Hiển thị các bài đăng có nhãn Vấn đề xã hội. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Vấn đề xã hội. Hiển thị tất cả bài đăng

8 tháng 4, 2009

Cai nghiện phải bằng liệu pháp tâm lý

Cai nghiện phải bằng liệu pháp tâm lý
TT - Đợt trở về gần đây của nhiều ngàn học viên từ trường trại lại gây một áp lực mới cho địa bàn dân cư với sự gia tăng của những trường hợp tái nghiện ma túy và nguy cơ tội phạm. Một dự thảo văn bản bổ sung Luật phòng chống ma túy (dự thảo 2-2-2009) mới được phổ biến để tham khảo ý kiến các giới và điểm mới trong văn bản này là mở lại trung tâm cai nghiện...
Điều này có nghĩa từ trung tâm về cộng đồng và từ cộng đồng lại trở về trung tâm!

Ở nhiều nước, trước khi nhận methadone người nghiện được tư vấn tâm lý. Trong ảnh: người nghiện ma túy được điều trị thay thế bằng methadone tại khoa tham vấn hỗ trợ cộng đồng, Trung tâm Y tế dự phòng Q.Bình Thạnh, TP.HCM - Ảnh: L.TH.H.
Chuyện tái nghiện khi về cộng đồng không có gì lạ vì chưa chắc các em đã thật sự được “cai” mà chỉ được “cách ly” đối với ma túy mà thôi. Đối với trẻ rơi vào ma túy do nguyên nhân hời hợt như tò mò hay bị bạn rủ rê, sự cách ly có thể mang lại hiệu quả. Nhưng đối với trẻ rơi vào ma túy do những nguyên nhân sâu xa và phức tạp hơn (như mâu thuẫn trong gia đình, thất bại hay thất vọng trong cuộc sống, tự ti mặc cảm hay một tổn thương nào đó về nhân cách) thì sự cách ly thường không có hiệu quả vì nguyên nhân vẫn còn đó.
Thực tế cho thấy trong quá trình ở trường trại các em chưa được tư vấn và trị liệu tâm lý đầy đủ để có thể xóa bỏ nguyên nhân kể trên. Học chữ, học chính trị, học nghề, lao động... rất tốt, nhưng không thể thay thế liệu pháp tâm lý. Và đây là một biện pháp khoa học phải học mới làm được. Từng cá nhân người nghiện cần được tiếp xúc và hỗ trợ để nhìn lại mình, nhận ra vấn đề của mình và huy động nội lực để giải quyết nó. Quá trình trị liệu này thường đòi hỏi thời gian.
Trường trại chưa có nhà tâm lý giống như bệnh viện không có bác sĩ (mà chữa bệnh tâm lý khó hơn bệnh thể xác!). Những cán bộ trường trại, những cán sự “xã hội” làm việc với người nghiện ở cộng đồng giống như chiến sĩ ra trận mà không được trang bị vũ khí là kiến thức và kỹ năng chuyên môn. Thế nhưng, trong dự thảo văn bản 12 trang nói trên, tôi thấy cụm từ “hỗ trợ tâm lý xã hội” chỉ xuất hiện một lần duy nhất và cũng không thấy giải thích gì về nó.
Từ trường trại về nơi cư trú, nếu được đón tiếp bởi những cha mẹ lo âu, mặc cảm, hàng xóm kỳ thị, cơ sở sản xuất không nhận vào làm việc và nhất là cảm giác bị “dè chừng”, “theo dõi” bởi cán bộ địa phương thì lối thoát tâm lý duy nhất của người nghiện là cầu cứu “nàng tiên nâu” để trốn thực tế.

Tại sao những nước tiên tiến không cải tạo tập trung? Tôi từng được đưa đi một vòng thành phố Brussel, Bỉ. Người hướng dẫn cho biết ở đây chỉ bắt người nghiện khi họ phạm các tội khác. Người nghiện bình thường thì khuyên họ thay thế bằng methadone. Nhưng quan trọng không chỉ là viên thuốc mà bệnh nhân chỉ được nhận thuốc sau khi nói chuyện với nhà tâm lý. Cuộc tiếp xúc ngày này qua ngày nọ giúp bệnh nhân thay đổi từ từ với những quyết tâm hành động tích cực để trở về với cuộc sống bình thường.
Thời nay, ở bất cứ xã hội nào các dịch vụ tâm lý xã hội cũng phải được thể chế hóa vì sự bùng nổ các vấn đề xã hội không những gây tốn kém lớn về kinh tế mà còn gây tổn thương lớn cho con người. Và những “vết thương xã hội” sẽ rất khó chữa lành. Chính vì sự thiếu vắng nghiêm trọng của công tác tâm lý xã hội mà tội phạm ngày càng tăng và trẻ hóa, với những hình thức bạo lực chưa từng thấy đang gây hoang mang trong lòng dân.
Dưới sự tác động của các tổ chức quốc tế, chúng ta khai sinh được ngành công tác xã hội năm 2004 với một mã ngành. Ngay sau đó có quyết định xúc tiến mã nghề để người làm việc trong lĩnh vực này có quy chế lao động bên cạnh y bác sĩ, giáo viên... Tuy nhiên, quy chế này đến nay cũng chưa có và chất lượng đào tạo của ngành công tác xã hội còn yếu kém do không có thầy được đào tạo bài bản.
NGUYỄN THỊ OANH
(Báo Tuổi Trẻ ngày 08/04/2009)

16 tháng 11, 2008

Thuyết cửa sổ vỡ



Thuyết cửa sổ vỡ

Giải thích những thay đổi tích cực này, cảnh sát New York hẳn sẽ nói rằng đó là do chính sách của thành phố được cải thiện đáng kể. Những nhà phạm tội học thì quy cho sự thuyên giảm của các hoạt động buôn bán ma túy và tình trạng già đi của dân số. Còn các nhà kinh tế học lại khẳng định rằng đó chính là nhờ những cải cách từng bước của nền kinh tế thành phố trong suốt thập niên 1990.

Ba luận điểm trên là những lời giải thích phổ biến đối với sự tăng giảm của các vấn đề xã hội. Thế nhưng, chúng không giải thích được lý do tại sao tội phạm ở thành phố New York lại giảm nhanh và mạnh hơn bất kỳ nơi nào khác trên lãnh thổ nước Mỹ và tại sao nó lại chỉ diễn ra trong khoảng thời gian ngắn đến vậy. Malcolm Gladwell đặt vấn đề: “Nói cho cùng, tội phạm ở thành phố New York không giảm từ từ vì nguyên nhân điều kiện sống của người dân được cải thiện từng bước. Nó giảm rất mạnh. Làm sao sự thay đổi của một nhóm chỉ số kinh tế và xã hội lại có thể khiến tỉ lệ tội phạm giết người giảm xuống 2/3 chỉ trong năm năm? Vậy rõ ràng còn có một nhân tố khác nữa đã tham gia đẩy lùi nạn dịch này”.

“Nhân tố khác” ấy, được đặt tên là “Thuyết cửa sổ vỡ”. Lý thuyết này do hai nhà tội phạm học James Q. Willson và George Kelling đưa ra. Hai ông cho rằng tội phạm là hệ quả tất yếu của sự mất trật tự, vô tổ chức. Nếu một chiếc cửa sổ bị phá hỏng, vỡ vụn mà cứ để vậy không sửa chữa thì những người đi ngang qua sẽ kết luận rằng không ai quan tâm và không ai chịu trách nhiệm trước hiện trạng này. Rồi không lâu sau, nhiều cánh cửa sổ khác sẽ bị đập vỡ, dần dà ý thức về sự vô chủ, hỗn loạn sẽ lan rộng, truyền tải đi dấu hiệu về những gì đang diễn ra. Cũng theo hai ông, trong một thành phố, những vấn đề tương đối nhỏ như sơn vẽ lên tường, gây mất trật tự công cộng và kiểu ăn xin “đểu” đều là những chuyện tương tự như những cánh cửa sổ vỡ, những “tấm vé qua cửa” cho ngày càng nhiều tội ác nghiêm trọng.

Malcolm Gladwell trong The tipping point đã viết: “Đừng nên xem nhẹ những chuyện nhỏ. Chúng có thể tạo nên những biến đổi to lớn”.

Nếu có thể tạo nên những thay đổi cho một thành phố thì “những chuyện nhỏ bé” cũng có thể tạo nên những thay đổi cho một đất nước.

Cuộc sống được tạo thành từ “những chuyện nhỏ bé”. Sự lớn lao sẽ diễn ra nếu ta biết làm những việc nhỏ với một suy nghĩ lớn.

Với cuốn sách The tipping point, năm 2005 Malcolm Gladwell đã được tạp chí Time bình chọn là một trong 100 nhân vật có ảnh hưởng nhất trên thế giới. Và cuốn sách của ông đã làm thay đổi cách tư duy của rất nhiều người trên thế giới.
PV
(Trích trong Tuổi Trẻ CN ngày 9/11/2008)

6 tháng 8, 2008

Những nỗ lực to lớn để dự phòng HIV đã gia tăng và tạo nên kết quả khả quan nhưng vẫn chưa đủ để đảo ngược tình hình dịch


Những nỗ lực to lớn để dự phòng HIV đã gia tăng và tạo nên kết quả khả quan nhưng vẫn chưa đủ để đảo ngược tình hình dịch
Số ca nhiễm mới và số người tử vong liên quan đến AIDS giảm nhưng dịch AIDS vẫn chưa kết thúc ở nơi nào trên thế giới

Ngày 30 tháng 7 năm 2008 - Theo số liệu mới được nêu trong Báo cáo về dịch AIDS toàn cầu năm 2008 của UNAIDS, đã có những kết quả đáng kể trong ngăn chặn những trường hợp nhiễm mới ở nhiều quốc gia bị tác động nặng nề bởi dịch AIDS. Ở Rwanda và Zimbabwe, việc thay đổi hành vi tình dục đã khiến cho số nhiễm mới HIV giảm xuống.

Việc sử dụng bao cao su đang gia tăng trong nhóm thanh niên có nhiều bạn tình ở nhiều quốc gia. Một dấu hiệu đáng khích lệ khác là độ tuổi bắt đầu quan hệ tình dục trong thanh niên đang muộn hơn. Điều này đã được quan sát tại 7 quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất, đó là Burkina Faso, Cameroon, Ethiopia, Ghana, Malawi, Uganda và Zambia. Ở Cameroon, tỷ lệ thanh niên có quan hệ tình dục trước độ tuổi 15 đã giảm từ 35% xuống còn 14%.

Từ năm 2005 đến 2007, tỷ lệ phụ nữ mang thai nhiễm HIV được điều trị kháng virus để dự phòng lây truyền mẹ con đã tăng từ 14% lên 33%. Cũng trong khoảng thời gian này, số trẻ em nhiễm HIV mới đã giảm từ 410.000 trường hợp xuống còn 370.000 trường hợp.

Một số quốc gia như Argentina, Bahamas, Barbados, Belarus, Cuba, Botswana, Georgia, Mololdova, Liên bang Nga, và Thái Lan đã gần đạt được mục tiêu tiếp cận phổ cập, với độ bao phủ của các chương trình dự phòng lây truyền mẹ con đạt được 75%.

Báo cáo cũng chỉ ra rằng kết hợp ý chí và nỗ lực của các chính phủ, các nhà tài trợ, các tổ chức xã hội dân sự và cộng đồng bị tác động bởi dịch có thể tạo ra sự khác biệt.

Khoảng 105 quốc gia đã đặt ra mục tiêu và chỉ tiêu nhằm đạt được tiếp cận phổ cập tới dự phòng, điều trị, chăm sóc và hỗ trợ HIV đến năm 2010.

Tiến sĩ Peter Piot, Giám đốc điều hành của UNAIDS nói “Những thành tựu trong dự phòng nhiễm mới và điều trị cho những người sống với HIV nhằm cứu sống nhiều sinh mạng cần phải được duy trì trong thời gian dài. Những kết quả đạt được trước mắt này là nền tảng để tiếp thêm sức mạnh cho những nỗ lực dự phòng và điều trị và không thể tự mãn với những kết quả này”.

Tình hình dịch trên toàn cầu
Từ năm 2001, những ca nhiễm HIV mới đã giảm từ 3 triệu người xuống còn 2,7 triệu người trong năm 2007 (dao động từ 2,6 đến 3,5 triệu xuống còn 2,2 triệu đến 3,2 triệu). Mặc dù số nhiễm HIV mới đã giảm ở một số quốc gia nhưng dịch vẫn chưa kết thúc ở bất kì nơi nào trên toàn thế giới.

Tỷ lệ nhiễm HIV mới đang gia tăng ở nhiều quốc gia như Trung Quốc, Indonesia, Kenya, Mozambique, Papua New Guinea, Liên bang Nga, Ukraine và Việt Nam. Việc gia tăng những ca nhiễm HIV mới cũng quan sát được ở một số quốc gia nơi dịch được phát hiện sớm nhất cũng như số các ca mới nhiễm cũng tăng ở những quốc gia như Đức, Anh và Australia.

Dịch trên toàn cầu đã chững lại về mặt phần trăm người nhiễm (tỷ lệ hiện nhiễm) trong khi tổng số người sống với HIV trên toàn cầu đã tăng lên 33 triệu người với khoảng 7.500 trường hợp nhiễm mới mỗi ngày.

Việc điều trị đang cứu nhiều mạng sống
Theo báo cáo được thực hiện trong năm 2008, khoảng 3 triệu người ở các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình hiện đang được điều trị kháng virus. Nambia đã mở rộng điều trị từ 1% năm 2003 lên 88% trong năm 2007. Tương tự như vậy, Campuchia đã mở rộng điều trị từ 14% trong năm 2004 lên tới 67% trong năm 2007. Những quốc gia khác hiện đã gần đạt được mục tiêu tiếp cận phổ cập điều trị là Botswana, Brazil, Chile, Costa Rica, Cuba và Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào. Ở phần lớn các khu vực trên thế giới, phụ nữ hiện đang được điều trị ARV nhiều hơn so với nam giới.

Một phần do mở rộng điều trị nên trong hai năm qua số ca tử vong có liên quan đến AIDS đã giảm từ 2,2 triệu xuống còn 2 triệu ca trong năm 2007 (dao động từ 1,9 triệu - 2,6 triệu xuống còn 1,8 triệu - 2,3 triệu).

Tuy nhiên, AIDS vẫn tiếp tục là nguyên nhân tử vong hàng đầu ở châu Phi nơi chiếm tới 67% trong tổng số người sống với HIV trên toàn cầu. Ở châu Phi, 60% người sống với HIV là phụ nữ và cứ 4 thanh niên sống với HIV trẻ tuổi thì có 3 người là phụ nữ.

Cần quan tâm hơn nữa tới những người có nguy cơ nhất
Kể từ năm 2005, đã có nhiều nỗ lực dự phòng HIV tập trung vào nhóm hành nghề mại dâm, nam tình dục đồng giới và những người tiêm chích ma túy. Ví dụ, trong số 39 quốc gia báo cáo về tiếp cận dịch vụ dự phòng HIV của những người hành nghề mại dâm thì độ bao phủ trung bình đã đạt được 60%. Gần 50% số người tiêm chích ma túy ở 15 quốc gia và 40% nam tình dục đồng giới ở 27 quốc gia đã tiếp cận được tới dịch vụ dự phòng lây nhiễm HIV.

Ở hầu hết tất cả các khu vực trên thế giới trừ khu vực cận Sahara ở Châu Phi, các ca nhiễm HIV chủ yếu trong số những nhóm người tiêm chích ma túy, nam tình dục đồng giới và những người hành nghề mại dâm. Ở những quốc gia nơi có đạo luật bảo vệ những người thuộc các nhóm có nguy cơ không bị phân biệt đối xử thì việc tiếp cận tới các dịch vụ dự phòng của các nhóm này thường tốt hơn.

“Hiểu về tình hình dịch ở quốc gia” vẫn là một nguyên tắc quan trọng để có được các nỗ lực dự phòng hiệu quả. Những xu hướng của dịch ở mỗi khu vực và mỗi quốc gia đã thay đổi trong thời gian qua. Ở Thái Lan, trước kia lây truyền HIV chủ yếu qua quan hệ tình dục với người hành nghề mại dâm và tiêm chích ma túy, nhưng giờ đây việc lây nhiễm HIV chủ yếu qua quan hệ tình dục giữa vợ chồng.

Tiến sĩ Thoraya Obaid, Giám đốc điều hành của UNFPA cho biết “Các quốc gia cần hướng trọng tâm của các chương trình dự phòng HIV ở những nơi có nhiều ca nhiễm mới. Hiểu được tình hình dịch và có sự kết hợp phù hợp giữa các can thiệp là cần thiết để có được ứng phó hiệu quả. Ở nhiều nơi, thanh niên và phụ nữ là những người cần được chú ý đặc biệt”

Các nỗ lực dự phòng HIV ở Việt Nam đã được đền đáp xứng đáng
Việt Nam đang ngày càng tập trung nỗ lực để tiếp cận nhiều hơn những nhóm dân cư có nguy cơ cao. Trong năm 2007, ước tính có 65% phụ nữ hành nghề mại dâm, 26% nam quan hệ tình dục đồng giới và 43% nam giới tiêm chích ma túy đã tiếp cận được tới các chương trình dự phòng HIV.

Các dự án khuyến khích sử dụng bao cao su ở cấp cộng đồng thuộc năm tỉnh đã mang lại kết quả là tăng hành vi an toàn sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục với khách làng chơi của phụ nữ mại dâm trên đường phố lên gấp 3 lần từ 20% trong năm 2001 lên 60% trong năm 2004, tỉ lệ sử dụng bao cao su với chồng hoặc bạn tình cũng tăng lên gấp đôi trong cùng quãng thời gian này.

Ngài Jean-Marc Olive, Trưởng đại diện của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) tại Việt Nam nói "Trong những năm gần đây Việt Nam đã mở rộng các chương trình mục tiêu dự phòng HIV và điều trị kháng vi rút. Chỉ trong năm ngoái, hơn 11 triệu bơm kim tiêm đã được phân phát cho những người tiêm chích ma túy và khoảng 30% những người cần điều trị đã được điều trị kháng vi rút".

"Dự phòng là cách bảo vệ hiệu quả nhất và chúng ta đã nhìn thấy sự đền đáp cho những đầu tư của chúng ta. Tuy nhiên, chúng ta vẫn tiếp tục cần sự lãnh đạo mạnh mẽ của Đảng, Chính phủ và nhân dân Việt Nam để đạt được mục tiêu tiếp cận phổ cập cho tất cả mọi người và đảo ngược tình hình dịch,” Ngài Eamonn Murphy, Giám đốc Quốc gia của Chương trình Phối hợp của Liên hợp quốc về HIV/AIDS (UNAIDS) tại Việt Nam phát biểu.

Hướng tới phía trước
Báo cáo này được công bố trước thềm Hội nghị AIDS quốc tế lần thứ XVII tổ chức tại Mexico. Sự kiện này sẽ tập hợp các nhà lãnh đạo, những người hoạch định chính sách, các học giả, các nhà hoạt động, các nhóm cộng đồng và các đối tác khác để nhìn lại những bài học đã đúc rút được và xây dựng động lực mới nhằm đạt được các mục tiêu tiếp cận phổ cập vào năm 2010 và các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ đến năm 2015.

Ông Kemal Dervis, Quản lý điều hành của UNDP cho biết “Ứng phó với AIDS là một mục tiêu quan trọng của Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ nó có tác động trực tiếp đến việc đạt được các mục tiêu khác đến năm 2015. Những tiến bộ chúng ta đã đạt được trong ứng phó với AIDS sẽ đóng góp vào những nỗ lực của chúng ta nhằm xóa đói giảm nghèo và giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ em, và cải thiện dinh dưỡng và sức khỏe bà mẹ. Đồng thời, những tiến bộ nhằm đạt các mục tiêu khác như giải quyết tình trạng bất bình đẳng giới, phổ cập giáo dục là cần thiết nếu chúng ta muốn ngăn chặn và đẩy lùi sự lây lan của AIDS”

Ứng phó lâu dài
AIDS là một vấn đề lâu dài và đòi hỏi phải có sự ứng phó dựa trên các bằng chứng và quyền con người. Nó đòi hỏi phải có sự lãnh đạo mạnh mẽ có thể đảm bảo thực hiện các cam kết trong thời gian dài. Báo cáo kêu gọi các nhà lãnh đạo tiếp cận các vấn đề như tình dục và sử dụng ma túy từ khía cạnh quyền con người.

Những ứng phó với HIV đòi hỏi phải có nguồn tài chính đảm bảo trong thời gian dài. Khi ngày càng có nhiều người được điều trị và tuổi thọ kéo dài hơn thì ngân sách dành cho HIV sẽ phải tăng lên trong vài thập kỷ tiếp theo. Các nhà tài trợ sẽ phải dành đa số tiền tài trợ cho các hoạt động ứng phó với AIDS ở các quốc gia có thu nhập thấp và thu nhập trung bình, cho dù khi ngân sách trong nước dành cho HIV đã tăng lên ở các quốc gia này. Ứng phó sẽ được tăng cường hơn bởi những cam kết như khoản tài trợ 48 tỉ đô la Mỹ của Chính phủ Mỹ gần đây. Các nước công nghiệp phát triển G8 tại cuộc họp gần đây tổ chức ở Nhật Bản cũng đã nhất trí tiếp tục cam kết của mình trong việc tiếp tục hành động hướng tới mục tiêu tiếp cận phổ cập tới dự phòng và điều trị HIV đến 2010.

“Mở rộng ứng phó với AIDS hướng tới tiếp cận phổ cập phải dựa trên bốn giá trị chính - cách tiếp cận dựa trên quyền, đa ngành, kết quả hướng tới con người, và sự tham gia của cộng đồng. Đây là những giá trị không thể bàn cãi” Tiến sĩ Piot nói.

UNAIDS Việt Nam
Eamonn Murphy, murphye@unaids.org, +84-4 734 2824, mob: (84) 91 87 62 620
Nguyen Thi Phuong Mai, nguyenm@unaids.org, +84-4 734 2824, mob: (84) 91 21 40 645

UNAIDS Geneva
Sophie Barton-Knott | bartonknotts@unaids.org | tel. +41 22 791 1697

UNAID New York
Jonathan Rich | jonathan@jcrcommunications.com | tel. +1 347 262 9115

Về Báo cáo dịch AIDS toàn cầu năm 2008 của UNAIDS
Báo cáo dịch AIDS toàn cầu năm 2008 do UNAIDS và các cơ quan đồng tài trợ thực hiện là báo cáo toàn diện nhất về ứng phó với AIDS. Báo cáo sử dụng số liệu của 147 quốc gia trên cơ sở 25 chỉ tiêu chính được nêu trong Tuyên bố Cam kết về HIV/AIDS của Liên Hợp quốc được thông qua năm 2001, và Tuyên bố Chính trị được thông qua tại Cuộc họp Cấp cao về AIDS năm 2006. Những thông tin đưa ra trong báo cáo này giúp cho người đọc có thể đánh giá được những tiến bộ đã đạt được kể từ năm 2001 và xác định được những điểm mạnh và những tồn tại trong ứng phó với AIDS cho đến nay.

Về UNAIDS
UNAIDS là một sáng kiến của Liên hợp quốc, tập hợp những nỗ lực và nguồn lực của Ban thư ký UNAIDS và 10 tổ chức trong hệ thống LHQ nhằm ứng phó với AIDS. Văn phòng chính của UNAIDS đặt tại Geneva, Thụy Sĩ với văn phòng hoạt động ở hơn 80 quốc gia. Hoạt động phòng chống AIDS của hệ thống các tổ chức LHQ được điều phối ở các quốc gia thông qua các nhóm chuyên đề của LHQ và các chương trình phối hợp phòng chống AIDS. Các cơ quan đồng tài trợ của UNAIDS bao gồm UNHCR, UNICEF, WFP, UNDP, UNFPA, UNODC, ILO, UNESCO, WHO và Ngân hàng Thế giới. Truy cập trang web của UNAIDS tại địa chỉ www.unaids.org.

5 tháng 8, 2008

HIV là một căn bệnh, không phải một tệ nạn xã hội


HIV là một căn bệnh, không phải một tệ nạn xã hội

TTO - Đúng là nhóm HIV dương tính đầu tiên là những anh chị em tiêm chích ma túy hay mại dâm. Nhưng ngày nay, như thường nói: “HIV không chừa một ai”, số người dương tính ngoài đối tượng này ngày càng đông: công nhân, viên chức, tân binh, các bà nội trợ hiền lành, trẻ thơ vô tội. Và có thể ngay bạn và tôi nếu rủi ro bị truyền máu dương tính !

Trong tuyên truyền thì ta luôn “kết chùm HIV với ma túy và mại dâm”. Nhiều nhà quan sát quốc tế lưu ý ta về điểm này. Khi bị kết chùm với tệ nạn xã hội thì dư luận sẽ coi họ là phạm nhân, là những kẻ xấu xa thay vì là những bệnh nhân. Còn người bệnh thì làm sao tránh khỏi buồn tủi, mặc cảm. Cho nên dù có kêu gọi cách mấy để người nhiễm HIV được xã hội chấp nhận, cách kết chùm nói lên thành kiến sâu sắc, tiềm ẩn ngay ở trong tuyên truyền giáo dục.

Thật ra, từ “tệ nạn xã hội” cũng gây nhiều băn khoăn cho các nhà khoa học trong và ngoài nước. Họ luôn luôn dè dặt tạm dịch từ này là “social evils” (với ngoặc kép). Vì các kiểu đánh giá, phê phán con người như vậy không còn trong ngôn ngữ khoa học nữa. Ta có thể không đồng tình với hành động này, hành vi kia, nhưng không thể lên án con người vì họ một phần hay toàn phần là nạn nhân. Thái độ phê phán là cấm kỵ trong tư vấn tâm lý hay công tác xã hội, vì ngay từ đầu bạn sẽ thất bại nếu không tôn trọng vô điều kiện con người đang đứng trước mặt bạn.

Từ “vấn đề xã hội” (social problems) được thông dụng với nội dung trung lập vì vấn đề xã hội là hậu quả của một quá trình, một diễn tiến xuất phát trước tiên từ khiếm khuyết trong chính sách và quản lý. Và trong quá trình này người yếu kém dễ bị tổn thương.

Trước kia tôi không hiểu nổi. Giờ đây với hoàn cảnh cụ thể của VN, tôi mới hiểu ra cách phân cấp trình độ phát triển nhận thức của một xã hội do các nhà khoa học thế giới theo ba cấp. Đó là cách nhìn của xã hội đối với nạn nhân của các vấn đề xã hội.

Cấp I - cái nhìn đạo đức: những người có vấn đề hay gặp khó khăn bị lên án như lúc đầu chúng ta gọi trẻ trong hoàn cảnh khó khăn là “trẻ em hư”, sau đó giảm nhẹ thành “chưa ngoan”.

Cấp II - cái nhìn y học: chúng ta xem họ là bệnh nhân và nỗ lực chữa trị. Giờ đây ta dùng cái từ trung lập là “trẻ trong hoàn cảnh đặc biệt khó khăn” và lo nơi ăn chốn ở, học hành, chăm sóc, sức khỏe, dạy bảo chúng. Cũng như giờ đây trong hoạt động phòng chống AIDS ta nhấn mạnh: “Không có nhóm nguy cơ mà hành vi nguy cơ”.

Cấp III- cái nhìn giáo dục: là cái nhìn thấy được những điểm tích cực nơi bất cứ cá nhân nào và nơi họ có nhiều tiềm lực để tự vươn lên. Cái nhìn y học có đỡ hơn nhưng còn bao cấp, làm thay, làm thế và không tin tưởng ở đối tượng.

Cấp độ nhận thức hiện đại nhất là không kết tội cũng không thương hại mà một sự tôn trọng và tin tưởng tuyệt đối ở đối tượng. Thành quả của cách nhìn này dẫn tới những phương pháp can thiệp mới mà người đóng vai trò chính là những người có vấn đề. Ví dụ như gần đây có vài thể nghiệm khá thành công trong nghiên cứu trẻ do chính trẻ làm, hiệu quả của các nhóm đồng đẳng, bạn giúp bạn... Đó cũng là triết lý và phương pháp của phát triển cộng đồng.

Nếu nhìn vào cách phân cấp trên thì bạn thấy VN ta về nhận thức xã hội đang ở cấp nào ? Chắc tùy từng vấn đề một, nhưng còn phải phấn đấu nhiều. Và chỉ khi nào chữ “tệ nạn xã hội” được thay thế bằng một từ khoa học và trung lập hơn thì mới có hi vọng đạt được nhiều kết quả.

Các nhà khoa học còn nói một chuyện buồn cười là ở cấp I, khi con người hay bị lên án về đạo đức thì nếp sống hai mặt hay đạo đức giả lại rất thịnh hành!

