Ngày 06 tháng 05 năm 2008

CẦU CÁ Ở NÔNG THÔN MIỀN NAM



Chuyện phiếm mà không phiếm ...

CẦU CÁ Ở NÔNG THÔN MIỀN NAM

Lê Anh Tuấn

Ở vùng nông thôn miền Nam, bạn dễ dàng gặp hình ảnh cái cầu cá (hình bên). Trong ngôn từ, tiếng Việt và tiếng Ăng-lê, có nơi gọi là cầu cá (fish-pond toilet), có nơi gọi là cầu tõm, cầu lửng, cầu treo (overhung toilet), có nơi gọi là nhà vệ sinh, cầu tiêu, nhà xí, WC, toilet trên sông/kênh (river/canal toilet). Tên gọi cầu cá phổ biến hơn hết ...

Đó là một cái cầu tiêu kiểu tạm bợ gồm một khung che gác trên bốn cây cọc cắm lơ lửng trên ao cá hoặc sông rạch và nối với đất liền bằng một cái cầu nhỏ. Vật liệu làm cầu thì rất đa dạng, kiểu "có gì xài nấy". Cầu và cọc đỡ có thể là một khúc cây gòn sống, các nhánh cây tre tầm vông, hoặc các thanh gỗ hoặc sang hơn là mấy thanh cọc bằng bê tông cốt thép. Còn "nhà cầu" thì thực chất là cái vành che cao vừa đủ, chừng bằng hoặc nhích hơn đầu gối người lớn một chút. "Nhà cầu" có thể là cái thùng phi cắt ngang khoảng 1/3 chiều cao, hoặc bốn tấm ván gỗ hoặc mấy tấm tôn kẽm ghép lại, nghèo hơn thì che chắn bằng lá dừa nước hoặc bất kỳ vất liệu phế thải nào lượm lặt được. Nhà nào sang một chút thì làm thêm mái che phía trên để che nắng tránh mưa. Cầu cá trông xa xa giống như một nhà sàn nhỏ hoặc một nhà thủy tạ cỏn con, không có sàn đáy...

Dễ dàng và đơn giản, người đi cầu cứ việc bước qua cầu dẫn, ngồi vào nhà cầu và cứ tự nhiên ngồi cầu lơ lửng trên không trung và vô tư xả xuống cầu các chất thải trong người xuống "thể giới dưới chân mình". Phía dưới ao, người dân thường nuôi cá vồ, cá tra, cá trê phi,... để chúng "tận dụng" chất thải người và qua một quá trình biến đổi sinh học - hoá học phức tạp (mà còn lâu các nhà khoa học làm được) thành một dạng chất đạm, chất béo mới trong cơ thể sống của chúng. Người đi cầu có thể ngồi ngắm mây trời thoáng đãng, hít cái không khi thôn dã, đọc nhật báo hoặc ngó xuống đàn cá tranh nhau các thứ "rơi rớt" của mình. Xả xong "bầu tâm sự", người ta chỉ việc nhẹ nhàng đi ra mà không phải bận tâm dội cầu cho sạch gì cả. Bạn nên mặc quần rộng và nhẹ khi đi cầu cá ...

Có lẽ không sao biết được ai là người đầu tiên phát minh ra kiểu nhà cầu này. Thật ra, cầu cá là một bước tiếp nối các kiểu "cầu tõm" trên sông và trên thuyền ghe. Dân Việt mình trong quá trình Nam tiến, cứ đi dọc theo chiều dài đất nước, dừng chân lại ở những nơi có nguồn nước, bờ biển, dòng suối, cửa sông,... Phương tiện đi xuống miền Nam chủ yếu là ghe xuồng, sống trên ghe, ăn uống, sinh hoạt trên ghe và cũng thải xuống nước từ chiếc ghe xuồng của mình. Khi lên bờ làm nhà định cư, dân mình vẫn còn mang theo tập quán đó... mà làm nên cái cầu cá. Chữ "cầu" dùng lập đi lập lại... Một số nhà văn, nhà báo còn coi đi cầu cá như một đặc thù văn hóa sông nước Nam bộ ...

Miền Nam Việt Nam với hệ thống sông rạch chằng chịt như một mạng nhện. Cây cầu là "cơ sở hạ tầng" đầu tiên để kết nối các bờ kênh, bến nước, cù lao. Tên gọi "cầu khỉ" rất hay và gợi hình. Mấy ông Tây du lịch tỏ ra thích thú với cái tên Monkey bridge này. Cây cầu chỉ là các thanh tre, nhánh cây đơn sơ gát ngang qua hai bờ, các thanh cầu tựa trên các cọc chống chông chênh. Người đi qua cầu không khéo lọt xuống nước dễ dàng. Có nơi kỹ lưỡng người ta thêm một tay vịn, còn không thì cứ như đi xiếc thăng bằng trên một thanh tre nhỏ hơn nhiều so với bề ngang của bàn chân. Ai càng sợ, đi càng chậm thì càng dễ bị rớt xuống nước. Đi qua cầu phải đi nhanh, chấp chới một chút rồi phóng ào qua, đi cầu như "khỉ" chuyền cành là vậy. Nếu cẩn thận thì nên đi sao cho các bàn chân nằm ngang, thay vì dọc, gần gần vuông góc với thanh cây, các mũi chân hướng ra hai bên bên ngoài, bàn chân này chéo góc với bàn chân kia,... Cầu tre lắt lẻo, gập ghềnh khó đi ...

Hỏi, sao bà con thích xài cầu cá quá vậy? Ai nấy đều cười, giải thích gọn lại như thế này, thứ nhất là phần đông nông dân đều nghèo, nhà ở không đủ chắc chắn, con cái không đủ tiền học thì lấy đâu có đủ tiền để mua vật liệu làm một nhà cầu hợp vệ sinh, thứ hai là họ ưa sự tự do thoáng mát, ít ai chịu nhốt mình trong bốn bức vách chật hẹp hôi hám và ruồi bọ, thứ ba là coi việc nuôi cá để "xử lý chất thải người" như là một nguồn thu nhập phụ mà ít đầu tư vốn, thứ tư là loại cầu này không cần phải dội nước nhiêu khê, và cuối cùng một số người xem chỗ đi cầu là nơi "gặp gỡ, giao lưu" nói chuyện với người cùng xóm hoặc là nơi thư giãn, xem cá tranh ăn,...

Khá nhiều chuyện buồn cười quay quanh cái cầu cá. Xuống nông thôn công tác, chiều chiều rảnh chuyện, khề khà lai rai, một cái ly rượu xoay tua với mấy bác và mấy anh nông dân, bắt chuyện cầu cá, ai cũng xem đó là bình thường, tự nhiên. Có ông có hứng chí tuyên bố, ở đời sướng nhất là ăn cơm Tàu, ở nhà Tây, lấy vợ Nhật, nay cần bổ sung thêm, lãnh lương Mỹ và ... ỉa hầm cá "dồ" Việt Nam. Chuyện khác, có một đoàn ca sĩ xuống một vùng nông thôn nọ diễn, trong đoàn có một cô ca sĩ "sao" đang lên, cô này bữa trước ăn uống sao đó, bụng dạ không ổn, bí chỗ mới chạy đến một cầu cá vồ bên đường. Trẻ con, đàn bà hay biết, kéo đến bu coi "ngôi sao ngồi ỉa" đông nghẹt. Cô này hoảng hốt, muốn đứng dậy nhưng kẹt nỗi cô đang vận chiếc quần Jean chật cứng, đứng lên thì ... khó kín. Ngặt quá, cô phải móc điện thoại di động gọi mấy người trong đoàn đến tiếp cứu, nhờ người đem tấm khăn lớn che kín cho cô này đứng dậy... kéo quần. Một chuyện nữa, mấy thầy cô giáo trẻ xuống nông thôn dạy học, sáng sớm phải giải quyết vấn đề vệ sinh. Dù không hẹn nhau nhưng cả cô lẫn thầy đều gặp nhau một chỗ ngoài cầu cá. Mấy thầy, mấy cô sượng sùng ngồi quay mặt ra đường, học trò đi ngang qua, em nào cũng vòng tay cúi đầu: "Chào thầy ạ!", "Chào cô ạ!", còn mấy phụ huynh đi qua thì tự nhiên: "Ông thầy khoẻ chớ?", "Cô giáo dậy sớm dữ ha?" làm thật sự mấy cô thì đỏ mặt, mấy thầy lúng túng. Nhưng sau đó quen dần, cái e thẹn, mắc cỡ cũng bớt đi vì ai trong làng cũng thấy bình thường... Đất nước mở cửa, nông thôn có ít nhiều đổi thay, điện - đường - trường - trạm được xây lắp, một số nhà nông dân khá hơn nhưng cái cầu cá vẫn là cái cầu cá. Trẻ con Việt kiều, các ông Tây bà đầm lạ lắm với thứ cá dưới cầu. Họ không quen kiểu ngồi xổm như dân quê. Có ông Tây đi thử, vừa ngồi kiểu lom khom, vừa cười khùng khục, rồi mở máy chụp hình chụp lia lịa mấy con Catfish của Việt Nam. Chẳng may cầu đột ngột gãy, có lẽ chịu không nổi cái thân hình sêm sêm 180 pounds, ông này té sụp xuống ao cá, la khóc ầm ĩ: "Help..., Help me!!!". Mấy đám con nít, thanh niên theo coi, vội vàng kéo ổng lóp ngóp lội vô bờ, cả quần áo, giấy tờ, máy ảnh,... đều ướt bẩn và hôi hám. Ông Tây này miệng cứ só rì, só rì liên tục rồi thanh kiu mấy đứa nhỏ giúp ổng lên bờ, dẫn đến lu nước bên hông nhà dội rửa áo quần chân tay. Dù hơi xót bụng vì lu nước mưa dành cho ăn uống mà ông Tây không biết cứ tự nhiên xối rửa, các bà già quê Nam bộ vẫn dễ dãi, còn chép miệng: "Tội nghiệp ... cái thằng Tây, ở bển đang sướng, qua đây đi cầu cá làm chi cho khổ vậy?". Đám sồn sồn mấy bà vừa kể chuyện, vừa vạch áo cho con bú tí, vừa ôm bụng cười, có biết ổng hét lên cái gì đâu?, "Té xuống hầm Cá dồ mà cứ la Heo Heo hoài !!!"...

Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận là càng lúc dân số càng đông, mật số nhà cửa gia tăng san sát thì cầu cá đang trở thành một vấn đề về môi trường nước, đôi lúc nghiêm trọng. Ngày xưa, khi mới khai hoang lập ấp, đất rộng người thưa, vấn đề vệ sinh môi trường không bị ảnh hưởng nhiều vì khả năng tự làm sạch của nước trong tự nhiên còn lớn. Bây giờ, dân số gia tăng, ruộng vườn chia năm xẻ bảy, nhu cầu nhà cửa lớn hơn, lượng chất thải sinh hoạt nhiều hơn thì dịch bệnh do nguồn nước ô nhiễm càng tăng, water-born disease. Hiện tại, đời sống của người dân có khá lên hơn trước một chút nhưng tỉ lệ cầu cá trên ao vẫn còn cao. Có khá nhiều báo cáo của ngành y tế, vệ sinh dịch tễ, môi trường về các bệnh đường ruột như tiêu chảy, thương hàn, kiết lỵ,... và các bệnh như ghẻ ngứa, phụ khoa,... xảy ra ở nông thôn do nguồn nước bị nhiễm phân, nhiễm rác. Năm 1994, ông Võ Văn Kiệt, lúc đó là Thủ tướng, có ký chỉ thị 200 Ttg. cấm các hình thức cầu tiêu trên sông nhưng thực tế, kết quả không như ý muốn. Chung quy lại là do người dân nông thôn Đồng bằng sông Cửu Long còn nghèo, thói quen sử dụng cầu cá còn khá phổ biến, nhận thức về vệ sinh còn sơ sài và chưa có mô hình nào thay thế phù hợp cũng như thiếu các tài liệu hướng dẫn cần thiết ....

Người làm công tác phát triển nông thôn nên chú ý vận động và giúp bà con nông dân xây các nhà vệ sinh tương đối rẻ tiền và hợp lý về mặt vệ sinh. Dầu sao, nhà vệ sinh riêng biệt mang vẻ văn minh và thẩm mỹ hơn. Việc xây nhà vệ sinh gia đình cũng là một cách tạo điều kiện thuận lợi cho việc vệ sinh phụ nữ, góp phần cho việc bình đẳng giới. Hiện nay, có một số tài liệu đã được biên soạn, mặc dầu chưa nhiều, vì ít ai muốn xen vào lãnh vực xem ra ít nhiều tế nhị này. Ở một số nơi chưa có điều xây nhà vệ sinh, người dân còn muốn duy trì cầu cá thì có thể tham khảo một kiểu cầu cá cải tiến tương đối rẻ tiền sau...

Xem minh họa một mặt cắt ngang cầu cá cải tiến ở hình trên. Phần ao tiếp xúc với nguồn nước nên đặt một ống lấy nước phía trên cùng và hai ống xả nước phía dưới, ống có thể chọn các loại ống PVC có đường kính 100 mm, 114 mm hoặc 150 mm, tùy theo ao lớn hay nhỏ. Cao độ đặt ống theo diễn biến mực nước lên xuống của thủy triều và mức nước cần cho ao cá. Ống lấy nước có gắn một van mở một chiều, khi mực nước sông cao hơn mực nước ao, áp lực dòng chảy từ sông sẽ làm van mở và nước sông sẽ chảy vào ao làm nước trong ao được pha loãng, ít ô nhiễm hơn. Dưới ống này, đào một hố có bề rộng (song song với ao và sông) chừng 1 - 1,5 m, bề dài khoảng 2 mét và sâu chừng 0,5 m. Đổ đầy cát hạt thô, đáy hố gắn ống xả nước có lưới bọc ở đầu và đặt một ống xả ở đầu trên của hố cát như hình vẽ. Trồng cây sậy ở khoảng giữa ao và sông. Có thể thay cây sậy bằng cỏ Vetiver cũng tốt nếu nơi trồng cỏ có đủ nắng trực tiếp, không có bóng râm. Rễ cây sậy hoặc rễ cỏ Vetiver tham gia trong xử lý nước ô nhiễm và hạn chế một phần sự xói mòn bờ sông. Đây là hình thức xử lý nước qua đất (land treatment). Khi nước ở sông xuống thấp hơn nước ao thì nước sẽ thấm qua ống xả, qua hệ thống xử lý nước qua cát và theo ống xả ra sông. Một số khảo cứu cho thấy chất lượng nước ở ao có cải tiến rõ. Cách thức này dễ được nông dân chấp nhận ...

Lê Anh Tuấn
Bộ môn Kỹ thuật Môi trường và Tài nguyên nước
Khoa Công nghệ, trường Đại học Cần Thơ

Không có nhận xét nào: