảm thấy cô đơn vì quanh mình có những đồng nghiệp tốt, dễ thương, được chia sẻ kinh nghiệm, có cộng đồng bên cạnh và nhất là vợ chồng cùng quan tâm.

4.4. Tuy nhiên, có điểm lạc quan ghi nhận được qua kết quả thăm dò này là 100% nhân viên xã hội cho biết họ vẫn tuân thủ được các nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp dù làm việc trong môi trường có nhiều mâu thuẫn về giá trị ở các cấp độ khác nhau trong quan hệ công tác. Lý do họ đưa ra là:
- Do trách nhiệm, tự giác, cố gắng rèn luyện, ý thức về mình, làm việc với tinh thần con người đến với con người, thành thói quen, do là mục tiêu phấn đấu của mình hoặc phù hợp với các nguyên tắc sống của bản thân.
- Do tuân thủ vì lợi ích của thân chủ.
- Do làm việc với đồng nghiệp có nhiều kinh nghiệm.
Tuy nhiên, mặt giới hạn của việc tuân thủ này có thể có khi nhân viên xã hội bị áp lực về thời gian trong các giai đoạn thực thi kế hoạch.

100% nhân viên xã hội được thăm dò đều khẳng định mình vẫn thích thú trong công việc vì yêu nghề, có ích cho xã hội, làm chỗ dựa, mang lại niềm tin cho người dân nghèo, có niềm vui là được làm việc, thậm chí làm những việc xưa nay chưa từng làm. Đối với họ, thực hành công tác xã hội là những dịp họ nhìn lại chính họ, họ cảm thấy “hạnh phúc trong tầm tay”, học hỏi được nhiều kinh nghiệm sống.

Đánh giá về mối quan hệ giữa các nhân viên xã hội với nhau, có nhiều ý kiến phân tán : 07 người (33%) cho là tốt vì có sự gắn bó và hỗ trợ cho nhau qua nhóm nhỏ, hiểu nhau, vì được đào tạo cùng trường, suy nghĩ giống nhau. 11 người (52,4%) cho là bình thường vì chưa có chiến lược giao lưu, trao đổi. Theo những người này thì nhân viên xã hội cũng là con người, đôi lúc cũng sống theo phe nhóm, ít có dịp gần gũi, ít khen nhau, ai cũng cho mình đúng, đố kỵ nhau giữa dự án này với dự án khác. 04 người (19%) cho rằng nó có thể tốt và không tốt, lý do không tốt được nêu là thiếu một đầu mối để tập hợp, quan hệ với nhau chưa hài hòa, thiếu liên kết, còn ganh tỵ tranh đua quyền lực. Cuối cùng có một nhân viên xã hội khẳng định mối quan hệ giữa các nhân viên xã hội với nhau không tốt, nhưng không đưa ra lý do.

5. CÁC NHÂN VIÊN XÃ HỘI TỰ ĐÁNH GIÁ VỀ MÌNH QUA PHẢN HỒI CỦA CÁC ĐỐI TƯỢNG THỤ HƯỞNG VÀ CÁC NGÀNH HOẠT ĐỘNG KHÁC

5.1. Theo các nhân viên xã hội, các đối tượng thụ hưởng nói họ dễ gần, như là người bạn, có hiểu biết, cởi mở, thân thiện, biết quan tâm đến những khó khăn và sự phát triển của họ và họ cảm thấy an tâm, thích trò chuyện khi tiếp xúc với các nhân viên xã hội. Các nhân viên xã hội còn được cho là nhạy bén, sáng tạo, biết tranh thủ sự ủng hộ của mọi người, người giúp người khác mở ra những cách nhìn khác nhau và đem lại cho họ những nhận biết rất thiết thực. Ở những cộng đồng nghèo vùng sâu và xa, người dân có khi xem nhân viên xã hội là thần tượng.

5.2. Riêng về cách nhìn của các ngành hoạt động khác về nhân viên xã hội, có 11 nhân viên xã hội (52,4%) cho biết là họ được đánh giá là rất tốt: vì họ làm được những gì mà người khác không làm được (ví dụ như giáo dục trẻ em đường phố) vì thế mà có ý kiến cho rằng các nhân viên xã hội là những người “ kỳ quặc”, có thể hoạt động ở nhiều lãnh vực khác nhau, người biết phát huy khả năng của người khác, nhiệt tình trong công việc, không kể giờ giấc, có đạo đức tốt, có kỹ năng giao tiếp và có tinh thần hợp tác. 8 nhân viên xã hội khác chỉ cho rằng được đánh ở mức độ tốt thôi vì là người làm việc có kế hoạch, có tấm lòng vì con người, có óc tổ chức, linh hoạt, biết huấn luyện theo phương pháp có sự tham gia. Ngoài ra có 2 nhân viên xã hội chưa thấy rõ mình được đánh giá như thế nào bởi thân chủ và các ngành khác.

5.3. Khi đặt câu hỏi họ có hãnh diện là nhân viên xã hội không thì đa số (19 người) nhân viên xã hội nhận thấy mình hãnh diện vì là nhân viên xã hội với các lý do: góp phần mang lại niềm vui và hạnh phúc cho người khác, góp phần cho sự phát triển đất nước, làm được những gì xã hội cần, vì là một nghề hữu dụng như bao nghề khác, vì khi người khác hiểu rõ nhân viên xã hội là người như thế nào thì họ rất kính nể và khâm phục, vì đạt được ước vọng từ nhỏ, vì chờ đợi sự tái hình thành của ngành hơn 10 năm qua và càng làm thì lại càng tin vào con người hơn. Chỉ có một người cho đó là một công việc bình thường để kiếm cơm thôi. Một người còn lại thì lưỡng lự không có ý kiến vì cho rằng mọi người chưa biết đến công tác xã hội là gì.

6. TÁC ĐỘNG HỖ TƯƠNG GIỮA CON NGƯỜI NHÂN VIÊN XÃ HỘI VÀ MÔI
TRƯỜNG LÀM VIỆC

6.1. Khi thực hành chuyên môn và qua tương tác với môi trường xung quanh, nhân viên xã hội có hoặc không có sự thay đổi nào đó về con người của mình. Có 19 nhân viên xã hội (90%) tự nhận thấy có những thay đổi như: vững vàng hơn, ít nghỉ đến mình hơn để làm gương trước thân chủ, mong muốn nâng cao năng lực, vui vẻ hơn, bớt thực dụng, thắm nhuần hơn triết lý và các nguyên tắc công tác xã hội, càng xác tín về việc mọi người đều có khả năng vươn lên nếu họ tiếp cận được cơ hội. Họ nhận thấy họ có cái nhìn tích cực về người khác hơn, luôn nhìn về mình, hiểu nhiều hơn về các quan điểm của giới trẻ. Có người thay đổi nhận thức là trước đây ít quan tâm đến sự cần thiết có nhân viên xã hội ở cấp vĩ mô, có người thấy mình sống thiết thực hơn, hoàn thiện hơn, linh hoạt hơn và sáng tạo hơn. Tuy nhiên, có 02 người cảm thấy con người mình vẫn thế, chẳng có sự thay đổi nào cả.

6.2. Về việc tác động của nhân viên xã hội vào môi trường công tác của mình, có 17 nhân viên xã hội (81%) cho rằng đã tạo được nhiều thay đổi: thân chủ đã chứng minh ý thức tích cực của họ, lãnh đạo cơ quan có quan tâm hơn, có cái nhìn cởi mở hơn về nhân viên xã hội, người giàu đến giúp đỡ người nghèo nhiều hơn, địa phương có thay đổi thái độ khi tiếp xúc với dân, có trách nhiệm hơn đối với công việc. Nói chung, theo họ, môi trường làm việc có “công tác xã hội” hơn. Số nhân viên xã hội còn lại (04 người) không có ý kiến.

6.3. Trong vấn đề cập nhật hóa kiến thức chuyên môn, có 15 nhân viên xã hội (72%) đã có sự cố gắng thường xuyên bằng cách đọc sách báo, tư liệu, vào mạng internet, dự tập huấn ngắn hạn trong và ngoài nước, trao đổi với bạn bè, nghiên cứu, dịch sách, và đi thực tế ở các dự án. Có 5 người (23%) chỉ thỉnh thoảng dự hội thảo, tập huấn, đọc lại các giáo trình cũ, so lại lý thuyết với thực hành. Riêng người còn lại không có ý kiến.

7. MONG MUỐN CỦA NHÂN VIÊN XÃ HỘI TRONG TƯƠNG LAI

7.1. Về tương lai gần, 100% nhân viên xã hội đều mong muốn ngành công tác xã hội được công nhận chính thức và Đoàn hay Hội chuyên nghiệp công tác xã hội được hình thành. Họ mong muốn luôn được cập nhật hóa kiến thức, nắm vững thực trạng xã hội để có những đóng góp thực tế cho xã hội tốt hơn.

7.2. Về tương lai xa, có 15 nhân viên xã hội (72%) mong muốn ngành công tác xã hội được phát triển mạnh hơn về chất và lượng, nhân viên xã hội được tham gia vào các ngành, tham gia hoạch định chính sách, xã hội ý thức rõ về vai trò của họ. Họ cũng mong muốn tính chuyên nghiệp của công tác xã hội tại Việt Nam có cách đi riêng theo định hướng xã hội chủ nghĩa, có nét đặc thù riêng đóng góp cho phát triển xã hội Việt Nam và thế giới, tham gia nghiệp đoàn công tác xã hội thế giới, sẽ có đào tạo và đào tạo lại qui mô hơn, và đào tạo ở cấp bậc cao học.