NGUYỄN THỊ OANH
Nguồn: Tuổi Trẻ online

29 tháng 7, 2008

Hội nghị can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện


Hội nghị can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện
Trong 2 ngày 28-29/7/2008, tại Hà Nội đã diễn ra hội nghị nói trên do Uỷ ban Quốc gia Phòng chống AIDS và Phòng chống tệ nạn ma tuý, mại dâm tổ chức . Phó Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban Quốc gia phòng, chống AIDS và phòng, chống tệ nạn ma tuý, mại dâm Trương Vĩnh Trọng chủ trì hội nghị. Cùng dự, có Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Nguyễn Thị Kim Ngân, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Quốc Triệu, Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Lê Bạch Hồng, cùng đại diện lãnh đạo các bộ, ban ngành là thành viên của Uỷ ban, đại diện lãnh đạo của 64 tỉnh, thành phố, đại diện lãnh đạo Sở Y tế, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, Sở Công an một số tỉnh và một số tổ chức quốc tế về lĩnh vực can thiệp giảm tác hại và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện.
Báo cáo về công tác can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV của Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Quốc Triệu cho biết, tính đến ngày 30/6/2008, cả cước có 129.722 người nhiễm HIV và 26.840 bệnh nhân AIDS đang còn sống, 39.664 số bệnh nhận AIDS đã tử vong. Dịch HIV ở Việt Nam đang trong giai đoạn tập trung, có nghĩa là tỷ lệ nhiễm HIV rất cao trong nhóm nghiện chích ma tuý, nhóm gái mại dâm. Theo khuyến cáo của các tổ chức quốc tế, đây là thời điểm thích hợp để triển khai các biện pháp can thiệp giảm tác hại. Và tại Việt Nam, Chương trình Can thiệp giảm tác hại được coi là một trong 4 chương trình ưu tiên của Chiến lược Quốc gia Phòng, chống HIV/AIDS tại Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn 2020, được coi là quả đấm thép khống chế lây nhiễm HIV trong nhóm nguy cơ cao và từ nhóm này lây ra cộng đồng.
Những năm qua, hoạt động chuyên môn của Chương trình can thiệp của Việt Nam tập trung vào việc cung cấp và hướng dẫn sử dụng bơm kim tiêm sạch và bao cao su, chương trình điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế Methadone, ngoài ra là các hoạt động chuyên môn khác. Đến tháng 5/2008, số bơm kim tiêm được phát ra trên các địa phương trên cả nước là 5.127.809 chiếc và số bơm kim tiêm đã sử dụng được thu gom là 2.925.256 chiếc, số bao cao su được phân phát và bán ra là hơn 15.000.000 chiếc. Chương trình Methadone cũng đã bắt đầu triển khai tại Hải Phòng và Thành phố Hồ Chính Minh Đến ngày 18/7/2009, tại 5 điểm đã điều trị cho 209 bệnh nhân.
Về khó khăn và tồn tại trong Chương trình can thiệp giảm tác hại, Bộ trưởng Bộ Y tế cho biết số tỉnh, thành phố triển khai các hoạt động can thiệp giảm tác hại còn thấp. Hiện vẫn còn 22 địa phương chưa triển khai. Độ bao phủ của chương trình cũng thấp, chỉ có 32% xã, phường triển khai chương trình bao cao su, 19% xã, phường triển khai chương trình bơm kim tiêm và lượng bơm kim tiêm phát ra chỉ bao phủ khoảng 15-20% nhu cầu thực tế. Vì vậy, Bộ trưởng Bộ Y tế đề nghị UBND các tỉnh, thành phố phải: đưa Chương trình phòng, chống HIV/AIDS là một trong các chương trình trọng tâm trong kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội của địa phương; chỉ đạo các cơ quan chức năng xây dựng và phê duyệt kế hoạch hành động về công tác can thiệp và tổ chức triển khai thực hiện; các tỉnh trọng điểm và các tỉnh miền núi phía Bắc như Sơn la, Điện Biên, Cao Bằng, Bắc Cạn và Yên Bái cần phải đặc biệt chú trọng triển khai trên diện rộng chương trình cung cấp bơm kim tiêm vì các trường hợp nhiễm HIV trên địa bàn các tỉnh này chủ yếu là tiêm chích ma tuý; chỉ dạo UBND tuyến quận huyện, xã phường tập trung chỉ đạo quyết liệt hơn và mở rộng địa bàn triển khai chương trình.
Liên quan đến Chương trình can thiệp giảm tác hại, Thứ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội Lê Bạch Hồng cũng đã trình bày công tác cai nghiện phục hồi cho người nghiện ma tuý ở Việt Nam. Hiện nay hệ thống trung tâm cai nghiện ma tuý trên cả nước có 109 cơ sở với khả năng tiếp nhận từ 50.000 – 60.000 đối tượng. Và cho tới nay, các mô hình cai nghiện phục hồi có nhiều thành công và điển hình là mô hình cai nghiện 3 giai đoạn dựa vào công trường 06 của Tuyên Quang; Mô hình cai nghiện tập trung tại trung tâm kết hợp với quản lý sau cai tại gia đình, cộng đồng ở Mường Hum - Lào Cai; Mô hình cai nghiện tại gia đình và cộng động (xã phường) tại Nam Định, Hòa Bình, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn và Phú Thọ; Mô hình quản lý sau cai theo các Câu lạc bộ B93 của Hà Nội; Mô hình cai nghiện, quản lý và tổ chức dạy nghề, tạo việc làm sau cai theo tình thần Nghị quyết 16/2003/QH11 (tại Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội…). Trong 7 năm, từ năm 2001-2007, số người được cai ngày càng tăng mạnh, chất lượng được nâng lên rõ rệt với tổng số cai được là 269.149 người và đã có 43.096 người sau cai được tạo việc làm, tỷ lệ tái nghiện giảm từ 90-100% trước năm 2000 nay xuống còn 70-80% và hạn chế được tốc độ gia tăng người nghiện mới. 6 tháng đầu năm, cả nước đã cai nghiện cho 24.335 người, đạt 48,5% so với kế hoạch được giao (50.000 người), trong đó, tại trung tâm là 21.205 người và tại cộng đồng là 3.130 người.
Những khó khăn trong công tác cai nghiện phục hồi được Thứ trưởng Lê Bạch Hồng đưa ra trước hội nghị là hiện nay cả nước có 87 Trung tâm Giáo dục Lao động Xã hội mới chỉ tiếp nhận được 40% số người nghiện có hồ sơ quản lý vào cai nghiện, trong đó có tới 45% trung tâm chỉ có khả năng tiếp nhận từ 15-20% số người nghiện, điều kiện cơ sở vật chất không đáp ứng được quy trình cai nghiện. Cai nghiện tại cộng đồng cũng gặp khá nhiều khó khăn về địa điểm cai, đội ngũ, giáo viên…Vì vậy, việc thực hiện mục tiêu đến 2010 phải đưa được 80% số người nghiện vào cai nghiện là một vấn đề phải xem xét nếu như không được quan tâm đầu tư về thiết y tế, thiết bị dạy nghề, học nghề tại các trung tâm.
Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ làm công tác cai nghiện thiếu về số lượng, yếu về nghiệp vụ chuyên môn và rất khó khăn thu hút người có trình độ năng lực vào làm việc bởi do chính sách hiện tại chưua đủ sức khuyển khích họ. Trong khi đó, 90% trung tâm đều ở vùng sâu, vùng xa, điều kiện sinh hoạt khó khăn, môi trường làm việc phức tạp, 50-60% người nghiện có tiền án, tiền sự, 20-30% có các bệnh nhiễm trùng cơ hội như lao, viêm gan. Việc giáo dục, tư vấn giúp đỡ chuyển đổi hành vi cho người nghiện là cả một quá trình mất nhiều công sức bởi thời gian nghiện từ 3-7 năm chiếm 70%. Trên 80% sử dụng Heroin và thông qua con đường tiêm chích.
Việc quản lý sau cai của chính quyền đoàn thể ở cơ sở chưa thực sự được quan tâm giúp đỡ. Đặc biệt, việc kiềm chế người nghiện mới phát sinh và giảm tỷ lệ tái nghiện xuống 60-70% là rất khó bởi môi trường ma tuý hiện nay chưa được ngăn chặn.
Hơn nữa, tình trạng kỳ thị, xa lánh của gia đình cộng đồng đối với người nghiện vẫn còn tồn tại. Một khó khăn nữa là phác đồ điều trị chưa theo kịp với tình hình diễn biến và sử dụng ma tuý
Hội nghị không chỉ đề cập đến chương trình can thiệp giảm tác hại trong dự phòng lây nhiễm HIV, công tác cai nghiện phục hồi cho người nghiện ma tuý ở Việt Nam, thực trạng nghiện các chất dạng thuốc phiện và các phương pháp điều trị tại Việt Nam mà điều quan trọng hơn là các nhà quản lý, các chuyên gia của Việt Nam đã có cơ hội được nghe các giáo sư, chuyên gia quốc tế trình bày tổng quan về điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện, hay được chia sẻ kinh nghiệm của thế giới về liệu pháp điều trị duy trì bằng thuốc Methadone, hay về hiệu quả kinh tế của các biện pháp điều trị lệ thuộc heroin hoặc thuốc phiện./.
Mỹ Hạnh
Nguồn: MOLISA

18 tháng 7, 2008

"Bạo hành tình dục và nguy cơ nhiễm HIV - bằng chứng từ những số phận"


LỜI ĐẦU SÁCH
Có thể bạn sẽ bị sốc khi đọc cuốn sách này vì không tin được rằng những chuyện đau lòng như vậy có thể xẩy ra trên đời. Cũng có thể bạn sẽ khó chịu khi nghĩ rằng tại sao lại phơi bày điều đó trước công luận vì nó là chuyện hết sức riêng tư của mỗi cá nhân hay gia đình. Bạo lực tình dục vốn là một chủ đề nhạy cảm ở Việt Nam, vì thế mà nó ít được bàn luận và nghiên cứu một cách thấu đáo. Sở dĩ bạo lực tình dục bị coi là nhạy cảm vì nó liên quan đến tình dục – vốn bị coi là thấp kém, đáng xấu hổ và không thể bày tỏ với người khác, nó đồng thời gắn liền với bạo lực gia đình – nỗi đau bị giấu kín trong câm lặng nhân danh cái gọi là sự êm ấm của gia đình và sự bình yên trong cộng đồng.

Nhiều nghiên cứu trên thế giới và một số nghiên cứu ở Việt Nam đã chỉ ra rằng bạo lực chống lại phụ nữ khá phổ biến và xảy ra ở mọi nơi, từ nông thôn tới thành thị, trong mọi tầng lớp xã hội. Tại Việt Nam có tới 90 phần trăm nạn nhân của tình trạng bạo lực gia đình là phụ nữ và trẻ em (Báo cáo của Ủy ban Dân số Gia đình Trẻ em năm 2006). Phụ nữ là nạn nhân của các loại bạo lực kể cả thể chất, tinh thần, và tình dục.

Bạo lực tình dục được coi là một hiện tượng phức tạp thể hiện ở nhiều chiều cạnh khác nhau, chịu tác động của rất nhiều yếu tố và để lại nhiều hậu quả về mặt tâm lý, sức khỏe và xã hội cho phụ nữ, đặc biệt trong bối cảnh dịch HIV/AIDS đang diễn biến phức tạp và những vấn đề bất bình đẳng giới vẫn còn tồn tại dai dẳng,

Theo báo cáo của Ủy ban Các Vấn đề Xã hội của Quốc hội Việt Nam năm 2006 dựa trên kết quả điều tra tại 8 tỉnh/thành phố, có tới 30 phần trăm số phụ nữ được hỏi đã từng bị chồng ép buộc quan hệ tình dục. Con số này có thể làm nhiều người ngạc nhiên, nhưng đó là sự thật.

Trong một nghiên cứu phối hợp giữa Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội (ISDS) và Trung tâm Nghiên cứu và Ứng dụng Khoa học về Giới, Gia đình, Phụ nữ và Vị thành niên (CSAGA) gần đây cho thấy, trong hàng nghìn cuộc gọi vào đường dây tư vấn của CSAGA khoảng mười năm trở lại đây, tỷ lệ phụ nữ gọi đến xin tư vấn về các vấn đề bạo lực tinh thần và bạo lực tình dục cao hơn gấp nhiều lần so với nam giới. Một điều đáng chú ý là những người vợ là nạn nhân của bạo lực gia đình cũng thường là nạn nhân của bạo lực tình dục.

Phân tích về một số cuộc tư vấn của CSAGA cho thấy, trong 137 khách hàng nữ là nạn nhân của bạo lực tình dục khoảng một nửa cho biết chồng họ có mối quan hệ tình dục ngoài hôn nhân. Đó là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây ra bạo lực trong gia đình. Một phần ba trong số phụ nữ này cho biết họ đã bị chồng cưỡng ép tình dục. Trong nhiều trường hợp người vợ đã bị chồng bạo lực tình dục một cách dã man gây hậu qủa nghiêm trọng đến sức khỏe. Ngoài ra, không ít trường hợp là phụ nữ trẻ gọi đến xin tư vấn về việc bị bạn trai, ông chủ cưỡng hiếp. Ngoài việc chữa trị những vết thương do bạo lực gây ra, nhiều người trong số họ đã phải nhiều lần điều trị các bệnh lây qua đường tình dục.

Trong các ca tư vấn của CSAGA đều thấy rằng hầu hết người chồng không sử dụng bao cao su khi quan hệ với vợ của họ. Nhiều người vợ dù biết rằng chồng không chung thủy với mình nhưng lại không thể thuyết phục chồng sử dụng bao cao su. Họ cho biết chỉ cần nhắc đến việc đó cũng có thể khiến họ phải hứng chịu một trận đòn khác.

Trong quan niệm truyền thống về quan hệ vợ chồng, người vợ có nghĩa vụ đáp ứng các đòi hỏi về tình dục của chồng một cách vô điều kiện. Đồng thời một người vợ đoan chính không bao giờ thể hiện ham muốn tình dục của mình trước mặt chồng. Việc đáp ứng quan hệ tình dục một cách bạo dạn và tỏ ra thành thạo nghệ thuật tình ái dù là với chồng cũng là đáng xấu hổ và không đứng đắn. Vì vậy, nhiều nạn nhân của bạo lực tình dục nghĩ rằng họ không có quyền đòi hỏi chồng đáp ứng nhu cầu tình dục của bản thân mà họ phải đáp ứng nhu cầu của chồng. Người phụ nữ không có quyền lựa chọn cách thức, thời điểm, cũng không được lựa chọn có quan hệ tình dục hay không. Phần lớn trong số họ đều nghĩ rằng nếu không đáp ứng nhu cầu của chồng sẽ tạo cái cớ cho chồng tìm cách thỏa mãn nhu cầu ở nơi khác. Hầu hết các nạn nhân đều cảm thấy bất lực, không biết phải làm gì để giải quyết tình trạng này.

Một trong những nguyên nhân sâu xa của tình trạng này là sự tồn tại dai dẳng của sự bất bình đẳng giới và những định kiến về vai trò và quyền lực của nam giới đối với phụ nữ. Mặt khác, quan điểm chung của xã hội vẫn là coi chuyện tình dục là "chuyện tế nhị riêng tư" nên khó có thể đem ra xử lý một cách công khai. Một nghiên cứu với nam giới đã có gia đình ở Nghệ An đã cho thấy vấn đề cưỡng ép tình dục trong hôn nhân được che chắn bởi một loạt các chuẩn mực về văn hoá và về vai trò giới - người phụ nữ phải có nghĩa vụ biết "chiều chồng", phải chấp nhận đòi hỏi tình dục của chồng dù bản thân họ có muốn hay không (Vũ Hồng Phong, 2006)[1]. Ngoài ra, những thay đổi kinh tế - văn hóa và xã hội cũng như sự thiếu hiểu biết về pháp luật, về quyền cũng là những nguyên nhân khiến cho tình trạng này càng trở nên phổ biến.
Tại sao nhiều người phụ nữ lại chịu đựng bạo lực tình dục trong một thời gian rất dài? Những phụ nữ này đã làm gì khi họ bị chính người chồng/ người tình của họ bạo lực và cưỡng ép quan hệ tình dục?
Có một điểm chung là họ luôn hy vọng vào sự thay đổi tích cực của chồng/ của người yêu nên âm thầm chịu đựng. Họ chỉ tìm đến tư vấn khi khi đã bị đẩy vào sự khủng hoảng tâm lý cùng cực và cảm thấy tuyệt vọng. Họ chỉ tìm đến sự can thiệp và giúp đỡ của chính quyền của cơ sở y tế hoặc khi bị hành hạ dã man, gây thương tích trầm trọng.

Các chuyên gia tư vấn và các nhà nghiên cứu đã khái quát rằng bạo lực mang tính chất chu kỳ: đối tượng hành hạ nạn nhân xong thường tỏ thái độ ân hận, hối lỗi, cố gắng bù đắp bằng các cử chỉ hành động ân cần. Nạn nhân thường tha thứ và nuôi hy vọng chồng/người yêu thay đổi. Sau đó bạo lực lại xảy ra. Tiếp theo là dọa dẫm (dọa giết, dọa chiếm hết tài sản, không cho nuôi con,..). Rồi lại bạo lực. Cái vòng luẩn quẩn ấy cứ kéo dài năm này sang năm khác. Người phụ nữ thường nhẫn nhục chịu đựng vì có quá nhiều yếu tố khiến họ phải cân nhắc: uy tín/thể diện của bản thân, của gia đình, con cái, sự lệ thuộc về kinh tế, chỗ ở. Hầu hết phụ nữ không thể vượt qua những ràng buộc đó nên phải câm lặng nín chịu để giữ gìn một hạnh phúc giả tạo "trong ấm ngoài êm".

Các nghiên cứu tại nhiều nước trên thế giới đã chỉ ra mối liên hệ chặt chẽ giữa bạo lực và nguy cơ nhiễm HIV. Người phụ nữ phải đối mặt với nguy cơ nhiễm HIV cao bởi vì họ là nạn nhân của bạo lực tình dục và bạo lực gia đình do bạn tình hay bạn đời của họ gây ra. Đồng thời, phụ nữ bị nhiễm HIV cũng phải đối mặt với nguy cơ bị bạo lực nhiều hơn những phụ nữ không bị nhiễm HIV. Ở Việt Nam, phụ nữ nhiễm HIV ngày càng có xu hướng gia tăng. Ước tính của Bộ Y tế về số người nhiễm HIV cho đến năm 2005 cho thấy trong số hơn 300.000 người nhiễm HIV trong toàn quốc, phụ nữ chiếm gần một phần ba. Đã có các bằng chứng cho thấy nhiều phụ nữ nhiễm HIV đã bị bạo lực và chịu sự kỳ thị và phân biệt đối xử từ những người trong gia đình và cộng đồng.

Mối quan ngại lớn nhất cho các nạn nhân bị bạo lực là nguy cơ lây nhiễm HIV từ chồng hoặc bạn tình bởi vì họ không được sử dụng các biện pháp an toàn như bao cao su và họ không được khước từ quan hệ tình dục. Trong khi đó, nhiều người trong những kẻ bạo lực lại có mối quan hệ tình dục với nhiều người, kể cả với những người hành nghề mại dâm là nhóm có nguy cơ lây nhiễm HIV cao. Số liệu nghiên cứu chỉ ra rằng tỉ lệ khách làng chơi nam giới nhiễm HIV đang gia tăng trong những năm gần đây (Bộ y tế, 2007). Mặt khác, nếu căn cứ vào các thông tin từ phương tiện truyền thông đại chúng thì dường như hiện tượng bạo lực tình dục cũng đang có xu hướng gia tăng trong những năm gần đây.

Bạo lực trong gia đình gây nhiều hậu quả nghiêm trọng không chỉ cho người trong cuộc mà còn liên quan đến gia đình và cộng đồng, xã hội. Điều đó ai cũng biết. Nhưng bạo lực tình dục có liên quan như thế nào đến sức khỏe sinh sản, các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục, đặc biệt là HIV/AIDS? Liệu những người phụ nữ bị bạo lực tình dục có nhận thức được nguy cơ lây nhiễm HIV hay không? Liệu các tổ chức, đoàn thể và chính quyền địa phương có đề cập đến vấn đề này khi giải quyết các vụ bạo lực trong gia đình? Phân tích các hồ sơ tư vấn của CSAGA cho thấy những phụ nữ bị cưỡng ép tình dục từ chồng hay bạn tình đều có một nỗi lo chung là sự an toàn của bản thân về sức khỏe: tình trạng viêm nhiễm cơ quan sinh dục thường xuyên và nguy cơ mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục. Tuy nhiên, ít người nghĩ rằng họ đang đứng trước nguy cơ lây nhiễm HIV. Hầu hết các trường hợp được tư vấn về bạo lực tình dục cho thấy nạn nhân không nghĩ đến chuyện xét nghiệm HIV, họ chỉ đi xét nghiệm các bệnh lây truyền qua đường tình dục để chữa trị trong trường hợp có các triệu chứng mắc bệnh.

Để làm rõ mối liên hệ giữa bạo lực gia đình và nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS và từ đó xây dựng được các chương trình can thiệp phù hợp, Trung tâm Nghiên cứu và Ứng dụng Khoa học về Giới, Gia đình, Phụ nữ và Vị thành niên(CSAGA) và Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội, với sự hỗ trợ kỹ thuật của Chương trình Sức khỏe và Nhân quyền Quốc tế, Trường Đại học Sức khỏe cộng đồng thuộc trường Đại học Harvard (International Health and Human Rights Program – Harvard School of Public Health), phối hợp tổ chức một số hoạt động nhằm tạo ra một mối liên kết mới trong nghiên cứu và can thiệp về HIV/AIDS và bạo lực tình dục đồng thời nâng cao hiểu biết về quyền được pháp luật bảo vệ và chăm sóc sức khỏe, đặc biệt trong lĩnh vực sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục. Các hoạt động này nhằm phòng tránh và ngăn chặn bạo lực gia đình, đặc biệt là bạo lực tình dục để góp phần tích cực vào công cuộc phòng chống HIV/AIDS tại Việt Nam, ngăn chặn nguy cơ nhiễm HIV cho phụ nữ và trẻ em.

Cuốn sách nhỏ này tập hợp một số câu chuyện cuộc đời của những con người có thật được ghi chép trong nhật ký tư vấn của CSAGA trong những năm gần đây. Chúng tôi hi vọng cuốn sách sẽ giúp những người làm việc chống lại bạo lực tình dục và những người tham gia phòng chống HIV/AIDS nhận ra mối liên hệ giữa hai vấn đề và cùng nhau phát huy các sáng kiến để giảm đi những dau buồn và mất mát do bạo lực và HIV/AIDS gây ra. Nỗ lực của chúng ta sẽ càng được tiếp thêm sức mạnh khi Luật Phòng chống Bạo lực Gia đình được ban hành.

Biên tập cuốn sách này chúng tôi cũng mong muốn kêu gọi sự chú ý của công luận và hành động của toàn xã hội để xóa đi một trong những trở ngại trên bước đường của chúng ta hướng tới các tiến bộ xã hội. Mỗi cuộc đời đầy bi kịch trong cuốn sách nhỏ này phản ánh một chiều cạnh của mối quan hệ giữa các vấn đề giới và bạo lực tình dục. Qua những câu chuyện này người đọc có thể thấy rằng mặc dù xã hội ta đã đạt được rất nhiều tiến bộ về bình đẳng giới nhưng vẫn còn chịu ảnh hưởng của nhiều quan niệm và những định kiến giới xưa cũ khiến bạo lực chống lại phụ nữ vẫn còn có cơ hội để tồn tại. Nhiều phụ nữ ngày ngày bị giày vò về thể xác, tinh thần và đứng trước nguy cơ nhiễm căn bệnh thế kỷ nhưng bị trói buộc bởi những quan niệm đó mà không thể vượt qua số phận. Cũng vì những định kiến lạc hậu đó mà họ đã không nhận được sự giúp đỡ cần thiết của cộng đồng và xã hội.

Thay mặt cho hai tổ chức, chúng tôi xin chân thành cảm ơn giáo sư Sofia Gruskin và Chương trình Sức khỏe và Nhân quyền Quốc tế, Trường Đại học Sức khỏe cộng đồng thuộc trường Đại học Harvard đã rất nhiệt tình hỗ trợ cho sự phối hợp giữa chúng tôi. Các bạn đã giúp chúng tôi nhận rõ mối liên hệ giữa bạo lực giới và HIV/AIDS và triển khai những hoạt động bước đầu để thu hút sự quan tâm của những người làm việc ở hai lĩnh vực này.

Lời cảm ơn chân thành xin được gửi đến Quỹ Ford vì sự hỗ trợ vô tư và sự khuyến khích nhiệt thành của họ cho dự án này.

Thay mặt cho hai cơ quan

Nguyễn Vân Anh, Chủ tịch hội đồng sáng lập CSAGA,
Khuất Thu Hồng, PhóViện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội và
Nguyễn Thị Vân Anh, Giám đốc Trung tâm Tư liệu về Giới, Tình dục và Sức khỏe tình dục, Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội.

Nguồn: dovipnet

3 tháng 7, 2008

Hội thảo về hệ thống tư pháp thân thiện đối với người chưa thành niên


Hội thảo về hệ thống tư pháp thân thiện đối với người chưa thành niên (1/7/2008)
Trong 2 ngày 30/6 và 1/7/2008, tại Hải Phòng, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội cùng Uỷ ban Tư pháp của Quốc hội và UNICEF đã tổ chức Hội thảo về hệ thống tư pháp thân thiện đối với người chưa thành niên. Đến dự có Thứ trưởng Nguyễn Thanh Hoà, Phó Chủ nhiệm uỷ ban Tư pháp của Quốc hội Dương Ngọc Ngưu, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban các Vấn đề Xã hội của Quốc hội Bùi Sỹ Lợi, đại diện UNICEF tại Việt Nam bà Julie Bergeron cùng đại diện lãnh đạo Bộ Công an, UBND thành phố Hải Phòng và đại diện Đoàn đại biểu quốc hội các địa phương…

Phát biểu khai mạc của Thứ trưởng Nguyễn Thanh Hòa đã cho biết: Trong nhiều năm qua, việc giải quyết tình hình người chưa thành niên vi phạm pháp luật và phòng, chống tội phạm xâm hại trẻ em vàg tội phạm do người chưa thành niên thực hiện đã được xây dựng và triển khai ở hầu khắp các địa phương và ngay từ năm 2000 nhiều nơi đã chủ động xây dựng các mô hình về quản lý, giáo dục trẻ em vi phạm pháp luật. Từ năm 2001, rất nhiều mô hình phòng ngừa người chưa thành niên vi phạm pháp luật đã được triển khai nhân rộng trên toàn quốc. Tuy nhiên, thực tiễn còn rất nhiều bất cập so với quy định của pháp luật và yêu cầu cuộc sống nên vẫn còn thiếu sót, khuyết điểm trong đó có cả nguyên nhân do nhận thức chưa đầy đủ về công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em; cán bộ thiếu và yếu về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, hoạt động thiếu đồng bộ của các cấp các ngành và quan trọng hơn là những điều kiện vật chất, kinh phí đảm bảo cho các hoạt động. Do vậy, nhiều lúc, nhiều nơi chất lượng công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em còn thấp, tội phạm trong lứa tuổi chưa thành niên vẫn còn nhiều, tội phạm xâm hại trẻ em nhất là xâm hại tình dục vẫn diễn biến hết sức phức tạp.
Tại hội thảo, các đại biểu đã được nghe nhiều tham luận của C14 Bộ Công An về tổng quan tình hình tội phạm xâm hại trẻ em và tội phạm do người chưa thành niên thực hiện ở Việt Nam từ năm 2002; tham luận đại diện Bộ Tư pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật hình sự và tố tụng hình sự để tăng cường hiệu quả giáo dục, phục hồi đối với người chưa thành niên phạm tội và bảo vệ, hỗ trợ trẻ em là nạn nhân của tội phạm; kiến nghị của đại diện lãnh đạo Vụ A1 Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao trình bày kiến nghị hoàn thiện các quy định về thủ tục điều tra; truy tố; xét xử thân thiện với người chưa thành niên vi phạm pháp luật và nạn nhân nhân chứng là trẻ em; bài học kinh nghiệm rút ra trong qúa trình thực hiện mô hình thí điểm và những đề xuất kiến nghị của Vụ Pháp chế - Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội… Lãnh đạo Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Hải Phòng cũng có báo cáo về triển khai mô hình thí điểm việc áp dụng các biện pháp không giam giữ, hỗ trợ tâm lý và tái hòa nhập cho người chưa thành niên vi phạm pháp luật tại địa phương.
Tiếp đó, các đại biểu chia làm 4 tổ đi tham quan thực tế tại 4 địa phương được thụ hưởng dự án là quận Lê Chân và Ngô Quyền, huyện Thuỷ Nguyên và gặp gỡ cán bộ chủ chốt của công an thành phố liên quan tới mô hình phòng điều tra thân thiện trẻ em; Gặp gỡ với các cộng tác viên trực tiếp tham gia vào dự án và dự buổi sinh hoạt của câu lạc bộ người chưa thành niên phạm tội sinh hoạt thường kỳ…
Hội thảo cũng dành nhiều thời gian thảo luận xung quanh các chủ đề như nguyên nhân, những biểu hiện khi các cháu phạm tội, những khó khăn vướng mắc trong việc điều tra viên đến tư vấn, tham vấn cho người chưa thành niên phạm tội. Ngoài ra, các đại biểu cũng cho rằng cần có các cơ chế cũng như chế tài để các gia đình quản lý và giáo dục trẻ em, làm giảm nguy cơ phạm tội ở lứa tuổi này.
Phát biểu kết luận hội thảo, Thứ trưởng Nguyễn Thanh Hoà đã ghi nhận những thành tích bước đầu mà dự án đã đạt được, đồng thời cũng nhấn mạnh nguyên nhân của người chưa thành niên phạm tội một phần cũng là do trình độ dân trí và trách nhiệm của gia đình chưa cao dẫn đến việc buông lỏng quản lý con cái. Trong thời gian tới cần có sự phối hợp chặt chẽ hơn giữa các cấp, các ngành và mỗi địa phương được thụ hưởng trong việc tiếp tục tuyên truyền giáo dục để các em cũng như các gia đình có ý thức hơn trong việc giáo dục con em mình. Bên cạnh đó, cần nghiêm túc rà soát lại hệ thống luật pháp hiện hành, trước mắt cần bổ sung, sửa đổi một số điều trong luật hình sự, tố tụng hình sự cho phù hợp với tâm sinh lý của mỗi độ tuổi trẻ vị thành niên với mục đích chính là tăng cường dựa vào cộng đồng, hạn chế giam giữ. Đặc biệt cần nhân rộng mô hình tại các quận huyện của Hải Phòng ra các địa phương khác đồng thời có các biện pháp hữu hiệu về tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức của chính cha mẹ của các em./.
Hữu Bắc ( Tạp chí LĐXH)

25 tháng 6, 2008

VN quan tâm giảm thiểu tác hại của HIV/AIDS


VN quan tâm giảm thiểu tác hại của HIV/AIDS

Hà Nội (TTXVN) - Chính phủ Việt Nam luôn coi trọng và đã luật hoá quy định về can thiệp giảm tác hại của HIV, Cục phòng chống HIV/AIDS Nguyễn Thanh Long khẳng định tại Hội thảo về Hoạt động tiếp cận cộng đồng trong dự phòng lây nhiễm HIV, ngày 23/6.

Hội thảo do Cục Phòng Chống HIV phối hợp với Chương trình Cứu trợ HIV/AIDS khẩn cấp của Tổng thống Hoa Kỳ (PEPFAR) tổ chức tại Hà Nội trong hai ngày 23 và 24/6.

Theo ông Nguyễn Thanh Long, Việt Nam đã thực hiện nhiều chương trình để can thiệp giảm tác hại của HIV như điều trị bằng metanol, phát bơm kim tiêm, bao cao su miễn phí. Số lượng các đối tượng thuộc nhóm nguy cơ cao như người nghiện ma tuý, gái mại dâm được phát dụng cụ phòng lây nhiễm ngày càng nhiều. Chương trình điều trị bằng metanol cũng được triển khai có hiệu quả ở một số địa phương.

Ngoài ra, việc tiếp cận đối tượng để truyền thông nhằm thay đổi hành vi cũng được các cơ quan chức năng Việt Nam coi trọng trong nỗ lực giảm thiểu tác hại của HIV. Cả nước hiện có 1.500 giáo dục viên đồng đẳng và 2500 giáo dục viên sức khoẻ, góp phần quan trọng vào việc truyền thông và chăm sóc điều trị bệnh nhân HIV/AIDS.

Tham luận của các chuyên gia Hoa Kỳ tại hội thảo cũng đưa ra các khuyến nghị liên quan đến việc nâng cao hiệu quả của khâu tiếp cận cộng đồng như tăng cường đào tạo kiến thức về dự phòng và điều trị HIV, mở rộng chương trình tới các địa bàn trên cả nước để đảm bảo đến được tất cả các đối tượng có nguy cơ cao.

PEPFAR được ký kết tháng 6/2006 với mục tiêu hỗ trợ các chương trình dự phòng, điều trị và chăm sóc HIV/AIDS tại Việt Nam thông qua việc cung cấp một khoản kinh phí hàng năm và hỗ trợ trực tiếp việc triển khai các chương trình này.

Tính đến hết quý 1 năm nay, Việt Nam có 124.000 người nhiễm HIV, trong đó có khoảng 26.000 người đã chuyển sang AIDS. Gần 39.000 người khác đã tử vong vì căn bệnh AIDS./.
Nguồn: TTXVN

19 tháng 6, 2008

Luật Phòng chống ma túy sửa đổi, bổ sung có hiệu lực từ 1-1-2009


Luật Phòng chống ma túy sửa đổi, bổ sung có hiệu lực từ 1-1-2009

Mạnh tay hơn sau cai nghiện

Các đồng đẳng viên đang phát tờ rơi tuyên truyền chống ma túy, mại dâm ở cửa khẩu Lạng Sơn
Luật sửa đổi, bổ sung sẽ linh động hơn, tạo cơ hội để người nghiện được quyền lựa chọn: Cai nghiện tại gia đình, cộng đồng hoặc trong các cơ sở cai nghiện. Nhưng người nghiện hoặc gia đình người nghiện phải khai báo, nếu không sẽ phải cai nghiện theo hình thức bắt buộc

15 nội dung sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng chống ma túy năm 2000 vừa được Quốc hội khóa XII thông qua, có tới 11 vấn đề liên quan tới công tác cai nghiện, sẽ tạo thêm nhiều cơ hội cho người nghiện. Ông Trần Việt Trung, Phó Cục trưởng Cục Phòng chống tệ nạn xã hội (Bộ LĐ-TB-XH), cho biết.

Thêm cơ hội và trách nhiệm cho người cai nghiện

Qua gần 7 năm thực hiện Luật Phòng chống ma túy được Quốc hội khóa X ban hành năm 2000, tệ nạn ma túy tại VN vẫn diễn biến phức tạp và nghiêm trọng. Hiệu quả của các hoạt động giảm cung, giảm cầu và giảm tác hại trong phòng chống ma túy còn hạn chế. Theo Bộ LĐ-TB-XH, một trong những nguyên nhân là do hệ thống pháp luật về phòng chống ma túy chưa đồng bộ, chưa phù hợp với tình hình thực tế hiện nay, đặc biệt là lĩnh vực cai nghiện phục hồi cho người nghiện ma túy.

Ông Trần Việt Trung cũng cho hay, trách nhiệm của người nghiện, gia đình người nghiện trong việc khai báo và đăng ký hình thức cai nghiện sẽ được đặt ra như một căn cứ pháp lý. Nó sẽ quyết định tới việc áp dụng các biện pháp cai nghiện (cai nghiện tự nguyện hoặc cai nghiện bắt buộc) đối với người nghiện ma túy. Cai nghiện tự nguyện có thể ở gia đình, cai nghiện tại cộng đồng hoặc tại các cơ sở cai nghiện (do Nhà nước quản lý hoặc cơ sở tư nhân, dân lập); cai nghiện bắt buộc được áp dụng tại cộng đồng hoặc tại các cơ sở cai nghiện bắt buộc (nếu người nghiện không tự khai báo và đăng ký hình thức cai nghiện).

Như vậy, nếu người nghiện không tự nguyện cai sẽ bị áp dụng biện pháp cai bắt buộc tại cộng đồng theo quyết định của chủ tịch UBND cấp xã hoặc cai nghiện bắt buộc tại cơ sở cai nghiện theo quyết định của chủ tịch UBND cấp huyện. Thời hạn cai nghiện tại gia đình, tại cộng đồng là 6- 12 tháng; thời hạn cai tại các cơ sở cai nghiện bắt buộc vẫn giữ nguyên như trước đây là 1-2 năm.

