Ngày 29 tháng 05 năm 2008

Hợp tác đa ngành


Hợp tác đa ngành

Ngày nay, chúng ta đang trong thời kỳ của việc hợp tác liên ngành, hợp tác là một chủ đề không giới hạn riêng biệt trong bối cảnh các vấn đề xã hội hôm nay. Khả năng thực tế khi chúng ta đối diện với những nguồn lực hạn chế thì hợp tác là sự cố gắng thu hút những nguồn lực, kinh phí hiệu quả từ đồng nghiệp, các tổ chức khác có thể cung cấp hiệu quả để bù đắp những tài nguyên thiếu hụt. Trong một thời gian nhất định, khi có những vấn đề lớn tác động đến cộng đồng, tổ chức, nhân viên xã hội (NVXH) không thể phục vụ cho cộng đồng hoặc có những giải pháp để giải quyết những vấn đề xã hội hiệu quả và thiết thực vì thế NVXH cần thiết lập đối tác với các tổ chức, cá nhân khác để đạt được những hoạt động hiệu quả.

Những rủi ro khi tiến hành hợp tác.

Hợp tác là một phạm vi mà nó thường gây ra sự hiểu lầm và hiểu không đúng bởi tính đa ngành. Nhiều người đã có kinh nghiệm rất nhiều trong hợp tác nhưng không có bao nhiêu người đưa ra những cách thức để áp dụng hoặc gợi ý để áp dụng cho việc hợp tác. Sự phù hợp của hợp tác liên ngành đòi hỏi vượt qua những giới hạn chuyên nghiệp trong những lĩnh vực không giống nhau. Hợp tác liên ngành cũng có những thách thức cho chúng ta trong việc hoạch định các tiền đề của những lĩnh vực khác nhau, học hỏi những ngôn ngữ mới, và cũng thấy được những khó khăn thông qua phương huớng mới.

Hợp tác liên ngành khác nhau từ thực tiễn phổ biến trong thực tế chẳng hạn như làm việc nhóm, liên kết, và đối tác. Xét về mặt hỗ trợ lẫn nhau thì các thành phần liên kết có nghĩa là tìm kiếm những ngành và phạm vi khác nhau cùng làm việc với nhau. Vì thế, làm việc nhóm trong một tổ chức có thể không cần thiết phải gắn vào những giới hạn của nghề nghiệp riêng biệt của tổ chức đó.

Không chỉ tiến hành bằng cảm tính

Hợp tác sẽ không có lợi ích nếu nó là sự kết hợp theo hình thức, ý nghĩa hợp tác là một liên kết để đóng góp công sức hòa cùng với tính thích hợp của kiến thức, kỹ năng gắn kết của cá nhân, nhóm vào những giá trị nghề nghiệp. Chúng ta phải tin là chúng ta sẽ thành công khi làm việc chung với nhiều người khác hơn là làm việc một mình và thành công hơn nữa nếu những người mà chúng ta làm việc sẵn sàng hỗ trợ về tài nguyên, sự thành thạo, và đa dạng về ngành nghề.

Nhiều NVXH đã nỗ lực tin rằng khi họ làm việc chung với những tổ chức khác là họ đang tham gia vào hợp tác liên ngành. Tuy nhiên, chìa khóa để hiểu nền tảng của vấn đề là những giới hạn nghề nghiệp của chúng ta. Có nhiều ví dụ về sự hợp tác liên ngành đã được mô tả trong lĩnh vực hoạt động giữa NVXH và các ngành khác trong từng dự án khác nhau như các dự án về sức khỏe, giáo dục, xóa đói giảm nghèo…đó là nhóm tập trung nhiều lĩnh vực khác nhau cùng nhau chia sẻ những tiến độ và cách thức thực hiện. Giáo dục, truyền thông cần huy động nhiều thành phần tham gia: cơ quan đoàn thể, giáo viên, bác sĩ, và NVXH…. Sự đa dạng sẽ đảm bảo hơn khi có cả những đại diện của cộng đồng, nhóm những người hưởng lợi, và khách hàng và các dịch vụ hỗ trợ khác cùng có cơ hội ngồi lại với nhau, cùng nhau bàn bạc và làm việc.