Tăng thời gian cách ly

Theo Cục Phòng chống tệ nạn xã hội (Bộ LĐ-TB-XH), quy định thời hạn cai nghiện bắt buộc chỉ từ 1 đến 2 năm là chưa đủ để người nghiện có thể đoạn tuyệt với ma túy. Cục trưởng Cục Phòng chống tệ nạn xã hội Nguyễn Văn Minh đúc kết, yếu tố quan trọng quyết định kết quả của công tác cai nghiện là việc cách ly người nghiện khỏi "môi trường ma túy". Đồng thời phải đi đôi với sự quản lý, giám sát của gia đình, cộng đồng và hỗ trợ học nghề, giải quyết việc làm đối với người đã cai nghiện trở về.

Vì thế, một trong những điểm mới, quan trọng là tăng cường thời gian để người nghiện cách ly với môi trường cũ. Cụ thể, người nghiện sau khi cai nghiện bắt buộc tại cơ sở cai nghiện ma túy phải chịu sự quản lý sau cai nghiện từ 1-2 năm theo một trong hai hình thức: Quản lý tại nơi cư trú hoặc quản lý tập trung tại cơ sở quản lý sau cai nghiện đối với người có nguy cơ tái nghiện cao. Bộ LĐ-TB-XH có trách nhiệm chỉ đạo tổ chức cai nghiện ma túy, quản lý sau cai nghiện và giải quyết các vấn đề xã hội sau cai nghiện; hướng dẫn chỉ đạo việc thành lập, giải thể cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở quản lý sau cai nghiện.

Trường hợp đặc biệt, đối với người đang cai nghiện bắt buộc tại cơ sở cai nghiện mà phạm tội, nếu thời gian bị phạt tù ít hơn thời gian cai nghiện ma túy, thì sau khi chấp hành xong hình phạt tù phải tiếp tục cai nghiện ma túy tại cơ sở cai nghiện bắt buộc; trường hợp phải chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù nhưng cho hưởng án treo thì vẫn phải thực hiện cai nghiện tại cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Người nghiện được xem xét dưới 3 góc độ

Ông Lê Bạch Hồng, Thứ trưởng Bộ LĐ-TB-XH, nhận định người nghiện ma túy sẽ được xem xét dưới 3 góc độ: Là người bệnh (bị một loại bệnh về tâm thần do sử dụng ma túy); người có hành vi vi phạm pháp luật (do sử dụng trái phép chất ma túy) và là người sa ngã vào tệ nạn xã hội (bị lệch lạc về nhân cách, hành vi). Vì vậy, cai nghiện phải áp dụng các phương pháp, biện pháp xử lý đồng bộ cả 3 khía cạnh về y tế, pháp luật và xã hội. Đây là quan điểm cơ bản trong việc sửa đổi, bổ sung Luật Phòng chống ma túy lần này.

Bài và ảnh: Nguyễn Quyết
Báo Người Lao động

17 tháng 6, 2008

TÁC ĐỘNG VỀ XÃ HỘI SAU KHI VIỆT NAM GIA NHẬP WTO


TÁC ĐỘNG VỀ XÃ HỘI SAU KHI VIỆT NAM GIA NHẬP WTO
I- NHỮNG VẤN ĐỀ XÃ HỘI – NHÌN LẠI HƠN MỘT NĂM TỪ KHI VIỆT
NAM GIA NHẬP WTO
Năm 2007, nhờ quá trình đổi mới đã hơn 20 năm tạo thế và lực, trong đó có
phần đóng góp của năm đầu tiên gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), kinh tế Việt Nam đạt được thành tựu trên nhiều lĩnh vực, tăng trưởng kinh tế đạt 8,5%. Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt mức cao nhờ cải thiện trong chính sách đầu tư, môi trường kinh doanh, mở cửa thị trường theo cam kết WTO. Tính đến tháng 12/2007, vốn FDI đăng ký đạt 15 tỉ USD, tăng gần 40% so với cùng kỳ năm trước. Thị trường xuất khẩu mở rộng với kim ngạch xuất khẩu đạt 48 tỷ USD, tăng 20,5% so với năm 2006 và vượt 3,1% so với kế hoạch. Dự trữ ngoại tệ được bổ sung thêm 9 tỷ USD. Hội nghị lần thứ 15 các nhà tài trợ tổ chức đầu tháng 12/2007 tại Hà Nội đã mang lại cho Việt Nam 5,426 tỷ USD ODA cam kết trong năm 2008, tăng 20% so với năm 2007.
Việc thực hiện các cam kết WTO khi Việt Nam gia nhập tổ chức kinh tế quốc tế lớn nhất hành tinh này đưa đến những thời cơ lớn và thách thức lớn đan xen vào nhau về kinh tế và xã hội. Vấn đề kinh tế nào cũng có chiều cạnh xã hội và tác động về mặt xã hội, đồng thời có những vấn đề trực tiếp có tính chất xã hội, tạo ra những hệ quả xã hội đặc trưng. Về kinh tế cũng như về xã hội, nếu biết vượt thách thức có hiệu quả thì thách thức sẽ biến thành thời cơ, còn nếu không biết tranh thủ thời cơ kịp thời thì thời cơ cũng có thể biến thành thách thức. Mặt khác, từ cuối năm 2007, do những vấn đề đã tích tụ trong nhiều năm trước, cộng với những diễn biến không thuận của kinh tế thế giới, đặc biệt là những khó khăn, thậm chí suy thoái của kinh tế Mỹ, lại thêm những hậu quả ngày càng rõ của sự biến đổi khí hậu toàn cầu, nên tình hình kinh tế vĩ mô của nước ta đã bộc lộ những nhân tố bất ổn, như hiệu quả thấp của đầu tư, nhập siêu tăng cao, thâm hụt ngân sách lớn, thị trường chứng khoán chao đảo, thị trường bất động sản hình thành bong bóng nguy hiểm, và nhất là lạm phát hai con số tác động xấu đến đời sống của nhân dân, nhất là những người nghèo.
Hơn một năm nay đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều hội thảo, cả trong
nước và quốc tế, về tác động của việc gia nhập WTO đối với sự phát triển kinh tế của Việt Nam. Chuyên đề này tập trung vào những hệ quả trực tiếp có tính chất xã hội. Để có thể đưa ra những kết luận đủ độ tin cậy, cần phân tích, tính toán bằng các chỉ số định lượng và trên cơ sở một khoảng thời gian đủ dài, bao gồm tỷ lệ thất nghiệp, tỷ lệ nghèo đói, tuổi thọ, tỷ lệ chết của trẻ sơ sinh, hệ số Gini (hay mức độ bất bình đẳng), tỷ lệ biết chữ, tỷ lệ đi học, bình đẳng giới…đó là chưa kể sự phân tích rất cần thiết về lối sống, về văn hoá. Chuyên đề này không có điều kiện tiến hành những nghiên cứu định lượng đó, mà chỉ lựa chọn phân tích một số vấn đề xã hội khi Việt Nam gia nhập WTO, từ đó có một số nhận xét đánh giá làm cơ sở để đưa ra một số gợi ý chính sách.
1- Các quy tắc của WTO và cách thực hành trong WTO tác động về xã hội
WTO là tổ chức kinh tế thế giới thúc đẩy sự lưu chuyển trên quy mô toàn cầu của hàng hoá, dịch vụ và các yếu tố sản xuất như vốn, công nghệ, tri thức quản lý kinh doanh. Tham gia vào WTO là tham gia vào quá trình toàn cầu hoá kinh tế hiện đã trở thành một xu thế tất yếu của thời đại, khi đó thị trường trong nước của mỗi quốc gia ngày càng liên kết sâu rộng với thị trường thế giới. Để thực hiện mục tiêu đó, WTO đề ra những nguyên tắc bắt buộc các thành viên tham gia phải thực hiện.
Các nguyên tắc cơ bản của WTO là:
(i) Không phân biệt đối xử, thể hiện qua hai chế độ là đối xử tối huệ quốc (MFN) và đối xử quốc gia (NT). Theo đó, thương mại quốc tế đối với hàng hóa và dịch vụ phải được thực hiện trên cơ sở không phân biệt đối xử giữa các nước thành viên. Nguyên tắc này nằm trong điều khoản “tối huệ quốc” (MFN) được nêu trong tất cả các Hiệp định WTO. Điều khoản MFN được bổ sung bằng điều khoản đãi ngộ quốc gia trong thương mại hàng hóa cũng như thương mại trong các lĩnh vực dịch vụ mà các thành viên cam kết. Điều khoản đãi ngộ quốc gia nghiêm cấm phân biệt đối xử giữa hàng hóa và dịch vụ nhập khẩu với hàng hóa và dịch vụ được sản xuất trong nước.
(ii) (ii) Thúc đẩy thương mại quốc tế đối với hàng hoá và dịch vụ thông qua đàm phán dỡ bỏ rào cản giữa các quốc gia, cắt giảm các loại thuế hải quan. Những biện pháp phi thuế quan như hạn chế nhập khẩu hay hạn ngạch không được sử dụng. Những biện pháp thương mại không lành mạnh như trợ cấp xuất khẩu, bán phá giá bị hạn chế tối đa.
(iii) Minh bạch hoá: bao gồm minh bạch về chính sách và minh bạch về tiếp cận thị trường. Việt nam là nước đang phát triển và đang chuyển đổi, nên qua đàm phán đã đạt được kết quả có thời hạn một số năm để chuẩn bị thực hiện cam kết về thuế tiêu thụ đặc biệt, trợ cấp nông nghiệp và phi nông nghiệp, quyền kinh doanh...
Dẫu sao, tham gia WTO có nghĩa là nền kinh tế chấp nhận một sự cạnh tranh quyết liệt hơn cả ở trong nước và trên thị trường thế giới.
Đương nhiên, Việt nam vẫn hoàn toàn có quyền lựa chọn nhà đầu tư này hay nhà đầu tư khác, thứ hàng hoá dịch vụ của nước này, hãng này hay nước khác, hãng khác, chứ không phải bất kỳ nhà đầu tư nào, hàng hoá nào, dịch vụ nào cũng có thể tự do vào nước ta. Do vậy, có chính sách và biện pháp đúng để tham gia WTO có hiệu quả, thì nguồn lực của nền kinh tế sẽ được phân bổ hiệu quả hơn trên cơ sở những lợi thế so sánh của mỗi quốc gia và sự phân công lao động quốc tế. Kết cục là sức mạnh của quốc gia sẽ được tăng lên nhờ tham gia vào quá trình đó.
Một kết quả dễ thấy về mặt xã hội khi hội nhập kinh tế quốc tế là người dân được hưởng nhiều loại hàng hóa và dịch vụ với chủng loại đa dạng hơn, chất lượng cao hơn và giá cả thấp hơn so với trường hợp không hội nhập. Điều đó có nghĩa là phúc lợi của mỗi người được nâng lên.
Tuy nhiên, không nên chỉ nhìn vào lợi ích toàn cục đó mà bỏ qua những vấn đề xã hội. Lợi ích của sự phát triển không được phân chia đồng đều cho tất cả mọi người của mỗi quốc gia nhờ tham gia WTO. Việc làm có thể mất đi ở nhóm người này hay ở nhóm ngành, nghề nào đó do chuyển dịch cơ cấu hay thay đổi lợi thế so sánh. Bất bình đẳng có thể tăng lên do thu nhập sẽ tăng lên với tốc độ khác nhau giữa những nhóm người khác nhau, giữa các vùng miền có điều kiện tự nhiên và xã hội khác nhau. Và còn nhiều vấn đề khác nữa như môi trường, công bằng, đạo đức xã hội… Những vấn đề xã hội này nếu không được nhìn nhận, đánh giá đúng mức và có giải pháp phù hợp sẽ dẫn đến những hệ quả tiêu cực và thậm chí kìm hãm sự phát triển. Mỗi quốc gia đều phải giải quyết tốt những vấn đề đó, tận dụng thời cơ đồng thời hạn chế những thách thức của quá trình toàn cầu hóa để đảm bảo sự phát triển bền vững.
2-Thực tế diễn biến một số vấn đề xã hội sau khi Việt Nam gia nhập WTO
2.1. Việc làm và thu nhập
Thị trường lao động là một trong những kênh chính chịu tác động xã hội khi gia nhập WTO, bởi sự gia tăng nhập khẩu, xuất khẩu, cạnh tranh, áp dụng công nghệ mới, đầu tư trực tiếp nước ngoài... đều có thể tác động đến việc làm và thu nhập của người lao động.
Gia nhập WTO giúp thay đổi các cách thức sản xuất sản phẩm xã hội, thay đổi các cách thức tổ chức các nhân tố sản xuất theo nguyên tắc hiệu quả. Gia nhập WTO cũng đồng nghĩa là các bước đi của cải cách thị trường sẽ nhanh hơn.
Một điều quan trọng nữa là với việc gia nhập WTO, những quy tắc được chấp nhận mang tính toàn cầu sẽ làm thay đổi một cách hiệu quả suy nghĩ, hành vi và thúc đẩy người lao động tăng khả năng của bản thân họ.
Tất cả những quá trình này dẫn đến nhiều điều chỉnh trong cơ cấu của cả 3 lĩnh vực chủ yếu của nền kinh tế là công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ. Điều này tạo ra cơ hội đáng kể để phát triển thị trường lao động.
Khu vực công nghiệp chứng kiến việc làm được tạo ra ở nhiều ngành nhưng đồng thời cũng có nhiều lĩnh vực bị mất đi việc làm. Trong trước mắt, rất nhiều việc làm mới được tạo ra ở những ngành sử dụng nhiều lao động và không đòi hỏi tay nghề cao mà những nước đang phát triển như Việt Nam có lợi thế do sự phân công lao động quốc tế. Đó là những ngành công nghiệp nhẹ như dệt may, da giầy, chế biến thực phẩm, xây dựng, hoặc những ngành xuất khẩu nguyên liệu thô, khai khoáng... Nhưng đồng thời những ngành không còn nhận được trợ cấp của Chính phủ sau khi thực hiện cam kết WTO hay những doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hoá sẽ là những ngành bị mất nhiều việc làm. Nhưng nhìn chung, việc làm tổng cộng ở khu vực công nghiệp tăng lên.
Theo số liệu khảo sát mới đây của trang web việc làm lớn nhất Việt Nam là vietnamworks.com, chỉ số cầu nhân lực năm 2007 tăng 67% so với năm 2006, đặc biệt cao nhất là những ngành sản xuất, trong khi đó chỉ số cung nhân lực mới chỉ tăng 22%. Điều đó cho thấy rất nhiều việc làm mới đã được tạo ra trong năm qua nhưng nguồn nhân lực hiện tại không đáp ứng đủ và xu hướng này còn tiếp tục trong những năm tới. Báo cáo cũng chỉ ra rằng nhu cầu về lao động có tay nghề đang tăng rất mạnh và sẽ xảy ra thiếu hụt trầm trọng đối với nhóm lao động có tay nghề.
Khu vực nông nghiệp có khả năng mất nhiều việc làm nhất do cơ cấu ngành đang có chiều hướng thu hẹp lại, diện tích trồng trọt giảm đi để chuyển sang nhiều mục đích sử dụng khác, đồng thời năng suất nông nghiệp tăng lên nhờ áp dụng các kỹ thuật và công nghệ tiên tiến hơn. Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong quá trình xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, kết cấu hạ tầng, mỗi năm cả nước có gần 200.000 ha đất nông nghiệp bị chuyển đổi mục đích sử dụng, tương ứng mỗi hộ gia đình nông thôn có khoảng 1,5 lao động bị mất việc làm. Với 54% lực lượng lao động hiện nay là lao động nông thôn, phần lớn trong số đó là chưa qua đào tạo, thì cơ hội tìm việc làm mới của họ sẽ gặp nhiều khó khăn. Trong khi đó, lực lượng lao động vẫn còn làm trong ngành nông nghiệp cần phải có kỹ năng làm việc cao hơn để có năng suất cao hơn. Điều này cho thấy vấn đề đào tạo và đào tạo nghề ở khu vực nông thôn có vị trí hết sức quan trọng.
Khu vực thứ ba - dịch vụ - là ngành có nhiều cơ hội tạo ra một số lượng lớn việc làm. Nói cụ thể hơn, tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh kích thích sự luân chuyển của hàng hoá và đem lại sự đa dạng phong phú các loại sản phẩm thị trường, kéo theo sự phát triển của các ngành dịch vụ cũng như nhu cầu việc làm ở khu vực này tăng lên. Đồng thời, những cam kết về mở cửa thị trường dịch vụ, đặc biệt là về bán lẻ và bán buôn tạo ra một số lượng lớn việc làm mới.
Nhiều lĩnh vực dịch vụ cao cấp được mở ra như ngân hàng, bảo hiểm, viễn thông cũng tạo ra nhiều việc làm mới. Cũng theo báo cáo của Vietnamworks, nhu cầu lao động ở những ngành dịch vụ như ngân hàng, tài chính, bảo hiểm là cao nhất trong năm 2007.
Một điểm cần lưu ý là khi vào WTO, cạnh tranh thị trường mạnh hơn, tức là người tìm việc chứ không phải việc tìm người. Vì vậy cần nhận thức rõ địa vị chủ động của người lao động, họ không chỉ là người nhận việc. Điều này tất yếu dẫn đến sự di chuyển lao động tăng lên giữa thành thị và nông thôn, giữa các khu vực và giữa các doanh nghiệp. Do đó, những hạn chế mang tính hành chính ngăn cản di chuyển lao động cần được bãi bỏ. Và điều quan trọng nhất là ảnh hưởng chủ yếu của gia nhập WTO đến việc làm về dài hạn là chất lượng chứ không phải là số lượng, đòi hỏi có thêm nhiều lao động tay nghề cao.
Việc làm vừa được tạo ra vừa bị mất đi khi thị trường được tự do hoá và những lợi thế so sánh di chuyển giữa các ngành nghề để đáp lại những thay đổi của thị trường. Việc làm chuyển từ ngành này sang ngành khác. Thách thức cho các nhà hoạch định chính sách là làm thế nào để tối đa hoá lợi ích và giảm thiểu sự mất đi việc làm, đồng thời quản lý tốt nhất sự di chuyển của việc làm và người lao động giữa các khu vực.
Về thu nhập của người lao động, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong năm qua có một kết quả rõ ràng là làm tăng thu nhập thực tế của người dân. Theo số liệu mới đây của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, thu nhập trung bình của người lao động trong khu vực doanh nghiệp năm 2007 tăng lên 10% so với năm 2006. Năm 2007 cũng là năm sản lượng và giá của nhiều loại nông sản chủ yếu đều tăng như gạo, cá, tôm, cà phê, cao su, hạt tiêu v.v. giúp thu nhập của người nông dân được cải thiện một bước.
Tuy nhiên điểm cần lưu ý là trong bối cảnh cạnh tranh, tiền lương thực tế của những lao động có trình độ tăng cao hơn so với người lao động không có tay nghề. Như vậy, bất bình đẳng thu nhập gia tăng do có sự khác biệt về mức lương giữa nhóm lao động có kỹ năng và khả năng thích ứng cao so với các nhóm lao động khác.
Hội nhập kinh tế tạo ra những cơ hội khác nhau về thu nhập của người lao động. Chẳng hạn, lao động trong các ngành xuất khẩu, dịch vụ có mức tăng trưởng thu nhập cao hơn do được hưởng lợi nhiều nhất khi hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Trong khi đó, nông dân là những người chưa được hưởng lợi nhiều bởi họ không tham gia xuất khẩu trực tiếp hàng hóa, điều đó đồng nghĩa với việc họ chưa thực sự hội nhập vào nền kinh tế thế giới.
Những nghiên cứu về kinh nghiệm một số nước trong khu vực như Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philippines là những nước tham gia hội nhập kinh tế quốc tế trước Việt Nam cho thấy nước nào thị trường càng mở cửa hơn cho bên ngoài, thì tiền lương thực tế càng tăng cao.
2.2. Nông nghiệp và nông thôn
Theo nhận định của nhiều chuyên gia, khu vực nông nghiệp và nông thôn, đặc biệt là ở những nước đang phát triển, là khu vực chịu nhiều tác động nhất khi gia nhập WTO. Người nông dân vốn đã không chuẩn bị cho mình đầy đủ kiến thức và điều kiện để thích ứng với một môi trường cạnh tranh khắc nghiệt khi mở cửa thị trường chắc chắn sẽ gặp phải nhiều khó khăn, nhất là khi không còn được nhà nước bảo trợ về giá nông sản nữa. Mặt khác, công nghệ mới thâm nhập vào nông nghiệp, sản xuất nông nghiệp hướng theo quy mô lớn và thâm canh tăng năng suất. Điều này dẫn đến kết quả là thiếu việc làm cho nông dân và một phần trong số họ sẽ lâm vào tình trạng thất nghiệp hoặc phải đi tìm các việc làm thay thế khác. Trong khi đó, đa số người nghèo lại là nông dân nên khi chịu những tác động kinh tế lớn, khu vực này tiềm ẩn nhiều vấn đề xã hội.
Hiện nay dân số sống ở nông thôn vẫn chiếm tới hơn 70% dân số cả nước và thu nhập của họ chủ yếu vẫn dựa vào nông nghiệp, đặc biệt là trồng lúa. 2/3 dân số Việt Nam ở nông thôn đang ở tình trạng kém phát triển với năng suất thấp so với 1/3 dân số thành thị. Những khó khăn hiện tại của người nông dân Việt Nam là rất rõ ràng khi họ phải chịu nhiều rủi ro của thiên tai cộng với chi phí sản xuất đầu vào lớn và phải trang trải nhiều chi phí đời sống khác như học hành, chữa bệnh... trong phạm vi thu nhập khiêm tốn hơn nhiều so với người dân ở đô thị. Nông nghiệp và đời sống của người nông dân Việt Nam được lo ngại hơn cả bởi những tác động khi gia nhập WTO.
Mặc dù vậy, thực tế trong năm qua chưa cho thấy có những tác động tiêu cực lên khu vực này như nhiều người đã dự đoán. Thay vào đó cơ hội cải thiện đời sống của người nông dân đã diễn ra nhờ cơ hội xuất khẩu nông sản nhiều hơn.Hầu hết hàng nông sản năm 2007 đều được giá nên giá trị xuất khẩu tăng mạnh.
Tổng kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng nông, lâm, thủy sản đạt trên 10 tỷ USD. Nhiều mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu 1 tỷ USD trở lên. Kim ngạch xuất khẩu cà phê đạt khoảng 1,7 tỷ USD (năm 2006 xuất khẩu gần 1 tỷ USD); thuỷ sản đạt 3,6 - 3,7 tỷ USD (năm 2006 đạt hơn 3 tỷ USD). Mặt hàng gỗ chế biến dự kiến đạt khoảng 2,5 tỷ USD; cao su khoảng 1,4 tỷ USD; xuất khẩu gạo trên 4,53 triệu tấn, đạt kim ngạch 1,4 tỷ USD... Nhiều hộ nông dân đã có thu nhập cao trong năm qua do được mùa và giá cao. Như vậy, có thể nói việc gia nhập WTO bước đầu đã đem lại những tác động tích cực cho người nông dân ở Việt Nam.
Theo những cam kết của Việt Nam khi vào WTO, các sản phẩm nông nghiệp dành cho tiêu dùng trong nước vẫn nhận được khoảng 10% trợ cấp của Nhà nước trên tổng mức tiêu dùng chung mặc dù trợ cấp dành cho nông sản xuất khẩu phải loại bỏ. Mức thuế quan trung bình đánh vào hàng nông sản giảm từ 23,5% xuống còn 20,9% vẫn là mức khá cao và mang tính bảo hộ cho nông nghiệp trong nước. Đồng thời, Việt Nam vẫn có thể duy trì một hệ thống hạn ngạch nhập khẩu nhằm bảo hộ sản xuất trong nước cho nhiều loại nông sản như mía, trứng, thuốc lá và muối. Đây là những thuận lợi chúng ta cần tận dụng để bảo vệ nền nông nghiệp và hỗ trợ nông dân trong bối cảnh Việt Nam gia nhập WTO.
Tác động tích cực nhất đối với nông nghiệp khi Việt Nam gia nhập WTO là mở ra những cơ hội để có thể hợp tác toàn diện trên lĩnh vực khoa học nông nghiệp với các nước phát triển, đẩy mạnh thu hút kỹ thuật nông nghiệp mới, nâng cao hàm lượng kỹ thuật của nông sản, chất lượng sản phẩm và sức cạnh tranh... có lợi cho điều chỉnh cơ cấu nông nghiệp và chuyển đổi sản phẩm của vùng nông thôn. Đồng thời, việc mở cửa thị trường bán lẻ sẽ kích thích lưu thông, phân phối và xuất khẩu nông sản.
Tuy nhiên, nông nghiệp và nông thôn Việt Nam cũng đang đứng trước một thách thức lớn là tình trạng thiếu việc làm. Điều này là xu thế tất yếu trong bối cảnh chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng tích cực với diện tích canh tác thu hẹp lại để chuyển mục đích sang công nghiệp và kết cấu hạ tầng cơ sở. Việc áp dụng máy móc và khoa học kỹ thuật nông nghiệp làm cho năng suất tăng cao hơn nhưng cũng sử dụng ít lao động hơn. Lực lượng lao động nông nghiệp dư ra là nguồn cung ứng lao động cho những ngành khác.
Thực tế cho thấy luồng lao động di cư từ nông thôn ra thành thị đang ngày càng tăng lên. Gia nhập WTO cũng có nghĩa là nhiều cơ hội việc làm được mở ra ở những ngành khác, nhất là ở thành thị và các khu công nghiệp. Vấn đề đáng chú ý ở đây là lực lượng lao động di cư từ nông thôn ra thành thị hầu hết phải làm những công việc không đòi hỏi tay nghề cao và có mức thu nhập thấp. Hơn thế nữa, việc di cư từ nông thôn ra thành thị dẫn đến tình trạng quá tải về cơ sở hạ tầng và các dịch vụ cơ bản ở những đô thị lớn, đòi hỏi phải có những giải pháp toàn diện.
Kinh nghiệm Trung Quốc về nông nghiệp và nông thôn là rất đáng để nghiên cứu. Kể từ khi bắt đầu gia nhập WTO, Trung Quốc đã hết sức chú trọng đến vấn đề giải quyết việc làm cho lực lượng lao động nông thôn. Trung Quốc thực hiện khẩu hiệu “Ai ai cũng có kiến thức”. Người lao động chưa qua đào tạo và trình độ thấp thì được đào tạo thông qua “chương trình ánh sáng tham gia đào tạo và hướng nghiệp” cho người lao động nông thôn. Chính phủ Trung Quốc còn áp dụng nhiều biện pháp khuyến khích tạo việc làm trong chiến dịch nông thôn mới, kể cả việc tăng cường đầu tư kết cấu hạ tầng cho nông thôn, xóa bỏ học phí cho vùng nông thôn. Ngoài Bộ Lao động và An sinh xã hội thì Bộ Dân chính cũng tham gia đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Bình quân hàng năm phải đào tạo khoảng 1 triệu người lao động cho vùng khó khăn. Với miền núi khó khăn, tập trung đào tạo nghề, đưa đến các khu vực phát triển để tìm việc làm, tạo ra nguồn thu nhập lớn cho vùng khó khăn.
Bên cạnh đó, Trung Quốc đã có các chính sách đẩy mạnh phát triển đô thị, tăng cơ hội việc làm và điều chỉnh cơ cấu sản phẩm của xí nghiệp hương trấn, đẩy mạnh mậu dịch gia công bên ngoài, đưa lao động đi xuất khẩu; tăng cường xây dựng kết cấu hạ tầng; phát triển nhiều ngành nghề mới và dịch vụ ở nông thôn...để tạo việc làm và tăng thu nhập giảm nghèo.
Trung Quốc có chính sách trợ giúp nông nghiệp, đó là điều chỉnh cơ cấu vùng miền. Vùng ven biển giảm diện tích trồng cây lương thực, phát triển nông nghiệp thu ngoại tệ, miền trung và miền tây phát triển nông nghiệp trồng trọt nhằm đảm bảo phát triển cân đối giữa các vùng miền, đặc biệt chú trọng đến vùng phía tây kém lợi thế so sánh. Trung Quốc thực hiện các cam kết WTO nhưng đồng thời hướng đến một nền nông nghiệp chất lượng cao thông qua việc hoàn thiện pháp luật về kiểm dịch động thực vật, hoàn thiện hệ thống tiêu
chuẩn chất lượng đối với sản phẩm trong nước. Người nông dân cũng được bảo vệ với nhiều biện pháp cụ thể như đẩy mạnh trợ giúp nông nghiệp, thực hiện chính sách 4 miễn đối với nông dân (miễn thuế nông nghiệp, thuế chăn nuôi, thuế đặc sản nông lâm, thuế giết mổ), giảm đóng góp cho nông dân; đẩy mạnh trợ giúp nông nghiệp, trợ cấp các hạng mục cho nông dân (giống, mua công cụ lớn, sản xuất nông nghiệp tổng hợp...); đẩy mạnh trợ giúp sản xuất nông nghiệp thông qua ứng dụng khoa học kỹ thuật, đào tạo nghề cho nông dân, tăng cường đầu tư kết cấu hạ tầng, xây dựng nông thôn mới; thúc đẩy cải cách hệ thống lưu thông sản phẩm.
Bài học cho Việt Nam ở đây là cần tạo điều kiện để lao động nông thôn di chuyển sang khu vực phi nông nghiệp. Năng suất lao động trong ngành công nghiệp và dịch vụ cao hơn gấp 6 lần lao động ở nông nghiệp và như vậy mỗi lao động nông nghiệp được chuyển sang khu vực khác sẽ tạo động lực đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế đất nước.
Chiến lược công nghiệp hoá ưu tiên phát triển các ngành sử dụng nhiều lao động song song với việc đẩy mạnh giáo dục cơ bản ở nông thôn là tiền đề để thực hiện sự phát triển trong công bằng. Đồng thời đầu tư vào kết cấu hạ tầng ở nông thôn tạo điều kiện cho nông dân đa dạng hoá nông phẩm và tiếp cận với thị trường, thực hiện được chính sách phát triển nhanh nhưng không mở rộng độ chênh lệch giàu nghèo trong quá trình phát triển.
2.3. Xoá đói giảm nghèo và công bằng xã hội
Thành tích xóa đói giảm nghèo của Việt Nam đã được thế giới đánh giá rất cao. 15 năm qua, Việt Nam là một trong những nước đạt được tốc độ giảm nghèo nhanh nhất thế giới. Tỷ lệ nghèo đói - tính bằng số người sống dưới mức 1USD/ngày – đã giảm từ khoảng 58% năm 1993 xuống còn 16% năm 2006. Năm 2007, sau một năm gia nhập WTO tỷ lệ nghèo lại tiếp tục giảm 6,28% so với cuối năm 2006.
Tỷ lệ nghèo đói ngày càng giảm của Việt Nam là nhờ những chính sách đem lại tốc độ tăng trưởng nhanh và liên tục, với tốc độ 7- 8% năm trong hơn một thập kỷ qua. Thành tích đó còn do Việt Nam có chính sách hạn chế gia tăng bất bình đẳng. Hệ số Gini, một chỉ số về bất bình đẳng thu nhập, chỉ tăng từ 0,34 năm 1993 lên 0,36 năm 2006 - thấp hơn các nền kinh tế mới nổi khác. Tỷ lệ người gần ngưỡng nghèo đói cũng giảm xuống và nếu theo xu hướng này có thể hy vọng nhiều người nữa thoát đòi nghèo trong tương lai gần.
Trong bối cảnh Việt Nam chính thức gia nhập WTO, tăng trưởng và giảm
nghèo đã diễn ra đồng đều ở cả thành thị và nông thôn. Tỷ lệ nghèo chỉ khoảng 4% dân số đô thị năm 2006 là mức tương đối thấp so với nhiều nước khác trong khi đó tỷ lệ này ở nông thôn cũng đang giảm nhanh chóng. Năm 1993, khoảng 2/3 dân số nông thôn được coi là nghèo, nay con số này giảm xuống còn 1/5.
Xóa đói giảm nghèo được tiến hành khắp các vùng, miền của Việt Nam. Tỷ lệ nghèo ở miền núi phía Bắc và Tây Nguyên mặc dù còn cao hơn hẳn so với các vùng khác chẳng hạn như Đồng bằng sông Cửu Long và Sông Hồng, nhưng cũng giảm khá nhanh. Tỷ lệ nghèo của người thiểu số giảm xuống rõ rệt. Như vậy không có vùng nào ở Việt Nam bị bỏ rơi trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Nhiều chuyên gia đã chỉ ra ba yếu tố dẫn đến tăng trưởng tương đối đồng đều cho mọi người ở Việt Nam, đó là giáo dục, thương mại và kết cấu hạ tầng.
Ngày nay Việt Nam đã có tỷ lệ người biết đọc biết viết lên đến 95%, cao hơn Trung Quốc và Ấn Độ, và đó là yếu tố quan trọng dẫn đến tăng trưởng cho mọi người.
Thành tích của Việt nam xuất khẩu nhiều loại sản phẩm và thu hút đầu tư nước ngoài nhờ những hiệp định thương mại song phương và với WTO đã làm tăng thu nhập cho nhiều người.
Kết cấu hạ tầng nông thôn, nhờ chương trình điện khí hoá và giao thông nông thôn giúp cho những khu vực xa xôi nhất của đất nước cũng không bị bỏ rơi. Ngày nay, khoảng 95% hộ gia đình có điện lưới, so với 50% đầu những năm 1990. Khoảng 90% dân số sống trong khoảng cách không quá 2 km tới đường có thể đi được trong mọi điều kiện thời tiết. Người dân nông thôn hiện nay đã có điều kiện tiếp cận dễ dàng với các phương tiện thông tin như radio và tivi, kể cả ở vùng sâu, vùng xa. Các phương tiện liên lạc như điện thoại hay internet ngày càng phổ biến ở nông thôn.
Mức độ giảm nghèo tiến bộ liên tục trong nhiều năm là nhờ Việt Nam đã có những bước đi đúng đắn và cụ thể, thể hiện rõ nhất trong việc thực hiện Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo với nhiều chương trình quốc gia được sự hỗ trợ lớn của ngân sách và các nguồn viện trợ quốc tế.
Những chương trình quốc gia về các lĩnh vực giáo dục, y tế, bảo hiểm, xóa đói giảm nghèo, an sinh xã hội đã cải thiện nhiều chỉ tiêu phát triển con người của Việt Nam như tuổi thọ, sử dụng nước sạch, tiến bộ về giới...
Tuy nhiên, một vấn đề đặt ra là xoá đói giảm nghèo đạt kết quả tốt nhưng lại đang có xu hướng gia tăng bất bình đẳng tuyệt đối. Theo số liệu thống kê, nhóm 20% người giàu nhất có mức chênh lệch về thu nhập và tiếp cận các dịch vụ gấp 6 lần so với nhóm 20% nghèo nhất. Xu hướng phân hóa giàu nghèo đang tăng trong nội bộ khu vực nông thôn, và đặc biệt là giữa nông thôn với đô thị. Mặc dù sự gia tăng chênh lệch giữa các vùng và giữa các nhóm người là tất yếu do phát triển kinh tế và mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, nếu để chênh lệch quá mức dẫn tới bất ổn xã hội sẽ thật sự là vấn đề đáng lo ngại và điều này cần được hết sức lưu ý.
3-Đánh giá chung
Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới đến nay mới được hơn một năm. Việc đánh giá tác động về mặt xã hội cần phải có nhiều thời gian hơn nữa và cần dựa trên những phân tích kỹ lưỡng hơn để đưa ra những kết luận rõ ràng. Tuy nhiên qua những diễn biến thực tế được phân tích ở trên, những ảnh hưởng về mặt xã hội khi Việt Nam gia nhập WTO có chiều hướng tích cực nhưng cũng có không ít vấn đề phải đối mặt. Có thể rút ra một số nhận xét sau đây.
Chỉ trong một thời gian ngắn trước khi vào WTO, đã có khoảng 30 bộ luật và pháp lệnh được sửa đổi cho phù hợp với các nguyên tắc và qui định của WTO, điều đó chứng tỏ Việt Nam thực hiện nghiêm túc các cam kết WTO và sẵn sàng đón nhận những thời cơ mới mà WTO mang lại.
Bên cạnh những con số ấn tượng đạt được về mặt kinh tế trong năm 2007, những vấn đề xã hội cũng được cải thiện một bước.
Việc làm tăng lên nhiều qua các năm, đặc biệt là ở khu vực đầu tư nước ngoài và khu vực dân doanh, chứng tỏ môi trường kinh doanh và đầu tư của Việt nam đã ngày càng được cải thiện, trong đó có phần nhờ thực hiện các cam kết WTO.
Việc cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước được tiến hành trong những năm qua được dự kiến là làm tăng tỷ lệ thất nghiệp. Tuy nhiên, với sự chuẩn bị tốt, Nhà nước đã có những chính sách hỗ trợ kịp thời đối với số lao động dư ra, do đó hầu như không có tình trạng thất nghiệp. Đây là một kết quả đáng khích lệ và cần tiếp tục đẩy mạnh cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước. Năm 2007, kế hoạch được đề ra là cổ phần hóa 500 doanh nghiệp nhà nước nhưng đến hết năm mới chỉ cổ phần hóa 116 doanh nghiệp, đạt 21%, là con số quá thấp so với chỉ tiêu đề ra.
Một số việc làm dự kiến sẽ bị mất đi trong thời gian sắp tới, đặc biệt là ở khu vực các doanh nghiệp nhà nước sẽ cổ phần hóa, ở những doanh nghiệp không còn nhận được sự bảo hộ của nhà nước theo cam kết của WTO, hay thậm chí ở một số ngành sử dụng nhiều lao động hiện nay có thể mất đi lợi thế cạnh tranh khi Việt Nam hội nhập sâu hơn với nền kinh tế thế giới. Tuy nhiên, dự kiến tác động này là có tính cục bộ, không quá lớn và chỉ mang tính ngắn hạn. Mặc dù vậy, cũng cần có những nghiên cứu đánh giá kỹ tác động tới việc làm theo từng ngành cụ thể để có những giải pháp kịp thời.
Về tổng thể, hội nhập sẽ tạo ra nhiều cơ hội việc làm hơn, phần lớn người lao động sẽ có cơ hội làm việc tốt hơn, đặc biệt là người lao động có trình độ, có kỹ năng, nhưng cũng có một bộ phận bị mất việc làm, nhất là những người không có tay nghề.
Thu nhập của người lao động được tăng lên, đặc biệt là ở khu vực doanh nghiệp. Có thể nói điều đó có được là do trong môi trường cạnh tranh hơn, các doanh nghiệp đã có những biện pháp đổi mới kinh doanh theo hướng hiệu quả hơn, năng suất cao hơn và nhờ đó thu nhập của người lao động cũng tăng lên.
Tuy nhiên, thực tế lạm phát tăng nhanh trong năm qua cần có biện pháp xử lý hiệu quả. Lạm phát tăng cao và kéo dài sẽ làm cho thu nhập thực tế của người dân giảm xuống. Theo một nghiên cứu mới đây của Ngân hàng Thế giới, GDP đầu người tính theo sức mua tương đương (PPP) của Việt Nam giảm 30% năm 2007. Hơn nữa, lạm phát cao nếu không ngăn chặn kịp thời sẽ kìm hãm tăng trưởng và thậm chí có thể dẫn đến những bất ổn xã hội.
Việc tiền lương tăng lên phản ánh một thực tế là nhu cầu về lao động tăng lên, đặc biệt là đối với lực lượng lao động có kỹ năng, cho thấy có khả năng thiếu hụt ở nhóm lao động này.
Vấn đề công bằng và bất bình đẳng của Việt Nam đã được giải quyết khá tốt và được thế giới đánh giá cao. Công tác xóa đói giảm nghèo đạt được tiến bộ lớn nhờ những chính sách phát triển lấy trọng tâm là con người và vì người nghèo của Việt Nam được thực hiện trong nhiều năm qua.
Tuy nhiên, cần quan tâm đến sự chênh lệch giàu nghèo đang có xu hướng nới rộng ra giữa người có tay nghề và người không có tay nghề, giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng miền. Giải quyết tốt vấn đề chênh lệch giàu nghèo là tiền đề quan trọng cho sự phát triển bền vững.
Vấn đề cần quan tâm nhất là việc làm cho người nông dân. Đây không phải hoàn toàn là vấn đề của riêng việc Việt Nam gia nhập WTO mà là vấn đề mang tính cơ bản, chiến lược và lâu dài. Tình trạng thiếu việc làm của người nông dân là kết quả tất yếu của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Việt Nam đã và đang có nhiều chính sách hỗ trợ khá hiệu quả cho quá trình này, đặc biệt là những chương trình xóa đói giảm nghèo, chương trình công nghiệp hóa hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn. Thực tế cho thấy đời sống của người nông dân nhìn chung đã được cải thiện. Tuy nhiên, nhiều vấn đề cần được giải quyết, đó là việc di dân theo chiều hướng khó kiểm soát về thành thị, tình trạng tái nghèo, tình trạng bỏ học tăng lên ở lứa trẻ, đời sống khó khăn của người dân tộc thiểu số, vùng xa, vùng sâu.
Cuối cùng, để phát huy những thuận lợi về mặt kinh tế và xã hội do việc gia nhập WTO mang lại cho Việt Nam, thúc đẩy quá trình hội nhập sâu hơn và cạnh tranh được với các quốc gia khác, một điều không thể thiếu là xây dựng một mạng lưới an sinh xã hội, đảm bảo cho mọi người có một cuộc sống an toàn. Thực tế cho thấy hệ thống an sinh của Việt Nam hiện nay còn thiếu và yếu.
Chắc chắn, việc Việt Nam gia nhập WTO còn có những ảnh hưởng khác về mặt xã hội như môi trường, quan hệ xã hội và đạo đức xã hội rất cần được nghiên cứu đánh giá. Những vấn đề ấy nằm ngoài phạm vi đề cập của chuyên đề này.
II- TRANH THỦ PHÁT HUY THỜI CƠ VÀ THUẬN LỢI VỀ MẶT XÃ HỘI
KHI GIA NHẬP WTO – MỘT SỐ VIỆC CẦN LÀM
1- Thể chế và chỉ đạo, điều hành của Chính phủ
Muốn phát huy được những thời cơ và thuận lợi, hạn chế những khó khăn thách thức cả về mặt kinh tế lẫn xã hội khi chúng ta vào WTO, điều đầu tiên và quan trọng nhất là tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường phù hợp với những cam kết của WTO.
Vào WTO, chúng ta tham gia vào một “sân chơi” toàn cầu với sự cạnh tranh quyết liệt hơn nhưng cũng bình đẳng hơn. Thể chế Nhà nước đóng một vị trí rất quan trọng trong việc gia nhập sâu rộng vào sân chơi toàn cầu đó và thúc đẩy sự phát triển bền vững của nền kinh tế Việt Nam. Xây dựng một khung khổ thể chế ở Việt Nam, tạo ra được một hành lang an toàn cho nền kinh tế, một trật tự ổn định cho cuộc sống của người dân, các lợi ích, quyền và nghĩa vụ của từng cá nhân, của các cộng đồng đều được điều chỉnh trong một môi trường đồng thuận hoàn toàn phù hợp với những nguyên tắc của WTO.
Thể chế thể hiện thành pháp luật cần phải có vị trí tối thượng và mọi hoạt động của cơ quan nhà nước phải công khai, dựa trên pháp luật. Nhà nước tạo điều kiện nâng cao vai trò phản biện xã hội, giám sát xã hội của xã hội dân sự, tăng cường sự tham gia của cộng đồng để người dân chủ động bàn định các chính sách quốc gia và thực hiện quyền giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước từ lập pháp, hành pháp đến tư pháp.
Nhà nước cần tập trung nỗ lực hoàn thiện một môi trường pháp lý và chính sách thuận lợi để phát huy mọi nguồn lực của xã hội. Môi trường pháp lý đó phải lấy công khai, minh bạch làm nguyên tắc hàng đầu, lấy cạnh tranh bình đẳng và lành mạnh giữa các chủ thể hoạt động kinh doanh làm cơ sở nền tảng, việc trao quyền cho người dân phải được lấy làm mục tiêu và người thực thi công vụ phải luôn ý thức được trách nhiệm giải trình trước dân. Nhà nước kiểm tra, giám sát để bảo đảm trật tự, kỷ cương xã hội.
Sự điều hành của Chính phủ chỉ tập trung làm tốt những gì thực sự cần thiết thuộc về chức năng của Nhà nước, trả lại cho xã hội những công việc mà xã hội có thể làm tốt hơn.
Phương thức can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế phải thật sự chuyển từ những công cụ quản lý trực tiếp sang công cụ quản lý gián tiếp, dựa trên cơ sở vận dụng đúng đắn thế mạnh của cơ chế thị trường.
Chính phủ phải nâng cao chất lượng xây dựng và giám sát việc tuân thủ các qui tắc, chuẩn mực kinh tế - xã hội; trong đó có cơ sở pháp luật – thể chế đảm bảo các điều kiện cho sự hình thành và hoạt động hiệu quả của thị trường. Nhà nước đóng vai trò hỗ trợ phát triển thông qua xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội quan trọng, hệ thống an sinh xã hội.
Kiêt quyết chống tham nhũng, đẩy mạnh cải cách hành chính theo hướng phụcmvụ thật tốt cho người dân và doanh nghiệp, sử dụng hiệu quả các dự án đầu tư của nhà nước, từ nguồn vốn ODA, nhất là về phát triển kết cấu hạ tầng.
2- Xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Một xã hội công bằng là xã hội trong đó mọi người đều có cơ hội học tập và lao động, được hưởng đúng phần đáng được hưởng từ thành quả của mình, được tự do làm những gì mà luật pháp không cấm.
Nhưng công bằng không có nghĩa là cào bằng, bình quân chủ nghĩa, người làm nhiều lại được hưởng thụ và đánh giá như người làm ít. Công bằng trước hết là sự bình đẳng trong cơ hội, cơ hội học tập, cơ hội làm việc, cơ hội kinh doanh. Cùng với công bằng cơ hội là công bằng trong phân phối thu nhập (nhưng không phải đồng đều).
Công bằng, dân chủ là điều kiện để đảm bảo trình độ văn minh của xã hội, là yếu tố cần thiết để phát triển bền vững kinh tế quốc gia. Xã hội văn minh là xã hội trong đó mọi công dân ý thức được nghĩa vụ, trách nhiệm của mình và tự giác thực hiện nghĩa vụ đó đối với xã hội. Xã hội văn minh là xã hội có kỷ cương, nề nếp, con người lao động có năng suất cao, có đời sống vật chất đầy đủ và đời sống tinh thần phong phú, lành mạnh, con người được tôn trọng, được tự do phát triển về tài năng và nhân cách.
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, để đảm bảo sự phát triển bền vững thì một trong những điều kiện quan trọng hàng đầu là phải xây dựng được một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đó cũng là mục tiêu của toàn Đảng, Nhà nước và toàn dân ta.
Xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh thì chỉ có thể dựa trên cơ sở mọi thành viên trong xã hội sống và làm việc theo pháp luật, đề cao và tôn trọng pháp luật với tinh thần của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
3- Phát triển thị trường lao động cạnh tranh và chất lượng cao
Điều quan trọng để Việt Nam hội nhập vững chắc vào thị trường thế giới là phải có được một đội ngũ lao động có chất lượng, có khả năng cạnh tranh cao, có khă năng thích ứng với thị trường và khai thác những cơ hội tốt hơn đang rộng mở cho tất cả mọi người. Chất lượng lực lượng lao động thể hiện thứ nhất ở trình độ chuyên môn, tay nghề, kỹ năng hành nghề và tính linh hoạt nghề; thứ hai là tinh thần chấp hành kỷ luật, hiểu biết pháp luật và ý thức hành động theo luật pháp; và thứ ba là văn hoá ứng xử trong công việc mang tính chuyên nghiệp.
Bởi vậy, các chính sách về thị trường lao động phải được điều chỉnh để tạo điều kiện cho sự dịch chuyển lao động phù hợp với kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.
Trước hết, phải hoàn thiện khung pháp lý, thể chế, chính sách và sự quản lý của Nhà nước đối với hoạt động của thị trường lao động, thiết thực hỗ trợ sự phát triển thị trường lao động phù hợp với các thông lệ quốc tế và cam kết quốc tế của Việt Nam.
Xây dựng hệ thống luật pháp về lao động và thị trường lao động cần chú ý đến việc bảo đảm quyền lựa chọn chỗ làm việc và cư trú của người lao động. Chế độ hợp đồng lao động cần được thực hiện rộng rãi để bảo đảm quyền lợi của cả người lao động và người sử dụng lao động. Trong quan hệ lao động giữa chủ sử dụng lao động và người lao động, vai trò của công đoàn có ý nghĩa quan trọng.
Nếu yêu cầu việc làm cũng như những đòi hỏi chính đáng khác của người lao động không được giải quyết, cả hiện tại và tương lai, thì nhiều hậu quả xã hội như bất bình đẳng xã hội, xung đột xã hội, tội phạm và tệ nạn xã hội có thể gia tăng mà tốc độ tăng trưởng kinh tế cao đến đâu cũng không thể bù đắp nổi những tổn thất và hệ lụy xã hội
Chính sách tiền lương phải được thực hiện theo hướng thị trường hóa việc trả công cho người lao động, bảo đảm cho tiền lương trở thành động lực thực sự kích thích người lao động nâng cao năng suất, và ngược lại, chính hiệu quả và năng suất lao động quyết định tiền lương. Nhà nước điều tiết thị trường lao động thông qua áp dụng qui định mức lương tối thiểu chung. Mức lương tối thiểu này cần được nghiên cứu tính toán khoa học, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế và được điều chỉnh tăng dần.
Các chính sách hỗ trợ khác bao gồm các chính sách đồng bộ về thông tin thị trường lao động, tuyển dụng, hợp đồng lao động, dịch vụ việc làm, hỗ trợ chuyển đổi công việc. Những biện pháp hỗ trợ này cần được thông tin nhanh nhất và ít chi phí tìm kiếm nhất cho cả người lao động và người sử dụng lao động.
Điểm quan trọng là chính sách đào tạo và dạy nghề cần được đổi mới dựa trên những đòi hỏi của thị trường. Nhà nước có chính sách hỗ trợ người lao động đi học nghề và tìm việc. Có chính sách ưu đãi các doanh nghiệp thu hút nhiều lao động, nhất là ở khu vực nông thôn.
Với thực trạng lực lượng lao động dồi dào và trẻ của Việt Nam, nhất là lao động ở nông thôn, một biện pháp hữu hiệu là đẩy mạnh xuất khẩu lao động, đặc biệt là lao động đã qua đào tạo nghề, lao động nông nghiệp.
Chính phủ cần nghiên cứu, đánh giá tác động của việc mở cửa, gia nhập WTO
đối với việc làm trong giai đoạn hiện nay để có chiến lược phát triển thị trường lao động một cách phù hợp. Việc nghiên cứu tác động của việc gia nhập WTO phải sát thực tế, dự đoán được sự vận động của vấn đề, và đặc biệt cần có sự phối hợp và lồng ghép giữa hành động của ngành và của lĩnh vực.
Cuối cùng, một điểm cần hết sức lưu ý là, một lực lượng lao động rẻ, và trình độ tay nghề không cao có thể là lợi thế hiện tại nhưng sẽ kém khả năng cạnh tranh khi kinh tế phát triển hơn nữa. Chiến lược đẩy mạnh xuất khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài dựa vào lợi thế nhân công rẻ có thể giúp giải quyết vấn đề việc làm trước mắt nhưng không phát huy được vai trò trong trung hạn và dài hạn, thậm chí có thể tạo ra trở lực cho phát triển. Trong bối cảnh thị trường thế giới có giá cả bị áp đặt, thành công trong cạnh tranh của Việt Nam phụ thuộc rất nhiều vào khả năng duy trì sức cạnh tranh tại khu vực. Sức cạnh tranh này phụ thuộc vào hai yếu tố chính: mức chi phí nhân công và năng suất. Chi phí nhân công thấp là đặc điểm chung của cả khu vực mà Việt Nam nằm trong đó, do vậy, chỉ có chất lượng lao động mới có thể tạo ra sự khác biệt của Việt Nam trong cạnh tranh. Chiến lược phát triển nguồn nhân lực của Việt Nam cần phải hướng vào chất lượng cao.
4. Công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn
Chính phủ cần tiến tới một phương án mang tính cơ bản, lâu dài với một chiến lược hoàn chỉnh đối với nông nghiệp, nông thôn và nông dân (tam nông). Chính sách đó cần quán triệt sâu sắc các quan điểm, mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn đã được đề ra nhưng được đặt trong điều kiện thực tiễn mới - các nội dung đã cam kết khi gia nhập WTO. Kế hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn phải hướng tới bốn lĩnh vực chủ yếu: tập trung xây dựng hạ tầng cho nông nghiệp và nông thôn; tạo môi trường đầu tư thuận lợi cho kinh tế nông thôn; chuyển giao tiến bộ khoa học - công nghệ; và tạo sự liên kết chặt chẽ nông thôn - thành thị. Về vấn đề này, kinh nghiệm của Trung Quốc như đã trình bày ở phần trên sẽ là những bài học hữu ích cho Việt Nam.
Đã có nhiều chương trình hỗ trợ cho khu vực nông nghiệp, nông thôn được xây dựng, vấn đề là nhanh chóng hiện thực hóa các chính sách, các biện pháp trợ giúp cho người dân, doanh nghiệp để tăng năng lực sản xuất, cạnh tranh với sản phẩm nông nghiệp của các nền kinh tế khác.
Đối với nguời nông dân, đất canh tác là tư liệu quan trọng nhất, do đó việc thu hồi đất nông nghiệp để phát triển đô thị, KCN, giao thông... đồng nghĩa với việc nguời nông dân bị mất việc làm và hậu quả xã hội là nạn thất nghiệp gia tăng, tệ nạn xã hội phát triển, đặc biệt bức xúc ở khu vực ven đô các thành phố lớn, gây ra những bất ổn tiềm tàng nếu không có giải pháp kịp thời có thể gây ra những hậu quả khôn lường về an ninh và trật tự xã hội.
Vì vậy, vấn đề cốt lõi là làm sao khi gia nhập WTO, phải giúp cho bằng được 70% nông dân Việt Nam khá lên.
Giải pháp trước hết là hỗ trợ sự dịch chuyển lao động từ nông nghiệp sang khu vực phi nông nghiệp. Sự dịch chuyển này có thể diễn ra bằng hai cách. Một là thu hút lao động ra khỏi khu vực nông thôn về các khu công nghiệp, thường tập trung ở vùng đô thị. Hai là đưa công nghiệp, dịch vụ về nông thôn, phát triển làng nghề. Cả hai cách đó cần được thực hiện đồng thời. Nhà nước cần đầu tư đào tạo nghề cho nông dân để đối phó với sự dịch chuyển trong nông nghiệp, tập trung đào tạo nghề cho lực lượng trẻ, lao động nữ, hỗ trợ học phí cho người học nghề.
Thứ hai là hỗ trợ nông dân những gì WTO không cấm, qua đó tận dụng một cách hiệu quả những ưu đãi cho nông nghiệp. Khi gia nhập WTO, phải xóa bỏ chính sách trợ giá, nhưng phải tận dụng được ưu đãi mà WTO cho phép (còn được gọi là Hộp xanh) như thủy lợi, hệ thống tưới tiêu, cải tạo đất đai, khuyến nông, nghiên cứu áp dụng khoa học - công nghệ vào nông nghiệp. Ở khía cạnh này, Nhà nước và các tổ chức phi Chính phủ đóng vai trò quan trọng và cùng nhau chia sẻ gánh nặng tài chính.
Thứ ba, Nhà nước cần tăng đầu tư về nông thôn, tập trung đầu tư cho khoa học công nghệ và xây dựng kết cấu hạ tầng.
Thứ tư, tập trung vào xúc tiến thương mại và cung cấp thông tin tới nông dân. Bên cạnh những thông tin thị trường và khoa học kỹ thuật, cần xây dựng hệ thống thông tin thị trường lao động, cung cấp đầy đủ những thông tin cần thiết về lao động và tổ chức các dịch vụ giới thiệu việc làm ở khắp các vùng nông thôn, nơi có nhiều thanh niên đang thiếu việc làm và sẵn sàng di cư để tìm kiếm việc làm.
Thứ năm, có chính sách hỗ trợ để nâng cao tiêu chuẩn và chất lượng của sản phẩm nông nghiệp, đảm bảo sức cạnh tranh trên trường quốc tế. Khi đứng vững trên sân chơi WTO thì kinh tế nông nghiệp tiếp tục trở thành động lực rất quan trọng thúc đẩy công cuộc xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam.
5. Hệ thống an sinh xã hội
Mục tiêu của hệ thống an sinh xã hội là đảm bảo cho mọi công dân, không loại trừ một ai, được yên tâm trước mọi rủi ro có thể xảy ra đối với đời sống của họ.
Hệ thống an sinh xã hội hiện nay ở Việt Nam bao gồm các chương trình dành cho người lao động ở khu vực chính quy cộng với trợ giúp xã hội thông qua các chương trình mục tiêu và các hình thức hỗ trợ khác dành cho những người thiệt thòi. Tuy nhiên, hệ thống an sinh hiện nay theo nhiều đánh giá còn thiếu và yếu. Mức hưởng an sinh xã hội của nhóm người có thu nhập cao rất lớn trong khi người có thu nhập thấp, ở nông thôn, miền núi chiếm tỷ lệ rất hạn chế. Theo tài liệu công bố của chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP), những gia đình được hưởng nhiều an sinh xã hội nhất (40%) lại thuộc vào nhóm thu nhậpcao nhất Việt Nam, trong khi nhóm nghèo nhất chỉ nhận được chưa đến 7%.
Cũng theo nghiên cứu này, xét về tỷ lệ được hưởng an sinh xã hội, nhóm 20% dân số giàu nhất trong xã hội Việt Nam hưởng cao gấp 6 lần nhóm người nghèo. Nhóm liền kề nhóm giàu hưởng cao gấp 4 lần nhóm người nghèo.
Mục tiêu phát triển của Việt Nam là nâng tỷ lệ giảm nghèo hàng năm từ 2% hiện nay lên 3%. Trong khi đó, theo một nghiên cứu mới đây của nhóm các nhà khoa học thuộc Trung tâm Phân tích chính sách xã hội, thuốc ĐHTH Bath (Anh), về chính sách an sinh xã hội của Việt Nam, tỷ lệ nghèo có thể tăng 4,6% nếu không có khoản trợ cấp an sinh xã hội. Những vấn đề hiện nay của hệ thống an sinh xã hội của Việt Nam nếu không được giải quyết tốt sẽ dẫn đến hệ quả làm thui chột những thành quả tăng trưởng kinh tế, làm trầm trọng thêm những vấn đề xã hội và cuối cùng là ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của lực lượng lao động. Do đó, cần một phương pháp tiếp cận hiện đại và thích hợp để giúp người dân đối phó với những rủi ro có thể xảy ra với sinh kế và sức khỏe của mình, đồng thời tránh bị tái nghèo chỉ vì những bất an trong cuộc sống như ốm đau, khuyết tật, mất việc làm, nuôi con và tuổi cao.
Hệ thống an sinh xã hội Việt Nam cần được xây dựng trên ba nguyên tắc cơ bản: Một là, phải giải quyết được những vấn đề trong giai đoạn chuyển đổi của Việt Nam, mang tính kế thừa và phát triển. Hai là, phải mang tính xã hội. Ba là, phải đảm bảo độ an toàn và có yếu tố bền vững. Hệ thống phải thúc đẩy có hiệu quả nền kinh tế thị trường, giảm tối đa rủi ro trong quá trình phát triển, đáp ứng mục tiêu tăng trưởng kinh tế gắn với xoá đói giảm nghèo trong từng bước phát triển của Việt Nam
Trước hết cần tạo khung pháp lý hoàn chỉnh về an sinh xã hội. Quốc hội chuẩn bị thông qua Luật Bảo hiểm xã hội mới quy định ba hình thức bảo hiểm là bảo hiểm bắt buộc, bảo hiểm tự nguyện và bảo hiểm thất nghiệp. Điểm quan trọng là cần đổi mới chính sách bảo hiểm sao cho tách bạch rõ chức năng bảo hiểm và chức năng phân phối lại mà hiện nay hệ thống bảo hiểm xã hội vẫn đang đảm nhận. Đặc biệt cần cải tiến chế độ thu và chi bảo hiểm nhằm tạo điều kiện cho người lao động không bị ràng buộc bởi một đơn vị hay thành phần kinh tế nào, cho dù người đó là lao động tự do, miễn là họ tham gia đóng bảo hiểm đầy đủ theo nghĩa vụ, đúng pháp luật. Điều này giúp cho thị trường lao động trở nên linh hoạt hơn, và người lao động được tự chủ trong tìm kiếm việc làm phù hợp với khả năng và điều kiện của mình. Trong tương lai gần, cần hướng tới xây dựng chế độ bảo hiểm xã hội toàn dân và mang tính bắt buộc.
Cơ hội tất nhiên lớn với người lao động khi Việt Nam hội nhập nhưng để giảm tối đa những thách thức, bảo vệ quyền lợi người lao động thì cần đẩy mạnh thực thi các chính sách tạo việc làm thông qua khuyến khích doanh nghiệp phát triển, khuyến khích đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.
Bên cạnh đó, sự tham gia của xã hội dân sự đối với chăm sóc sức khỏe, y tế và giáo dục cần được hết sức khuyến khích để bổ sung cho hệ thống an sinh xã hội cũng như để san sẻ gánh nặng tài chính của Nhà nước. Một ví dụ của các nước phát triển là gắn trách nhiệm xã hội với doanh nghiệp như chia sẻ gánh nặng bảo hiểm, có chính sách khuyến khích (giảm thuế) đối với những doanh nghiệp tuyển dụng nhiều lao động nữ, hay sử dụng người tàn tật, người dân tộc thiểu số.
Cần hết sức chú ý đến những nhóm người dễ bị tổn thương. Nhóm người dễ bị tổn thương là: nông dân bị mất đất canh tác, bị thiên tai dịch bệnh, những người bị rủi ro cá nhân, người khuyết tật, đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, người di cư tự do vào các đô thị, người nghèo và cận nghèo. Chính sách xã hội phải hướng tới nhóm người này, trong đó người nghèo, trẻ em, phụ nữ, người già, người tàn tật là những người cần được quan tâm nhiều nhất và chắc chắn rằng họ phải được hưởng chế độ an sinh xã hội đầy đủ.
Cần đổi mới chính sách giáo dục và y tế sao cho mọi người dân đều có cơ hội
công bằng để tiếp cận với những dịch vụ quan trọng cơ bản này. Xã hội hóa các dịch vụ xã hội là quan trọng, nhưng phải đảm bảo việc tiếp cận dễ dàng đối với các nhóm xã hội yếu thế. Điều này có ý nghĩa an sinh xã hội rất lớn, có thể góp phần quan trọng vào việc cải thiện kỹ năng và sức khỏe cho lực lượng lao động quốc gia, đảm bảo chất lượng cho lực lượng lao động. Những chính sách hỗ trợ hiện nay như cho học sinh nghèo vay tiền đi học cũng như khám, chữa bệnh miễn phí cho trẻ em và người nghèo chắc chắn sẽ mang lại những hiệu quả xã hội tích cực.
III- THAY LỜI KẾT
Gia nhập WTO mang lại nhiều thuận lợi cho Việt Nam cả về kinh tế lẫn xã hội. Việc tham gia vào sân chơi kinh tế toàn cầu này giúp Việt Nam thúc đẩy nhanh hơn nữa những cải cách mà chúng ta theo đuổi, góp phần thực hiện nhanh hơn những mục tiêu kinh tế và xã hội mà Đảng và Nhà nước đã đề ra.
Khi các tiêu chí tự do hoá thị trường được cam kết và thực thi, các chính sách xã hội liên quan đến thất nghiệp, mạng lưới an sinh xã hội, đào tạo và đào tạo lại cần được đánh giá, xem xét lại kỹ lưỡng để có sự điều chỉnh phù hợp. Việc đưa những chính sách đó vào thực tiễn không chỉ là vai trò của riêng Nhà nước mà cần sự đóng góp của tất cả mọi người, của cả người lao động và người sử dụng lao động, của cả người già và người trẻ, của cả công nhân, nông dân, trí thức và của mọi tổ chức xã hội dân sự. Điều quan trọng nhất là phải thực hiện nhất quán mục tiêu tối đa hoá lợi ích tổng thể của hội nhập kinh tế quốc tế bằng việc chấp nhận một số tốn phí của sự điều chỉnh trong ngắn hạn để đổi lấy những lợi ích dài hạn. Tận dụng được thật nhiều cơ hội cũng có nghĩa là hạn chế được thách thức nảy sinh trong quá trình toàn cầu hoá.
Gia nhập WTO cho phép Việt Nam bước hẳn vào nền kinh tế thế giới. Để tiến lên một cách bền vững, các chính sách của nhà nước về xã hội đóng vai trò cốt yếu.
CIEM – Trung tâm Thông tin – Tư liệu