Theo Alter (2000) đề xuất một công thức cho việc hợp tác: “Các đối tác của việc hợp tác thường liên quan đến đầu mối các dự án với vài người thực hiện. Trên thực tế, những mạng lưới, lĩnh vực khác nhau, cần tính toán nhiều hơn đến các thành phần liên quan hơn là chỉ đề cập đến những đầu mối. Tuy nhiên, tiến trình của hợp tác cần diễn ra trong sự xác thực về kiểu cách và phù hợp trong việc sáng tạo của những thực thể như các đối tác, những mạng lưới, và những người có lợi ích khi tham gia.”

Lợi ích

Lợi ích của việc liên kết là rất lớn. Trước tiên, liên kết với nhiều lĩnh vực với nhiều tổ chức trong nhiều ngành nghề khác nhau có thể hợp pháp hóa một vấn đề. Lợi ích từ việc liên kết là tính điều phối diễn ra trong việc tham gia trong nhóm, đó là đầu tư trong vấn đề cần thực hiện. Hợp tác sẽ huy động được nhiều sáng kiến từ nhiều cá nhân, bởi vì mỗi cá nhân tại thời điểm thảo luận sẽ đóng góp những sáng kiến cho công viêc được thực hiện hiệu quả. Bên cạnh việc điều phối cho các hoạt động về các nguồn lực và sáng kiến mang lại các dự án có hợp tác dễ dàng thực hiện.

Không chỉ tổ chức của bạn có cơ hội để đạt những tài nguyên từ những tổ chức khác trong tổ chức hợp tác, nhưng trong một thời điểm khi có sự đề cử cho nhiều tổ chức khác, hợp tác cũng có thể thuyết phục những nguồn lực lớn mà tổ chức của bạn không chỉ cam kết để đến những người bạn phục vụ và vấn đề bạn giải quyết nhưng bạn nhận biết cách làm để giải quyết vấn đề không thể hoàn thành bởi chính tổ chức của bạn thông qua những tài nguyên, nguồn lực được hỗ trợ. Bên cạnh đó, chúng ta cũng phải chú ý về những nguồn lực lớn để mở rộng sự hợp tác bao hàm mọi thành phần liên quan, hợp tác thường có nghĩa là đối tác với nhiều hơn một hoặc hai tổ chức khác nhau.

Thách thức

Chúng ta có thể bị áp lực về những khó khăn về những người phản đối việc hợp tác khi mới bắt đầu. Thường đó là những thách thức trong mối quan hệ của việc hợp tác, nó có thể kiềm chế một số tổ chức đứng lại trong việc cam kết hợp tác. Một thách thức là phân bố thời gian, tiền bạc, và thông tin đến từ vịệc lập kế họach và thủ tục cho tiến trình hợp tác. Những người đã có liên quan trong việc hợp tác hiểu rằng thời gian chắc chắn đầu tư việc họp, tiền cho người làm việc để tham gia vào hợp tác, và thông tin cần thiết để chia sẻ với người khác trong khi thảo luận.

Hợp tác cũng có nghĩa là có khả năng để từ bỏ việc điều khiển một dự án. Việc này thường đề cập đến một số cán bộ quản lý và những người chuyên nghiệp đã bỏ qua những thói quen để có được những quyền lực và đang có được quyền lực để điều khiển những dự án thành công. Sự tin tưởng là một phần quan trọng, và tổ chức phải được đặt lên hàng đầu cho một sáng kiến mới. Sự tin tưởng thường có thể là một thách thức ở khu vực nông thôn nơi mà những chính sách và lịch sử sắp đặt sự tương tác diễn ra trong mỗi cộng đồng. Tin tuởng cũng sẽ mất thời gian để xây dựng.

Châu Hoàng Mẫn
(Xem tiếp kỳ sau)

Bản tin số 5/2008 SDRC

Không có nhận xét nào: