Hiển thị các bài đăng có nhãn trẻ em. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn trẻ em. Hiển thị tất cả bài đăng

5 tháng 5, 2009

Hội thảo định hướng tăng cường hệ thống bảo vệ trẻ em dựa vào cộng đồng tại Thành phố Hồ Chí Minh


Hội thảo định hướng tăng cường hệ thống bảo vệ trẻ em dựa vào cộng đồng tại Thành phố Hồ Chí Minh(29/4/2009)
Sáng ngày 28/4, tại TP.HCM, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với Tổ chức cứu trợ Trẻ em tổ chức Hội thảo “Định hướng tăng cường hệ thống bảo vệ trẻ em dựa vào cộng đồng tại TPHCM (2009 -2010)”. Tham dự hội thảo có TS. Nguyễn Hải Hữu - Cục trưởng Cục Bảo vệ, chăm sóc trẻ em, đại diện Unicef và lãnh đạo các Sở Lao động - Thương binh và Xã hội TPHCM, Cà Mau cùng đông đảo đại diện các Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội trên địa bàn thành phố.

Tại hội thảo, các đại biểu đã nghe báo cáo kết quả triển khai mô hình “Mạng lưới bảo vệ trẻ em dựa vào cộng đồng tại TPHCM trong năm 2007 - 2008”. Theo đó, trong tháng 8 năm 2007, Phòng Bảo vệ, chăm sóc trẻ em thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội đã tổ chức khảo sát về tình hình bảo vệ trẻ em, nhận diện thực trạng của trẻ em, đặc biệt là những em có hoàn cảnh khó khăn, dễ bị tổn thương… để từ đó đề ra những phương pháp tiếp cận, giáo dục, giúp đỡ và bảo vệ trẻ em được hiệu quả.
Nhận thấy, mạng lưới cộng tác viên bảo vệ trẻ em là cầu nối quan trọng giúp trẻ em tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc và bảo vệ nên đại diện các Phòng Lao động - thương binh và Xã hội đều nhận định rằng: Việc hình thành, xây dựng đội ngũ này là rất quan trọng – đây là những người sâu sát địa bàn nên dễ tiếp cận, nắm bắt và báo cáo về các đối tượng trẻ em có nguy cơ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt để từ đó có các hoạt động hay dịch vụ hỗ trợ phù hợp.
Bên cạnh đó, việc xây dựng nhóm trẻ em nòng cốt (là nhóm trẻ có khả năng nắm bắt thông tin nhanh, thuận lợi trong việc tiếp cận, bắt chuyện, tâm sự với trẻ em trên địa bàn) để hỗ trợ cho cộng tác viên bảo vệ trẻ em cũng hết sức được chú trọng. Kết quả là, TPHCM đã xây dựng được nhiều nhóm trẻ nòng cốt tại các phường ở quận, huyện.
Đại diện của Tổ chức Unicef cho rằng: Lâu nay khái niệm chăm sóc, bảo vệ trẻ em vẫn chưa được hiểu và định nghĩa đúng đắn, đầy đủ do đó công tác chăm sóc và bảo vệ đối tượng này vẫn chưa được hiệu quả. Bảo vệ trẻ em là khái niệm chung về công tác phòng ngừa, ngăn chặn và giải quyết các nguy cơ và hành động bạo lực, lạm dụng và bóc lột trẻ em, đồng thời đáp ứng các nhu cầu bảo vệ của trẻ. Tuy nhiên, phương pháp bảo vệ trẻ em hiện nay ở Việt Nam chủ yếu vẫn tập trung đáp ứng nhu cầu của những nhóm trẻ em cụ thể như trẻ mồ côi, tàn tật, trẻ đường phố…do đó thiếu một hệ thống dịch vụ bảo vệ trẻ em được điều phối thống nhất. Các dịch vụ bị phân tán, kém hiệu quả. Bên cạnh đó, chưa có sự phân công và trách nhiệm rõ ràng giữa các cơ quan, tổ chức.
TS. Nguyễn Hải Hữu cho rằng, mục tiêu chăm sóc, bảo vệ trẻ em giai đoạn 2009 – 2010 sẽ có nhiều nhóm chỉ tiêu có nguy cơ không đạt như việc bảo vệ trẻ em và sự tham gia của đối tượng này trong các hoạt động. Lấy ví dụ về những trẻ em mưu sinh hết sức nguy hiểm tại các trường đua, những vụ bạo lực trẻ em trong thời gian qua. Ông khẳng định: Công tác bảo vệ cho đối tượng đặc biệt này còn gặp nhiều hạn chế. Ví dụ, trong chỉ tiêu là giảm trẻ em lang thang nhưng thực tế nhóm trẻ này không hề giảm mà có nguy cơ tăng lên rất nhanh.
Hầu hết các đại biểu tham dự hội thảo đều cho rằng, nguyên nhân lớn nhất của việc chăm sóc và bảo vệ trẻ em còn yếu là do nguồn cán bộ cho công tác này còn thiếu và yếu. Đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận 1 chỉ rõ: Từ trước đến nay, đội ngũ cán bộ làm công tác này hầu hết đều hoạt động theo dự án. Khi dự án hoàn thành thì họ cũng ra đi. Trong khi nguồn cán bộ mới thì chưa có, chưa đào tạo được, cũng không ai muốn làm vì chế độ đãi ngộ, thu hút đều không có. Đồng tình với những ý kiến nhận xét này, ông Nguyễn Hải Hữu bổ sung thêm: đội ngũ làm công tác xã hội hầu hết đều không chuyên nghiệp, không được đào tạo cơ bản. Chủ yếu vẫn vì tình cảm mà làm do đó những kỹ năng và kiến thức còn yếu. Trong khi đó, trên thế giới, ngành công tác xã hội đã được phát triển thành một nghề được đào tạo bài bản, công phu tại các trường đại học. Để giải quyết tình trạng đội ngũ cán bộ thiếu và yếu chuyên môn, ông Hữu cho biết thêm: sắp tới Bộ sẽ trình đề án lên Chính phủ để nghề công tác xã hội trở thành một nghề chuyên nghiệp, có mã ngành, cũng như tuyển sinh và đào tạo chuyên nghiệp như những ngành học khác./.
Đặng Trinh
Theo Molisa

19 tháng 12, 2008

Toạ đàm Báo chí với công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn (19/12/2008)


Toạ đàm Báo chí với công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn (19/12/2008) Ngày 18/12/2008, tại Hà Nội, Cục Bảo trợ Xã hội phối hợp cùng Tạp chí Lao động và Xã hội tổ chức Toạ đàm Báo chí với công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Tham dự có các đồng chí lãnh đạo Cục Bảo trợ Xã hội, Cục Bảo vệ, chăm sóc trẻ em, Vụ Bình đẳng giới, Tạp chí Lao động và Xã hội, Tạp chí Gia đình và trẻ em; lãnh đạo các đơn vị có liên quan thuộc Bộ; đại diện Bộ Thông tin- Truyền thông cùng đông đảo phóng viên báo chí trong và ngoài ngành tới dự.

Mục đích của Toạ đàm là nhằm tăng cường công tác Thông tin, truyền thông, góp phần nâng cao nhận thức xã hội đồng thời đẩy mạnh việc tuyên truyền có định hướng đối với công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; thúc đẩy việc thực hiện có hiệu quả Quyết định 65/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt đề án "Chăm sóc trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em tàn tật nặng, trẻ em là nạn nhân của chất độc hóa học và trẻ em nhiễm HIV/AIDS dựa vào cộng đồng giai đoạn 2005 - 2010".
Tại đây, các tham luận và báo cáo tập trung vào những vấn đề như: Vai trò của báo chí trong việc tuyên truyền, nâng cao nhận thức xã hội, góp phần vận động các ngành, các cấp và toàn xã hội quan tâm hơn nữa đến trẻ em nói chung và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn nói riêng; Tăng cường nhận thức của các phóng viên, biên tập viên, cán bộ lãnh đạo cơ quan báo chí, trước hết là của ngành Lao động- Thương binh và Xã hội và phóng viên, biên tập viên chuyên theo dõi lĩnh vực xã hội nói chung và trẻ em của một số cơ quan báo chí về vai trò, sự cần thiết của công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn đối với sự phát triển bền vững của kinh tế-xã hội; Hệ thống hoá các văn bản, chính sách pháp luật về lĩnh vực trẻ em cũng như cung cấp cho các lãnh đạo cơ quan báo chí, phóng viên, biên tập viên một số thông tin, khung lý thuyết cơ bản về lĩnh vực này đồng thời gắn với việc phát triển nghề công tác xã hội trên thế giới và Việt Nam, tiến trình xây dựng khung đề án phát triển nghề công tác xã hội ở Việt Nam do Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội đang nghiên cứu, dự thảo.Trong không khí thân thiện, cởi mở, thẳng thắn trao đổi và chia sẻ giữa các cơ quan quản lý Nhà nước và các nhà báo, buổi Toạ đàm đã thu thập được nhiều thông tin và những ý kiến đánh giá quý báu về thực trạng công tác thông tin tuyên truyền trong lĩnh vực bảo vệ, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt hiện nay và thảo luận về định hướng công tác thông tin, tuyên truyền có định hướng về lĩnh vực này trong thời gian tới./.
Tuấn Cường
(Molisa.gov.vn)

8 tháng 10, 2008

Tước quyền cha mẹ của những kẻ bạo hành: quá khó!

Tước quyền cha mẹ của những kẻ bạo hành: quá khó!

Đông đảo người dân theo dõi phiên tòa xét xử Hồ Thị Ba, người mẹ tạt nước sôi vào con, bắt con đi ăn xin
TT - Sự việc bé gái 3 tuổi Nguyễn Thị Hảo bị bà Nguyễn Thị Mỳ - người hiện thời được cho là mẹ bé Hảo - hành hạ dã man (Tuổi Trẻ ngày 25-9) đã khiến dư luận đặc biệt quan tâm. Trước đó liên tục xảy ra các trường hợp cha mẹ bạo hành con cái. Sự phẫn nộ đã làm dấy lên câu hỏi có thể tước quyền làm cha mẹ của những kẻ đã bạo hành con cái mình không?

Câu trả lời là “có” mà “không”. “Có” là vì đã có nhiều điều luật quy định, còn “không” vì trên thực tế sau khi các bậc cha mẹ bạo hành bị xử lý, trẻ vẫn bị trả về gia đình, phải tiếp tục sống với người đã bạo hành mình.

Đánh con tàn nhẫn

Những vụ bạo hành của cha mẹ đối với con cái bị dư luận lên án trong thời gian qua

* Tháng 11-2007, bé Hồ Thị Bông (11 tuổi) bị mẹ là Hồ Thị Ba trói, đánh đập dã man, tạt nước sôi vào người vì cho rằng bé Bông ham chơi, không chịu đi ăn xin, mang về đủ 200.000 đồng/ngày. Hồ Thị Ba bị phạt 3 năm tù về tội “cố ý gây thương tích”.

* Cuối năm 2007, bé Phạm Huy Hoàng, 5 tuổi, ngụ tại xã Bình Hưng, huyện Bình Chánh bị mẹ dùng bình thuốc xịt muỗi và nồi inox đánh vào đầu đến chấn thương sọ não do “tội” đánh nhau với mấy đứa trẻ hàng xóm. Bé Hoàng sau đó đã tử vong.

* Tháng 5-2008, bé Nguyễn Ngọc T., học sinh lớp 6 (Quảng Nam) bị cha bắt cởi truồng, bò vòng quanh sân nhà văn hóa thôn giữa trời nắng, chỉ được đội một cái nón trên đầu vì người cha cho rằng bé T. học dốt, lại hay bỏ học.

Dạy đứa con gái mới 6 tuổi đầu bằng cách dùng bàn chải cào vào mặt, đánh đập tới mức thâm tím cả người như trường hợp cha mẹ của bé Bùi Thị Hạ, ngụ xã Đông Thạnh, huyện Hóc Môn, TP.HCM thì quả là kinh sợ. Trong suốt thời gian từ đầu năm học mới đến nay, cô giáo của bé Hạ thấy bé thường xuyên có những vết thâm tím trên người. Có hôm mông của bé sưng to, bầm tím đến nỗi không thể ngồi học. Quá bức xúc, nhà trường mời phụ huynh của bé Hạ thì cha mẹ bé thừa nhận đã đánh con.

Nhà trường phối hợp với chính quyền địa phương đã giải thích, vận động. Cha mẹ của Hạ làm cam kết không đánh đập bé và đảm bảo cho bé tới lớp. Thế nhưng, theo bà Phan Thị Phương Loan - phó chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ huyện Hóc Môn, sau buổi làm việc được mấy hôm, cha mẹ của Hạ không cho bé tới lớp nữa. Hỏi thì cha mẹ bé nói đã gửi bé về quê nhờ ông bà nuôi do đi học ở đây “phiền phức” quá!

Theo bà Loan, các cơ quan chức năng định ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với cha mẹ bé Hạ, nhưng do thấy cả hai cam kết sẽ không đánh đập bé nữa nên thôi. Một phần cơ quan chức năng cũng ngại nếu xử phạt thì có thể phụ huynh này sẽ trút cơn giận lên đầu đứa trẻ.

Chưa có nơi tạm lánh cho trẻ bị bạo hành

Đoàn thể, chính quyền địa phương xã Đông Thạnh và huyện Hóc Môn có ý tìm một cơ sở nuôi dưỡng để gửi bé Hạ một thời gian, cách ly với cha mẹ nhưng chưa biết gửi vào đâu, quy trình thực hiện ra sao thì cha mẹ đã đưa bé đi mất.

Theo Luật phòng chống bạo hành gia đình (có hiệu lực từ 1-7-2008), UBND xã có quyền ra quyết định cấm người bạo hành tiếp xúc với nạn nhân trong vòng ba ngày nhưng phải có đơn đề nghị của nạn nhân, người giám hộ hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Luật cũng quy định nạn nhân bị bạo hành gia đình có thể được đưa vào cơ sở trợ giúp (nơi tạm lánh, chăm sóc, cấp cứu, khám chữa bệnh... cho nạn nhân). Tòa án có thể ra quyết định cấm người có hành vi bạo hành tiếp xúc với nạn nhân trong thời gian tối đa là bốn tháng.

Tuy nhiên, đây là những vấn đề mới được Luật phòng chống bạo lực gia đình quy định nhưng chưa thể thực hiện vì chưa có nghị định hướng dẫn. Có trường hợp chính quyền địa phương mời người có hành vi bạo hành lên làm việc, giáo dục hoặc thậm chí xử phạt hành chính nhưng rồi vẫn phải giao đứa trẻ bị bạo hành lại cho cha mẹ chăm sóc vì không biết giao cho ai. Việc các bé có tiếp tục bị bạo hành nữa hay không tùy tâm của những bậc cha mẹ này.

Khó tước quyền của cha mẹ?

Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, trường hợp cha mẹ có hành vi xâm phạm sức khỏe, danh dự của con, vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng... có thể bị tòa án tuyên không cho chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con cái (chưa thành niên) từ 1-5 năm. Tòa án có thể tự ra quyết định hoặc theo sự đề nghị của viện kiểm sát, các cá nhân, tổ chức khác như hội liên hiệp phụ nữ, ủy ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em...

Tuy nhiên, kể từ khi Luật hôn nhân và gia đình có hiệu lực (ngày 1-1-2001) đến nay, đã có nhiều trường hợp cha mẹ bạo hành con trẻ, mức độ nhẹ thì bị xử lý hành chính, gây hậu quả nghiêm trọng cho sức khỏe, tính mạng của con thì bị xử lý hình sự nhưng chưa có ai bị tòa tuyên hạn chế quyền làm cha mẹ với con.

Luật sư Nguyễn Thị Hồng Liên, người từng tham gia bảo vệ quyền lợi cho rất nhiều trẻ em trong các vụ bị bạo hành cho biết bà chưa thấy có trường hợp nào viện kiểm sát, hội liên hiệp phụ nữ, ủy ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em... yêu cầu tòa án hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên. Ngoài ra cũng có thể do chưa có hướng dẫn cụ thể cơ quan, tổ chức xã hội nào có trách nhiệm nhận nuôi, dạy người chưa thành niên trong trường hợp cha, mẹ bị hạn chế quyền.

Vẫn theo luật sư Liên, tại các quốc gia phát triển có quy định rõ thế nào là hành vi bạo hành (kể cả về tinh thần) đối với trẻ em, cha mẹ có hành vi bạo hành đến mức độ nào thì bị áp dụng biện pháp hạn chế quyền đối với con chưa thành niên. Trường hợp phải giao trẻ cho người giám hộ nuôi dưỡng, người giám hộ phải có đủ điều kiện cần thiết bảo đảm cho việc chăm sóc, giáo dục trẻ em. Nếu không có người giám hộ, trẻ sẽ được đưa vào những cơ sở xã hội có đủ điều kiện nuôi dạy trẻ.

Nếu các cơ quan thực thi pháp luật triển khai đầy đủ, kịp thời những nội dung của luật thì có lẽ sẽ giảm đáng kể những trường hợp trẻ bị bạo hành thương tâm, gánh chịu hậu quả nặng nề không chỉ về thể chất mà cả tinh thần. Theo nghiên cứu của các chuyên gia tâm lý, việc bị bạo hành từ chính cha mẹ ruột có tác hại nghiêm trọng đến sự phát triển bình thường về tâm thần của trẻ về sau. Trẻ thường xuyên bị đối xử bằng bạo lực lại tiếp tục có xu hướng sử dụng bạo lực...

Luật phòng chống bạo lực gia đình quy định:

* Người phát hiện bạo lực gia đình phải kịp thời báo tin cho cơ quan công an nơi gần nhất hoặc UBND cấp xã, hoặc người đứng đầu cộng đồng dân cư nơi xảy ra bạo lực để kịp thời xử lý hoặc kiến nghị, yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền xử lý có biện pháp ngăn chặn, kịp thời bảo vệ nạn nhân bị bạo hành gia đình.

* Mặt trận Tổ quốc VN và các tổ chức thành viên, Hội Liên hiệp phụ nữ VN có trách nhiệm tuyên truyền, giáo dục, khuyến khích, động viên hội viên và nhân dân chấp hành pháp luật về phòng chống bạo hành gia đình.

* Cơ quan công an, tòa án, viện kiểm sát trong phạm vi nhiệm vụ quyền hạn của mình chủ trì, phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan thực hiện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nạn nhân bạo hành gia đình, chủ động phòng ngừa, kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý hành vi vi phạm.

CHI MAI
From Bao tuoi Tre 07/10/2008

1 tháng 10, 2008

Kinh nghiệm phát triển công tác xã hội và một số mô hình chăm sóc trẻ em tại úc


Kinh nghiệm phát triển công tác xã hội và một số mô hình chăm sóc trẻ em tại úc
Khác với nhiều nước trên thế giới, hoạt động chính của phúc lợi xã hội ở úc được thực hiện chủ yếu ở cấp bang và chính quyền địa phương. ở cấp bang và lãnh thổ, công tác gia đình và trẻ em bao gồm dịch vụ y tế, dịch vụ giáo dục và dịch vụ nhà ở đồng thời cung cấp dịch vụ cho người tàn tật, người già cần giúp đỡ. Tuy nhiên, chính quyền địa phương đóng vai trò chủ yếu trong cung cấp dịch vụ nhà ở, và có thể cung cấp một số dịch vụ cho người tàn tật và người già.

Chính quyền liên bang ở úc có 2 chức năng chính về phúc lợi xã hội. Thứ nhất là xây dựng chính sách toàn quốc và hỗ trợ ngân sách cho một số các hoạt động thông qua các bang và lãnh thổ. Ví dụ, một số dịch vụ giáo dục và y tế được chính quyền liên bang hỗ trợ kinh phí, mặc dù các dịch vụ này vẫn chủ yếu được các bang, hoặc các tổ chức phi chính phủ thực hiện. Ngoài ra, chính quyền liên bang cung cấp các dịch vụ trực tiếp thông qua cơ quan gọi là Centrelink, gồm hỗ trợ thu nhập và thanh toán bảo hiểm xã hội, và hỗ trợ thêm các hoạt động đào tạo việc làm và tái hoà nhập.
Về công tác xã hội: Cán bộ làm công tác xã hội được tuyển dụng theo từng cấp của chính quyền. Số lượng cán bộ xã hội lớn nhất là từ các cơ quan phúc lợi xã hội của bang và lãnh thổ, chủ yếu phục vụ cho công tác trẻ em, gia đình, dịch vụ y tế và nhà ở. ở cấp chính quyền địa phương, cán bộ xã hội cơ sở tham gia các hoạt động phát triển cộng đồng và dịch vụ cho người tàn tật và người già. Cơ quan chính quyền liên bang Centrelink cũng tuyển dụng cán bộ lao động xã hội để tư vấn cho người sử dụng dịch vụ – những người nghèo đang gặp khó khăn về việc làm và những người yêu cầu hỗ trợ cho các vấn đề này. Cán bộ làm công tác xã hội cấp liên bang chiếm thiểu số, và chỉ làm việc trong lĩnh vực xây dựng chính sách và nghiên cứu. Ngoài ra, công tác xã hội ở úc còn được các tổ chức phi chính phủ thực hiện với số lượng cán bộ khá đông và hoạt động gắn với cấp chính quyền cơ sở nhiều hơn.


Về bảo vệ trẻ em: ở úc, chính quyền bang và lãnh thổ chịu trách nhiệm về công tác bảo vệ trẻ em thông qua 8 hệ thống riêng biệt (ở 6 bang và 2 lãnh thổ). Giữa các hệ thống có sự khác nhau, ví dụ như hệ thống báo cáo bắt buộc, tổ chức thực hiện pháp luật về bảo vệ, chăm sóc trẻ em. Vấn đề quản lý Nhà nước về bảo vệ trẻ em được giao cho Vụ dịch vụ con người hoặc các vụ khác tuỳ thuộc vào cơ cấu tổ chức chính quyền bang và lãnh thổ. Chính quyền liên bang úc đang xây dựng một Khung quốc gia về Bảo vệ trẻ em để đảm bảo sự đồng bộ thống nhất trong 8 hệ thống. Dự kiến khung quốc gia này sẽ hoàn thành vào cuối năm nay.
Để hiểu rõ hơn về, hệ thống công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em ở úc, có thể nghiên cứu rõ hơn về một số lĩnh vực hoạt động cụ thể ở một số bang và các cơ sở cung cấp, chăm sóc, cơ sở nghiên cứu sau:
Hệ thống Dịch vụ con người của Bang Victoria: Bang Victory có 5 triệu dân, trong đó 4 triệu sống ở Melbourne và 1 triệu sống ở vùng nông thôn. Bang Victoria có 160 nhóm dân tộc. Chính quyền liên bang chịu trách nhiệm về thuế thu nhập, quốc phòng, quy định kinh doanh, công tác đối ngoại, ngoại thương.
Vụ dịch vụ con người ở bang Victoria chịu trách nhiệm chính về công tác y tế, nhà ở, người tàn tật, bảo vệ trẻ em, sức khỏe tâm thần, thuốc men và đồ uống có cồn. Vụ này có một phòng quản lý về Trẻ em, Thanh niên và Gia đình với 2 nhiệm vụ chính là: dịch vụ trẻ em và gia đình; công bằng cho trẻ em.
Công tác bảo vệ trẻ em và dịch vụ gia đình ở Victoria đã tuyển dụng khoảng 30 ngàn nhân viên; trong đó 11 ngàn nhân viên bảo vệ trẻ em, 8 ngàn nhân viên làm việc trong các công tác hỗ trợ gia đình, 1 ngàn nhân viên làm việc trong khu chăm sóc và nuôi dưỡng. Ngân sách sử dụng là 300 triệu đôla/năm; trong đó 100 ngàn chi cho bảo vệ trẻ em; 60 triệu cho dịch vụ gia đình và số còn lại cho dịch vụ chăm sóc ngoài xã hội. Trong tổng số 300 triệu nói trên thì có tới 200 triệu được sử dụng thông qua các tổ chức NGOs. Hệ thống này bao gồm dịch vụ do chính phủ và phi chính phủ cung cấp. Khu vực công cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em, khu vực phi chính phủ cung cấp dịch vụ gia đình và chăm sóc ngoài xã hội. Trung bình mỗi ngày có 5.500 trẻ em nhận được chăm sóc bên từ bên ngoài gia đình của mình. Mỗi bang có luật pháp riêng về bảo vệ trẻ em của mình song không được thấp kém hơn quy định chung của luật quốc gia.
Chi tiêu ngân sách của bang là khoảng 3 tỷ đô la, trong đó 1 tỷ là cho dịch vụ con người, 1 tỷ cho giáo dục và 1 tỷ cho các hoạt động khác bao gồm dịch vụ an ninh. Mỗi bang hoạt động tự chủ, và có thể có luật bảo vệ trẻ em riêng. ở cấp liên bang hiện đang xây dựng khung quốc gia để đảm bảo tính đồng nhất của các chính sách.
Cán bộ xã hội của bang được giao thực hiện 5 chức năng chính: Nhận báo cáo; Điều tra; Chuẩn bị tài liệu để gửi cho toà án; Có mặt tại toà án và Giám sát việc thực hiện của bản tuyên án. Ngoài ra còn có 5 cán bộ chuyên trách bắt buộc chịu trách nhiệm báo cáo về lạm dụng thân thể và tình dục đối với các đối tượng đặc thù là y tá, giáo viên, hiệu trưởng, bác sỹ, và công an.
Hiện, có 4 hình thức chăm sóc lựa chọn: chăm sóc họ hàng/gia đình nhiều thế hệ, nhận nuôi, chăm sóc tại nhà (một nhóm gia đình nhỏ khoảng 4 trẻ em) trong cộng đồng, chăm sóc lâu dài có sự giám sát của người bảo hộ pháp lý. Trẻ em được chăm sóc theo hình thức lựa chọn này cho đến khi đủ 18 tuổi.
Chương trình Barry Street: Đâu là chương trình dành cho trẻ em, thanh thiếu niên và gia đình – những người có nhu cầu và gặp nhiều khó khăn nhất. Họ phải chịu đựng cảnh khốn cùng và ảnh hưởng nguy hại do sống trong môi trường gia đình có bạo lực, bị bỏ mặc, lạm dụng thuốc kích thích, bệnh thần kinh, và đói nghèo nên không có tuổi thơ hạnh phúc.


Chương trình này có mục đích giúp trẻ em và thanh thiếu niên phục hồi lại từ những tổn thương do bạo lực và sự bỏ mặc, hỗ trợ các gia đình và những người chăm sóc xây dựng kế hoạch và chăm sóc trẻ em, thanh thiếu niên với các dịch vụ bao gồm: Chương trình cộng đồng: tập trung và những năm đầu, bao gồm tài chính và tăng cường năng lực cho cộng đồng nông thôn; Dịch vụ cho đối tượng tàn tật: các chương trình cho thanh thiếu niên bị thiểu năng trí tuệ và hành vi; Giáo dục: xây dựng trường học độc lập và một loạt các chương trình mở rộng về giáo dục cho trẻ em và thanh thiếu niên bị đuổi khỏi trường hoặc bỏ học; Dịch vụ gia đình: dịch vụ gia đình giúp bố mẹ quản lý con tốt hơn và hỗ trợ giải quyết các vấn đề nảy sinh giữa con cái và bố mẹ; cung cấp dịch vụ toàn diện cho các gia đình phải chịu cảnh bạo lực; Chăm sóc nuôi dưỡng cho trẻ em và thanh thiếu niên để khôi phục lại do tổn thương về bạo lực gia đình, lạm dụng trẻ em và bị bỏ mặc; Chăm sóc tại nhà: là liệu pháp cuối cùng cho đối tượng thanh thiếu niên phải chịu tổn thương thời thơ ấu và các em không thể được quản lý bởi các dịch vụ khác; Dịch vụ trị liệu để giúp đỡ trẻ em và thanh thiếu niên khôi phục lại do bị tổn thương trong gia đình bạo lực, lạm dụng trẻ em và bị bỏ mặc; Dịch vụ Thanh thiếu niên bao gồm tư vấn, cung cấp kỹ năng cuộc sống, tâm sự chia sẻ, các chương trình nhà ở và việc làm.
Quỹ trẻ thơ úc: Quỹ trẻ thơ úc là một tổ chức từ thiện độc lập hoạt động theo nhiều hình thức để ngăn ngừa lạm dụng trẻ em và giảm nguy hại gây ra cho trẻ em, gia đình và cộng đồng. Tổ chức này được thành lập cách đây 20 năm. Khi bắt đầu tổ chức chỉ có 2 nhân viên, hiện tại đã có 40 nhân viên. Các dịch vụ cung cấp bao gồm: Tư vấn: chuyên gia tư vấn dịch vụ cho trẻ em và thanh thiếu niên bị lạm dụng và gia đình của trẻ; Tuyên truyền cho trẻ em: tuyên truyền các dịch vụ bảo vệ và hỗ trợ cho trẻ em và thanh thiếu niên; Giáo dục: cung cấp giáo dục cộng đồng và chuyên nghiệp, các chương trình tư vấn và phỏng vấn. Các chương trình này nhằm cải thiện sự hưởng ứng cho trẻ em và thanh thiếu niên – những người đã trải qua hoặc có nguy cơ lạm dụng, bạo lực gia đình và bị bỏ mặc; Các chương trình phòng chống lạm dụng trẻ em: tổ chức thực hiện các chương trình phòng chống lạm dụng trẻ em ở cấp quốc gia để tìm kiếm giải pháp nhằm giảm phạm vi ảnh hưởng của lạm dụng trẻ em và nâng cao nhận thức về việc làm thế nào để ngăn chặn trước khi hiện tượng xảy ra; Cha mẹ hỗ trợ và thương yêu: tổ chức các cuộc họp giáo dục về kiến thức làm cha mẹ và cung cấp các nguồn tài liệu cho cha mẹ để nuôi nấng con hạnh phúc và tự tin; Nghiên cứu: cùng phối hợp với trường đại học Monash thành lập Trung tâm nghiên cứu về phòng chống lạm dụng trẻ em quốc gia. Quỹ này nhận 50% kinh phí từ chính phủ và 50% từ các chương trình hợp tác; Dịch vụ chăm sóc nuôi dưỡng trị liệu: Trung tâm tư vấn trực thuộc Quỹ cung cấp dịch vụ tư vấn và trị liệu cho trẻ em bị lạm dụng. Trung tâm có 8 tư vấn viên và mỗi năm cung cấp dịch vụ cho khoảng 400 em. Các sáng kiến tư vấn bao gồm: trị liệu gia đình, nhóm cùng chăm sóc, nhóm trị liệu nghệ thuật, trị liệu nhóm hỗ trợ động vật và dự án nghệ thuật./.
Ths. Nguyễn Văn Hồi ( tổng hợp từ đoàn công tác liên ngành)
From Molisa

20 tháng 6, 2008

BẾ TẮC TRONG VIỆC TRAO ĐỔI VỚI TRẺ BỊ KHỔ TÂM


BẾ TẮC TRONG VIỆC TRAO ĐỔI VỚI TRẺ BỊ KHỔ TÂM
1. SAO TRẺ KHÔNG NÓI ?
Trẻ thường khó trò chuyện cởi mở và ta hay khó chịu vì cảm thấy mình vô dụng hoặc bị trẻ lờ đi.
Cuộc trò chuyện nào cũng có những giây phút im lặng; đó là điều bình thường, phải bình tĩnh và kiên nhẫn chấp nhận. Bạn thử liệt kê thật nhiều lý do của một tình cảnh có sự bế tắc thật sự khi chuyện trò.
Trong bản liệt kê của bạn có thể có những lý do sau đây :
• vì bạn chưa khuyến khích sự trao đổi, trò chuyện đúng
• vì trẻ vướng mắc những trở ngại về ngôn ngữ, ví dụ : điếc tai, không phát âm đúng, chậm phát triển về ngôn ngữ hoặc mọi mặt khác, cũng có thể vì trẻ không thạo ngôn ngữ đang được sử dụng.
• vì tình trạng tâm lý sôi động của trẻ khiến em không thể trò chuyện một cách dễ dàng.
2. CÁCH TRÒ CHUYỆN CỦA BẠN
Trẻ có cảm thấy thoải mái và sẵn sàng cởi mở hay không là tùy ở cách trò chuyện của bạn. Người lớn gây trở ngại cho cuộc trò chuyện khi :
• nói quá nhiều;
• hay phê phán, đánh giá;
• cười nhạo hoặc hạ nhục trẻ;
• đàn áp hoặc ức hiếp trẻ;
• chính bạn bị đau buồn hay có tình cảm sôi nổi;
• nói ngược lại trẻ hoặc tranh luận với trẻ;
• khó chịu hoặc bối rối khi trẻ đau buồn;
• không tôn trọng niềm tin hoặc lối sống của trẻ;
• không tạo ra được hoàn cảnh để trẻ có thể yên tâm tin tưởng bạn;
Những nỗi khó khăn của người lớn trong việc chuyện trò với trẻ


Những kỷ niệm đớn đau trong lòng người nghe
Chẳng phải lúc nào người lớn cũng dễ dàng trò chuyện với trẻ. Thường là người đang cố gắng giúp đỡ một em bé cũng đã từng chịu khổ y như em này, và những kỷ niệm đớn đau này sống lại khi nghe em bé kể chuyện. Đôi khi người ấy muốn khóc và vì vậy đâm ra bối rối hoặc sợ mình không còn tự chủ được nữa. Nếu gặp tình huống này, bạn nên cố gắng tập trung tư tưởng vào những đau khổ của em bé chứ không phải những đau khổ của bạn. Bạn và em bé có lặng thinh trong giây lát, và rồi bạn nói vài lời gì đó chẳng hạn như : "Những điều ấy khiến chú cũng buồn theo", hoặc "Cháu nói tiếp những gì cháu đương nói lúc nãy đi". Khi trẻ nhận ra rằng người lớn cũng có những tâm trạng đau thương và họ đã phải tập vượt qua những đau thương đó thì nhận thức này có ích cho trẻ.
Không biết làm sao ứng phó
Thật khổ sở khi nghe trẻ nói ra những đau khổ và khó khăn của em, nhất là khi bạn không biết đáp ứng như thế nào và e sợ rằng mình sẽ làm cho tình cảm của trẻ tệ hơn nữa. Khuynh hướng tự nhiên là muốn né tránh sự đau khổ của trẻ và muốn ngăn trẻ lại để em đừng bộc lộ khổ đau nữa : " Đừng khóc”, "Thôi đừng nghĩ đến chuyện ấy nữa"; thậm chí còn muốn thoát ra khỏi cảnh bị nghe em nói.
Nếu em bé rất sầu khổ, hãy an ủi em và từ từ khuyến khích em tiếp tục cuộc trò chuyện. Hãy cho em thấy rằng việc em bày tỏ tâm trạng với bạn là hợp tình hợp lý, rằng bạn có thể chấp nhận đau khổ của em và sẽ chẳng tránh né em sau khi em đã tâm sự với bạn.
Nếu bạn cho rằng em bé ấy đang ở trong tình trạng chao đảo thì hãy lo liệu sao cho có đủ thời giờ trước khi trò chuyện với em kẻo chưa kịp an ủi em thì đã phải đứng lên đi làm việc khác. Hãy liệt kê trước tất cả những cách an ủi khác nhau mà bạn biết được để tạo cho mình tư thế sẵn sàng giúp trẻ bị chao đảo mạnh (xem phần 6). Bản thân bạn cũng phải được nâng đỡ đầy đủ, có thể bạn mới dễ dàng đương đầu với đau khổ của người khác hơn (xem phần 11).
3. TẠI SAO TRẺ THẤY KHÓ TRAO ĐỔI
Trò chuyện với người lớn
Nhiều trẻ em không quen nói cho người lớn nghe về tâm trạng của chúng nhất là những người lớn mà em không quen biết nhiều. Nhiều xã hội qui định rõ ràng vấn đề chuyên biệt nào thì phải trao đổi với ai, chẳng hạn trẻ muốn xin lời khuyên thì phải đến với người lớn nào mới đúng luật. Một bé gái có thể chỉ cảm thấy thoải mái khi kể cho bà nghe về việc em bị cưỡng hiếp, hoặc nếu không có bà em sẽ nói chuyện với một phụ nữ luống tuổi.


Khó diễn tả cảm xúc bằng lời
Nhiều trẻ em chưa bao giờ được khuyến khích để tự nói về mình và không có đủ lời để diễn tả tâm trạng.
Trẻ nào gặp phải những biến cố bi thương thì thường khó diễn tả tâm trạng bằng lời. Có thể do em sợ bị choán ngợp bởi chính những tâm trạng của mình và muốn đè nén những tâm trạng ấy. Có những trẻ chẳng nói năng gì suốt mấy tháng, thậm chí suốt mấy năm, sau khi gặp chuyện quá buồn đau. Đâu phải lúc nào cũng dễ dàng thấy rõ được tâm trạng của mình là thế nào. Có những kinh nghiệm hoặc tâm trạng quá đau thương đến nỗi ta không thể nghĩ đến chúng được nữa - chúng đã biến thành vô tri vô giác như đóng băng trong lòng ta.
Hoài nghi, thiếu tin tưởng
Trẻ sống trong tình cảnh khó khăn thường có đủ lý do để ngờ vực. Các em có thể sợ bị chỉ điểm, bị tố giác, bị trừng phạt hoặc bị cưỡng bách hồi hương vì không được chấp nhận cho hưởng qui chế người tị nạn. Những người lớn mà các em gặp thường có vẻ xa cách với em và không hiểu được những khó khăn này.
Giận dữ và có ác cảm
Một số trẻ tức giận người lớn vì bị bạc đãi hoặc không được chăm sóc thích đáng; hoặc có thể do các em cứ đinh ninh mình sẽ bị phê bình hoặc trừng phạt.
Mặc cảm có tội, tự trách mình
Lại có những em hổ thẹn vì những gì đã xảy đến cho mình như bị cưỡng dâm, bị làm nhục; hoặc các em tự trách mình vì đã không bảo vệ được cho gia đình, vì mình còn sống sót trong khi mọi người thân đều thiệt mạng.
4. KHÔNG NÓI THẬT
Cũng như người lớn, trẻ không luôn luôn nói ra sự thật. Thay vì tức giận với các em, bạn hãy cố gắng tìm hiểu xem nguyên nhân nào dẫn đến trở ngại này.
Ước mơ một tình cảnh khác
Đối với trẻ nhỏ tuổi, mộng và thực đôi khi không có ranh giới. Thí dụ các em ước mơ rằng ba, má hoặc một người ruột thịt thân yêu nào đó vẫn còn sống - ước mơ ấy mãnh liệt đến nỗi điều này có vẻ như thật đối với các em.
Tránh né những đề tài đau thương
Thay vì nói về nỗi đau thương, ta thường thấy tránh né không nói về cái đau thương đó lại dễ hơn. Lúc đầu, Mateus nói rằng cậu không biết cha mẹ cậu hiện ở đâu. Nhưng khi bắt đầu cảm thấy tin tưởng người lớn đang trò chuyện với mình, cậu bắt đầu kể lại cha mẹ bị giết như thế nào.
Sợ bị hậu quả xấu
Có những trẻ không dám đả động gì đến nhà ở hoặc ký túc xá của mình vì sợ sẽ bị phạt vì tội kêu ca phàn nàn. Hãy giải thích rõ rằng sẽ không xảy ra chuyện em phải chịu khổ do bạn thông tin với người khác những gì em nói ra hoặc những gì ghi trong hồ sơ của em.
Cố gắng lấy lòng người lớn
Trẻ thường không biết tại sao có cuộc trò chuyện với bạn. Các em cố gắng nói ra những điều "hay", những điều mà các em cho rằng bạn muốn nghe, biết đâu chừng nhờ thế các em sẽ được lợi lộc, chẳng hạn sẽ được phát thêm thực phẩm hoặc quần áo.
Cố ý nói dối
Trẻ chỉ muốn đặt niềm tin tưởng vào bạn sau khi bạn đã tạo được một bầu khí tin tưởng - điều này càng rõ hơn trong trường hợp bạn tiếp xúc với trẻ em đường phố và những trẻ em có dính líu đến tội ác và bạo lực. Thay vì từ chối không trò chuyện, các em có thể bịa đặt ra những câu trả lời để mau chóng tống khứ bạn đi. Lại có những trẻ lôi kéo sự chú ý của bạn bằng cách khoác lác về những tội ác kinh khủng hoặc những hành vi bạo lực dữ dội mà chúng đã thực hiện - điều này dễ xảy ra khi trẻ khám phá ra rằng chúng có thể thu hút sự chú ý bằng những câu chuyện như thế.
Nếu thấy nghi ngờ về những gì trẻ nói ra, bạn có thể gợi lại chuyện ấy để tìm hiểu thêm. Đừng tranh cãi, bắt bẻ hoặc phê bình, nhưng hãy nói những lời như : "Nói chuyện về những điều gay go / về cuộc sống của các em thật khó lắm chứ nhỉ" để tỏ ra rằng cho dù các em đã không nói sự thật, bạn vẫn sẽ chấp nhận các em.
5. CÓ THỂ LÀM GÌ ĐỂ GIÚP TRẺ CỨ MÃI LẶNG IM ?
Cần phải vượt qua những trở ngại cho việc trao đổi nói trên bằng cách tìm hiểu nhau và xây dựng niềm tin tưởng, tuy có thể phải mất một thời gian lâu dài. Hãy nhớ rằng trẻ vẫn bộc lộ tâm trạng của chúng dù không bằng lời nói. Hãy cố gắng nắm bắt được những gì trẻ đang truyền thông bằng hành vi cử chỉ, qua việc vui chơi và sự liên hệ với người khác. Hãy nhìn nhận rằng nhẫn nại là cần thiết và hãy tỏ ra rằng bạn chấp nhận trẻ và không phê phán các em. Những đề nghị sau đây có thể hữu ích :
• Sự vuốt ve vỗ về và chú ý đến trẻ để tỏ sự quan tâm;
• Dùng các trò chơi, các hoạt động, các chuyến đi dã ngoại để giúp trẻ cảm thấy thoải mái và an toàn;
• Dùng tranh vẽ, chuyện kể, con rối, mặt nạ, tức các phương tiện giúp trẻ bộc lộ tâm trạng;
• Đưa trẻ vào một nhóm nhỏ để học tập và vui chơi để em có cơ hội quen thân với một số em khác và cảm thấy yên ổn với các em ấy. Chú ý chăm lo sao cho em không bị các em khác phớt lờ hoặc bỏ quên;
• Đừng ép em phải trò chuyện, nhưng hãy đáp ứng sốt sắng và tích cực khi em cố gắng phơi bày tâm sự. Cứ nói với em càng nhiều càng tốt dù em không đáp lời bạn;
6. TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC VUI CHƠI VÀ DIỄN TẢ TÂM TRẠNG
Có nhiều hình thức diễn tả cho phép trẻ bộc lộ tâm trạng mình một cách yên tâm, thoải mái, đồng thời được giải trí vui vẻ và cảm thấy hãnh diện vì những thành tích của mình :
Trò chơi tưởng tượng :
Hoặc một mình, hoặc cùng với các em khác, trẻ có thể "diễn xuất" những chuyện buồn đau. Đừng ngăn cản hình thức diễn kịch tự phát này vì nó giúp trẻ ổn định dần những cảm xúc và kỷ niệm đau thương của em.
Dùng truyện kể
Những truyện kể về những nhân vật đã khắc phục khó khăn trong cuộc sống của nhân vật đó giúp trẻ liên tưởng đến chính mình lướt thắng những khó khăn của chính em. Ví dụ, truyện kể về những con vật nhỏ bé biết dùng mưu đánh bại sư tử và voi, hoặc truyện kể về những người làm được phép mầu và lập được kỳ tích - những truyện này truyền đạt ý tưởng là ngay cả những người rõ là yếu đuối cũng có thể thành công, và như thế chúng khích lệ sự tự tin trong lòng các em.
Vẽ tranh
Qua tranh vẽ, trẻ truyền thông những kinh nghiệm và những tâm trạng mà em khó nói ra bằng lời. Bạn cần lưu ý để không gây ảnh hưởng đến những gì em vẽ. Em nào chưa vẽ bao giờ có thể chưa tự tin và hỏi phải vẽ gì, hoặc em sao chép tranh người khác đã vẽ hoặc tranh nhìn thấy trong sách. Trước tiên nên đề nghị trẻ vẽ bất cứ cái gì trẻ muốn vẽ. Về sau, bạn có thể đề nghị một đề tài như "tương lai của em", "giấc mơ", "gia đình em", "chiến tranh" - những đề tài như thế chỉ kích thích óc tưởng tượng của trẻ chứ không ảnh hưởng đến việc em phải xử lý tâm tư, tình cảm của em như thế nào.
Khi trẻ vẽ xong, bạn có thể xin trẻ nói cho bạn nghe về bức vẽ ấy, nhưng đừng ép em phải nói. Việc vẽ tranh tự nó có thể là một phương tiện giải tỏa tâm lý hoặc có thể mở đường cho việc trao đổi trò chuyện bằng lời.
Không nhất thiết phải cần đến giấy bút mà có thể vẽ ngay xuống đất hoặc dùng đất sét để nặn hình tượng.
Nếu có thể, bạn hãy treo tranh lên tường hoặc cất giữ chu đáo để tỏ ra rằng bạn trân trọng những gì trẻ đã làm.
Dùng con rối và mặt nạ
Khi giả vờ làm người khác, trẻ có thể bộc lộ ý nghĩ, tâm trạng của mình mà lúc bình thường rất khó nói. Trẻ có thể giấu mình sau chiếc mặt nạ hoặc con rối và trò chuyện với con rối hoặc mặt nạ của người lớn đang giúp em. Làm như vậy, em không cảm thấy lo liệu như khi trò chuyện trực tiếp.
Âm nhạc và vũ
Âm nhạc, ca hát và nhảy múa là những phương tiện rất hữu hiệu để giúp những trẻ có tâm lý quá căng thẳng, u sầu, nhất là nếu các ca khúc và giai điệu đó lại quen thuộc và liên kết với những kỷ niệm vui tươi. Tiết tấu và tiết điệu có tác dụng giải tỏa căng thẳng và đem lại tâm trạng sảng khoái. Hoạt động tập thể khiến trẻ cảm thấy an toàn và có thể bày tỏ tâm trạng mà không phải dùng đến lời nói hoặc không cảm thấy e thẹn.
Kịch nghệ
Việc tham gia vào hoạt động kịch nghệ cũng đem lại lợi ích không kém, vì trẻ sáng tác ra một câu chuyện diễn tả điều gì đó quan trọng đối với các em. Trẻ có thể dùng mặt nạ để cách ly mình với những cảm xúc của các nhân vật.
Ví dụ, trẻ có thể thực hiện một vở kịch kể về những kinh nghiệm thực sự của các em và thử nghiệm các kiểu khác nhau cho các kịch bản : kết có hậu và kết không có hậu. Khi kết thúc, bạn có thể trao đổi với trẻ xem các em cảm thấy thế nào về vở kịch và đoạn kết của vở kịch.
Thay vì diễn xuất, bạn và trẻ có thể dựng kịch múa rối. Loại hình này tránh cho trẻ khỏi bị xáo động vì phải trực tiếp đối phó với cảm xúc của những con người "thật".
Viết
Đối với những trẻ biết viết thì việc làm thơ, viết truyện về những gì các em đã trải qua là phương tiện rất hữu ích để diễn đạt tâm trạng.
Trong tất cả các hoạt động nói trên, bạn hãy để cho trẻ tự do diễn tả theo ý thích. Đừng phê bình kỹ thuật biểu diễn hoặc chất lượng biểu diễn của trẻ vì làm như thế là ngăn trở trẻ diễn đạt tự do, thoải mái.
7. TRẺ CHƯA ĐẾN TUỔI ĐI HỌC
Nhiều người lớn thấy rất khó trao đổi với trẻ nhỏ tuổi. Ở tuổi này, không phải lúc nào trẻ cũng có thể trò chuyện dễ dàng. Một số em im bặt luôn một thời gian dài sau khi đã trải qua một kinh nghiệm buồn đau. Tuy em bé không hỏi han về gia đình hoặc về tương lai của em, nhưng rất có thể em đang nghĩ đến những điều ấy. Ta cần phải trò chuyện với em một cách đơn giản và dịu dàng về những điều có thể em đang bận tâm. "Chắc là cháu đang lo lắng cho gia đình cháu lắm ... Thật là buồn vì không biết ba má bây giờ ở đâu", và giải thích một cách đơn giản về những kế hoạch cho tương lai của em. Tùy theo mức độ đáp ứng của em, ta có thể cho em biết thêm điều này, điều nọ. Chỉ nguyên việc chấp nhận tâm trạng của em đã là giúp được em rồi. Trẻ sẽ nhận ra người lớn nào không muốn biết đến tâm trạng và ý nghĩ của em, và em sẽ không cố gắng trao đổi nữa.
Điều hết sức quan trọng là phải đưa ra nhiều cách thức khác nhau để trẻ nhỏ tuổi bộc bạch tâm sự. Có thể là :
• gần gũi, thân mật với trẻ;
• trò chơi, truyện kể;
• những hoạt động mang tính diễn tả như vẽ tranh, ca vũ nhạc, kịch tuồng, múa rối ...
Ví dụ - một em bé trầm lặng
Mulwene được vào nhà trẻ mồ côi khi em mới lên năm vì chiến tranh đã đẩy em vào cảnh vô gia đình. Em đã ở viện mồ côi được 5 tháng và vẫn không nói năng gì với ai. Sự yên lặng ấy có thể vì những lý do gì ?
Một vài gợi ý :
• phải chăng em bị điếc ?
• em không hiểu thứ tiếng đang được sử dụng chăng ?

Mulwene không có vẻ gì là bị điếc cả. Em đã đáp ứng được những câu nói yêu cầu đơn giản, những tiếng động rất nhỏ và em không hề nhìn miệng người ta để hiểu người ta đang nói gì. Rõ ràng là em hiểu được thứ ngôn ngữ đang được sử dụng.
Em có dáng vẻ buồn rầu, mau nước mắt, tránh né tiếp xúc với các em khác và không thiết gì đến việc chơi đùa. Em luôn đi theo các nhân viên làm việc trong viện mồ côi.
Viện mồ côi đã giúp em như thế này :
• một cuộc thảo luận được tổ chức, và kết luận đưa ra là Mulwene sầu buồn vì mất hết liên lạc với gia đình; em cần phải được quan tâm săn sóc đặc biệt;
• một thành viên, cô Josefa, được chọn ra làm người chăm sóc đặc biệt cho em. Một thành viên khác sẽ tạm thay thế mỗi khi Josefa nghỉ ngơi.
• Josefa hết sức quan tâm đến Mulwene. Hàng ngày vào một giờ đều đặn, cô chơi đùa với em và hai em khác nữa trong vòng 15 phút. Cô kể chuyện cho các em nghe và khuyến khích các em vẽ tranh. Mulwene đã vẽ mấy bức về gia đình của em và dần dần em có thể nói cho Josefa nghe đôi điều về người thân của mình. Dần dần, em làm bạn với các em khác và tỏ ra vui vẻ hơn
8. TRẺ LỚN HƠN
Một số trẻ lớn không muốn trò chuyện với người lớn vì sợ bị phê bình hoặc vì các em có những điều muốn giấu. Ví dụ, đó là các trẻ em đường phố, các em trai có dính líu đến các hành vi bạo lực hoặc các em gái đã bị cưỡng hiếp.
Ví dụ - trẻ khó trao đổi với người lớn
Sonia là một bé gái 13 tuổi. Rất ít khi em đến trường, và nếu có đi học thì em cũng rất tách biệt, lẻ loi. Thầy giáo của em mời cha mẹ em cùng với em đến gặp thầy. Trước mắt cha mẹ, Sonia đã nói ra với thầy tâm trạng hổ thẹn của em vì bị cưỡng hiếp cách đó mấy tháng. Thầy bày tỏ ý thông cảm rằng đây là điều rất khó cho Sonia vượt qua, nhưng thầy vẫn khuyến khích cô bé đến trường và hòa mình vào một nhóm nhỏ các nữ sinh trong lớp. Từ đó trở đi cô bé đã có thể đi học đều đặn.
Benito 12 tuổi, đã từng dính líu vào một vụ ẩu đả có vũ khí. Cậu rất thô bạo, hung hăng, không tin tưởng người khác và chẳng cần bị trêu chọc cũng sẵn sàng vung nắm đấm. Cậu được gửi vào làm việc với một bác thợ mộc lớn tuổi. Trong vòng mấy tháng, cậu dần dần trở nên gắn bó với bác thợ và bắt đầu mở miệng bàn bạc về tương lai của mình.

9. TÓM TẮT
Sau khi trải qua những kinh nghiệm đau thương, có thể trẻ thấy khó trao đổi trò chuyện. Bạn cần ghi nhớ những điểm sau đây :
• Việc trao đổi với trẻ sở dĩ gặp trở ngại có thể là vì bạn chưa đáp ứng thích đáng đối với trẻ - ví dụ, chưa xây dựng được bầu không khí tin tưởng, thiếu khích lệ trẻ, gây trở ngại cho những nỗ lực trao đổi trò chuyện của trẻ.
• Một trong những cách tốt nhất để nâng cao kỹ năng trao đổi là xin các đồng nghiệp quan sát, góp ý để bạn tiến bộ hơn.
• Các đồng nghiệp có thể hỗ trợ, giúp đỡ bạn ứng phó với những tâm trạng căng thẳng đau buồn của chính bạn.
• Ý muốn trao đổi trò chuyện của trẻ có thể bị ngăn trở bởi những tâm trạng khác như buồn sầu, không tin tưởng, tức giận hoặc mặc cảm tội lỗi.
• Nếu trẻ có vẻ như không nói thật, hãy cố gắng tìm hiểu tại sao; hãy chấp nhận việc nói dối như một cách để trẻ diễn tả những tâm trạng nào đó.
• Bạn có thể góp sức phá vỡ những trở ngại cho việc trao đổi bằng cách đem đến cho trẻ những phương tiện diễn tả khác và bằng cách xử sự nhẫn nại.

Trích quyễn Trao đổi với trẻ, trợ giúp trẻ bị khổ tâm

12 tháng 6, 2008

Khu công nghiệp" trẻ em


Khu công nghiệp" trẻ em
Phóng sự của Hoài Nam

Đã 23 giờ nhưng các em vẫn làm việc - Ảnh: Hoài Nam
Làm việc quần quật từ sáng tới khuya, lương ít ỏi trả theo năm. Đó là tình trạng của nhiều trẻ em đang lao động ở P.Bình Hưng Hòa, Q.Bình Tân, TP.HCM.

Ca đêm

Chúng tôi đến "xóm may" ở khu phố 10, P.Bình Hưng Hòa vào nửa đêm.

Dọc khắp các ngõ hẻm chằng chịt của đường số 15 và các tổ 170, 171, 174, hẻm 507, tiếng máy may của hàng trăm hộ gia đình rền vang như một khu công nghiệp. Ngồi bên bàn máy may ấy là những công nhân trong độ tuổi đến trường đang làm từng công đoạn trong phần việc của mình. Chúng tôi thấy rõ gương mặt mệt mỏi của những em trai gầy tong teo, những em gái già trước tuổi. Suốt nhiều đêm liền thực hiện việc ghi hình vào đầu tháng 6, chúng tôi không bao giờ chứng kiến cảnh các em cười nói hồn nhiên, có em còn ngủ gục bên bàn máy...

Ông Hồ Tâm, Phó chủ nhiệm Ủy ban Dân số - Gia đình và Trẻ em TP.HCM cho biết, những doanh nghiệp, cơ sở sử dụng lao động trẻ em là vi phạm quy định của Bộ luật Lao động. Điều 120 của Bộ luật Lao động nêu rõ: Cấm nhận trẻ em chưa đủ 15 tuổi vào làm việc, trừ một số nghề và công việc do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định. Và Điều 122 quy định: Thời giờ làm việc của người lao động chưa thành niên không được quá 7 giờ một ngày hoặc 42 giờ một tuần. (Bảo Thiên)

Đã 22 giờ đêm nhưng các ngôi nhà ở tổ 171 ánh điện vẫn sáng choang, nhìn từ xa thấy rõ 8 thiếu niên (5 nữ, 3 nam) đang quần quật làm việc. Lấy lý do vào thăm người em họ tên Nguyễn Văn Quân (quê Bắc Giang), chúng tôi xin phép ông chủ (khoảng 40 tuổi) vào gặp. Quân năm nay đã 17 tuổi nhưng trông như cậu bé tuổi 13, nặng có 36 kg. Quân học hết lớp 5 thì vào Sài Gòn làm công theo môi giới của "cò" lao động, với mức lương 6 triệu đồng cho hai năm làm việc, được trả cho bố mẹ em ở quê. Mặc dù có người nhà tới thăm nhưng Quân vẫn không dám nghỉ tay. Quân kể, trước đây em làm ở P.Tây Thạnh (Q.Tân Phú), nhưng bị chủ "xù" lương. Biết em thất nghiệp, chủ nhà này đến đón em về. Theo "hợp đồng miệng" thì em được hưởng 6 triệu đồng/2 năm cho công việc vắt sổ, ăn ở chủ lo.

Ngồi bàn may kế bên, Tuấn (13 tuổi, quê ở Thái Nguyên) đang chăm chú xếp gọn những chiếc áo thun thành phẩm một cách thuần thục. "Gia đình em nghèo lắm, nên 3 chị em em vào đây làm công theo hợp đồng là 6 triệu đồng/2 năm. Em làm được gần một năm rồi, còn hai chị của em đã vào đây từ mấy năm trước" - Tuấn kể.

Không thể ngồi lâu hơn bởi ông chủ của các em thỉnh thoảng lại đảo mắt dò xét, chúng tôi ra về. Xem lại băng ghi hình, chúng tôi mới thực sự thấy được các em cơ cực thế nào. Em nào cũng xanh xao, mắt thâm quầng vì thiếu ngủ...

Tuổi thơ lưu lạc

Theo tìm hiểu của chúng tôi, những em đang làm công cho chủ may gia công ở khu phố 10 đều từ các tỉnh phía Bắc vào. Các em phải làm việc liên tục một tháng đủ 30 ngày. Giờ làm việc được ấn định như sau: Sáng từ 6 giờ đến 12 giờ, chiều từ 13 giờ đến 18 giờ, tối từ 19 giờ đến 23 - 24 giờ. Nếu như có tay nghề các em sẽ được trả 10 triệu đồng/2 năm, còn "không biết gì" thì được trả 4 triệu đồng/2 năm.

Không chỉ riêng khu phố 10 mà trong khắp P.Bình Hưng Hòa đi đến đâu cũng gặp cảnh tương tự. Cụ thể là ở tổ 64, khu phố 4. Toàn tổ có 15 hộ gia đình sử dụng lao động trẻ em. Trong tổng số 95 lao động làm công cho 15 hộ gia đình này có đến 26 trường hợp chưa đủ tuổi lao động và các em đều không được ký hợp đồng lao động, không được đóng bảo hiểm xã hội.

Theo báo cáo của lãnh đạo khu phố 4 với UBND phường thì mỗi ngày các em phải làm việc từ 12 đến 14 giờ. Ông Phó chủ tịch UBND phường Võ Văn Thạch cho biết đầu tháng 6 vừa qua, UBND phường có báo cáo và đề nghị cấp trên xử phạt hộ bà Đặng Ngọc Minh (sinh năm 1977) và hộ bà Nguyễn Thị Tám (sinh năm 1964) thuộc tổ 64, khu phố 4 mỗi hộ hơn 8 triệu đồng do không đăng ký kinh doanh theo quy định, không đóng bảo hiểm xã hội, không ký hợp đồng cho người lao động. Số hộ vi phạm còn lại sẽ được UBND phường xử lý khi có kết luận chính thức từ đoàn kiểm tra.

Làm việc với PV Thanh Niên sáng 5.6, ông Phan Văn Rắc, Chủ tịch UBND phường cho biết, các chủ cơ sở may trong phường đa phần không đăng ký kinh doanh. "Để các hộ này hoạt động không phép là lỗi của UBND phường, do quản lý chưa chặt. Nhưng các chủ hộ cũng bưng bít thông tin, không chịu khai báo. Các em làm công đa phần là nghèo và đều từ quê vào, vì vậy khi chúng tôi tới kiểm tra các em đều nói là người nhà nên chưa có cơ sở để xử lý", ông Rắc than thở.

Khi chúng tôi mở những đoạn phim quay cảnh các em đang phải làm việc lúc 23 giờ, ông Rắc thực sự sửng sốt và quay sang nói với Phó chủ tịch Võ Văn Thạch: "Lập tức kiểm tra, không để các cháu bị bóc lột sức lao động". "Ngay từ bây giờ, tôi sẽ chỉ đạo ngay công an phường vào cuộc để nắm lại chính xác độ tuổi của các em qua việc đăng ký tạm trú. Sau đó, sẽ chuyển sang bộ phận kinh tế, lao động rà soát chặt theo Bộ luật Lao động. Từ đó mới có cơ sở để xử lý nghiêm các chủ hộ vi phạm", ông Rắc khẳng định.

Nguồn: Báo Thanh nien ngày 10/06/2008

20 tháng 5, 2008

8 nguyên nhân khiến trẻ hung dữ


8 nguyên nhân khiến trẻ hung dữ
Hay cắn người khác, đánh cả người thân và bạn bè, la hét, đập phá… là những dấu hiệu cảnh báo ở trẻ. Nếu không được khắc phục kịp thời, trẻ sẽ trở nên rất hung dữ về sau.
Ngoài yếu tố di truyền, có rất nhiều nguyên nhân làm trẻ em trở nên hung dữ:
Bước “chuyển tiếp” của trẻ hiếu động
Trẻ hiếu động có một số biểu hiện: dễ hưng phấn, tích cực vận động, có xu hướng thay đổi đột ngột tâm trạng và biểu hiện cảm xúc thái quá, không tập trung, rối loạn phối hợp vận động, khó khăn trong học tập… Từ khí chất hiếu động, nếu không có môi trường vận động phù hợp, trẻ có thể chuyển hướng sang trạng thái hung dữ.
Làm thế nào để xác định con bạn là đứa trẻ quá hiếu động hay chỉ đơn giản là đứa bé sống động và hoạt bát? Trẻ hiếu động luôn vận động thường xuyên và không có mục đích. Đôi khi bé nói huyên thuyên không nghỉ, mà nội dung các câu nói đó gây lo ngại cho người lớn do có quá nhiều tưởng tượng và quá ít logic.
Đối với trẻ có tính hiếu động, bạn cần giúp con có cảm giác thanh thản trong tâm hồn. Không bao giờ được làm cho trẻ trở thành người bị xua đuổi khỏi tập thể, vì điều đó sẽ gây ra trong lòng trẻ hàng loạt mặc cảm và nỗi tức giận, càng phát triển tính hung hăng và giận dữ.
Cần tạo cho con không gian yên tĩnh trong phòng riêng(không nên ồn ào, không bật TV và không có ai quấy rầy). Cần thu dọn hết những gì có thể làm bé xao lãng (như đồ chơi, chiếc xe đạp yêu thích...). Khi đến giờ bé cần đi ngủ, tất cả nên đi ra khỏi phòng, tắt đèn và giữ yên lặng. Trong phòng của trẻ không nên có những màu sắc sặc sỡ - tốt hơn nên chọn màu trang nhã cho tường và đồ gỗ. Đồ chơi nên chọn loại "hòa bình” hơn.
Tình trạng bất ổn của cơ thể
Chúng ta thường có nhu cầu tìm ra nguyên nhân và giải pháp chữa trị các cơn đau (bất ổn) trong cơ thể của mình. Trẻ con cũng vậy. Những trẻ không được cung cấp đủ dinh dưỡng trong những năm đầu đời có nguy cơ trở nên hung dữ, thù địch với xã hội trong thời kỳ thơ ấu và lứa tuổi thiếu niên. Từ đó, tình trạng trẻ “giận cá chém thớt ” sẽ thường xảy ra. Khi trẻ có thể giao tiếp, bạn cần giúp con cách lắng nghe và nói ra (mô tả) những bất ổn của mình, cả về tinh thần hoặc thể chất.
Bước chuyển tiếp của giai đoạn “chống đối”

Ở lứa tuổi 2 lên 3, trẻ bắt đầu ý thức về bản thân, biết mình có tên riêng, là con gái hay con trai, phân biệt mình với mọi người và thế giới xung quanh. Trẻ nảy sinh ý muốn và hành động phân biệt mình với người khác, đặc biệt không muốn người lớn can thiệp vào hoạt động của mình (muốn tự chọn quần áo, tự khóa cửa, tự rót nước…).
Mong muốn làm người lớn, được độc lập là động lực mạnh mẽ thúc đẩy sự phát triển của trẻ, đồng thời cũng làm xuất hiện tính bướng bỉnh, ích kỷ và hỗn. Đây là giai đoạn “chống đối” tự nhiên của trẻ con. Trong thời gian “khủng hoảng tuổi lên 3” này, các bậc phụ huynh cần bình tĩnh khi đối mặt với các hành vi “xấc láo” của trẻ. Chúng ta nên hiểu rằng đó là sự phát triển bình thường, là sự manh nha hình thành cá tính. Trẻ hoàn toàn không biết đến giới hạn của sự lễ phép, văn hóa hay khuôn phép giao tiếp của người lớn.
Trong giai đoạn này, trẻ bắt đầu thích nghe lời đánh giá và nhận xét của người lớn về mình, thích được khen. Do đó, trước sự “nổi loạn”, phụ huynh cần bình tĩnh, có thể làm ngơ trước sự hung hăng ấy, nhưng sau đó nên giải thích nhỏ nhẹ: “Con không được đánh mẹ như vậy, vì mẹ sẽ đau”; “Con không nên giành đồ chơi của bạn, vì nó không phải của con”….
Làm ngơ, khen ngợi, giải thích nhẹ nhàng là hướng xử lý phổ biến khi con trẻ ở giai đoạn phát triển này. Điều tai hại nhất là bạn dùng bạo lực. Đừng để trẻ nghĩ rằng bạo lực và sự hung hăng là điều bình thường trong cuộc sống.
Trẻ học bạo lực từ môi trường sống
Những bất an về tinh thần làm giảm chỉ số thông minh (IQ) trẻ em. Những đứa trẻ thường xuyên chứng kiến cảnh ngược đãi trong gia đình hoặc ngoài xã hội cũng rất dễ trở thành người hung hăng, bạo ngược. Ngoài ra, những bài hát với lời lẽ kích động và phim bạo lực cũng sẽ thúc đẩy suy nghĩ và tình cảm hung hãn của trẻ.

Bị ngược đãi
Người lớn không nên đánh bé trước khi lên 2 tuổi, vì trẻ ít khả năng hiểu được ý nghĩa hình phạt và làm theo lời căn dặn nên dễ bị tổn thương hơn. Những trẻ cảm thấy an toàn ở độ tuổi này sẽ ít lệch lạc về hành vi và tình cảm khi lớn lên. Bị bắt nạt hoặc ngược đãi từ bé, lớn lên trẻ có thể thành kẻ sát nhân. Do đó, cần bảo vệ trẻ em trước bạo lực của người lớn (thầy cô, người thân…) và bạn bè của trẻ.
Stress vì sợ hãi
Nếu có một nỗi sợ hãi thường xuyên, trẻ dễ căng thẳng, lo lắng vô cớ. Phụ huynh cần tìm hiểu và giải thích cho trẻ giải tỏa nỗi sợ hãi đó, từ đó giúp con lựa chọn cách ứng xử phù hợp nhất. Theo các chuyên gia, âm nhạc kích thích các trung khu ngôn ngữ trong não; những trẻ được tiếp xúc với âm nhạc sớm thường biết nói sớm hơn. Âm nhạc còn giúp phát triển các kỹ năng vận động, giảm đi tính hung hăng, nóng nảy hay stress ở trẻ.
Được chiều chuộng quá mức
Từ con cưng đến “bạo chúa” là con đường khá ngắn. Vậy mà nhiều phụ huynh vẫn không biết phân biệt ranh giới giữa tình thương con và sự chiều chuộng quá mức. Bạn cần kiên quyết phản đối trẻ trong các trường hợp: Làm đau người khác, bé cáu gắt và yêu cầu nhảm nhí, lấy đồ chơi không phải của mình, khi trẻ làm những việc có thể nguy hiểm.
Từ sự chiều chuộng trẻ quá mức, một số trẻ nhận ra: Hung dữ sẽ an toàn hay sẽ được thỏa mãn một yêu sách nào đó. Trường hợp này người lớn cần bình tĩnh. Có thể áp dụng chiêu “làm ngơ” nếu bạn thấy thực sự không nguy hiểm cho con trẻ. Cần giúp trẻ tạo cảm giác bình an và từng bước xây dựng phong cách phản ứng không bạo lực.
Manh nha thói “anh hùng rơm”
Từ khóc la đến gào thét, đập phá và cuối cùng là bạo lực, sự tiến triển khí chất ấy của trẻ em diễn ra theo một trình tự logic nhất định. Nếu thấy người trong nhà bị “khuất phục” hoàn toàn trước những hành động “anh hùng” của mình, trẻ sẽ manh nha hình thành thói “anh hùng rơm” khi giao tiếp với các bạn. Khi ấy trẻ sẽ tìm mọi cách để các bạn cùng trang lứa “tôn vinh” mình, bằng cả bạo lực hay dùng vật chất “mua chuộc”.
Thông thường thói anh hùng rơm ở trẻ con có nguồn gốc sâu xa từ sự giáo dục sai trái của gia đình. Trong mắt trẻ thơ, điều sai trái sẽ thành đúng đắn. Nết hung dữ thời trẻ con sẽ tạo nên sự bạo ngược, vô kỷ luật, xem thường luật pháp khi trưởng thành.

Việc sửa trị tính hung hăng của trẻ rất cần sự phối hợp của những người thân trong gia đình. Ngay từ tuổi lên 3, trẻ dễ dàng nhận biết và “tranh thủ” sự mâu thuẩn, không triệt để trong cách đối xử của người lớn đối với mình. Nên tìm đến chuyên gia tư vấn khi bạn đã bối rối về hành vi hung dữ của con.

Lê Huỳnh

Bộ môn Giáo dục kỹ năng sống, Trung tâm đào tạo HLV võ thuật Việt Nam

10 tháng 5, 2008

TRẺ EM TRONG PHÁT TRIỂN


TRẺ EM TRONG PHÁT TRIỂN

Đã có nhiều hồi chuông cảnh tỉnh nhắc chúng ta nhớ đến các yếu tố khác ngoài yếu tố kinh tế trong phát triển : yếu tố môi trường môi sinh, phụ nữ, tính bền vững của sự phát triển, bảo vệ nguồn tài nguyên … Cũng đã có sự quan tâm đến quyền lợi của trẻ em trong tiến trình này, song song với quyền lợi của phụ nữ, liệu các chương trình có thật sự nâng cao mức sống và phẩm chất cuộc sống của họ không? Liệu cơ hội có công ăn việc làm là cơ hội thăng tiến cho chính họ hay lại là thêm một cái ách tròng vào cổ họ? Họ đã bị mất những gì? Họ bị những đe dọa mới nào? Làm sao để tạo cơ hội cho họ có thể tận dụng mặt tích cực của sự phát triển?

Ở đây tôi chỉ xin bàn đến một vấn đề cực nhỏ có liên hệ đến trẻ em trong sự phát triển : sự chăm sóc trẻ. Trẻ vừa được xem như là tài nguyên con người của tương lai cần được đầu tư đúng mức và cần được vun quén cẩn thận ngay từ hôm nay, vừa là thành viên hôm nay của cộng đồng, có quyền thật sự tham gia vào công cuộc phát triển đó và có quyền được thỏa mãn các nhu cầu chính đáng hôm nay của mình dù là trẻ em chưa đủ sức để đóng góp một cách tương xứng. Sự chăm sóc tốt không phải là một vài trường hợp điển hình để ghi thành tích, không phải là những con số thống kê 80%, 90% hay thậm chí 99%… mà là chất lượng của sự chăm sóc 20%, 10% hay 1% số trẻ “khó giải quyết” còn lại. Ở các nước Âu, Mỹ, những con số thống kê “còn lại” này là bài toán chưa tìm được đáp số. Những bộ máy chăm sóc và thanh tra sự chăm sóc cứ ngày một lớn, nay thế này mai biến dạng thành thế kia, nói là để tăng hiệu quả việc chăm sóc trẻ nhưng thực tế cho thấy kết quả thật tồi tệ. Trẻ bị tổn thương lớn dễ lên trong lệch lạc và dễ gây tổn thương cho thế hệ sau đó. Ung nhọt xã hội cứ thế lớn dần. Nhà tù và các nhà trừng giới đã đầy ắp nhưng xã hội vẫn chưa sạch !…

Việt Nam ta cũng không nằm ngoài tình trạng này. Nhưng điều đáng mừng là ta còn đang phát triển, còn có thể lựa chọn cho mình một hướng đi khác thích hợp với bản sắc của mình hơn, còn có thể sắp xếp thứ tự ưu tiên theo cách khác. Một điều qúy giá nữa là nếp sống quây quần, có nhiều liên kết giữa người với người vẫn còn là một thói quen được ưa chuộng trong các “cụm” dân cư có liên đới với nhau : phường, xã, thôn ấp, tổ dân phố, họ hàng bà con, nhóm người sống cùng nghề, thành phần xã hội có nếp sinh hoạt giống nhau …

“Cụm” dân cư theo nghĩa rộng này không nhất thiết là cố định trên một địa bàn nào, cũng không nhất thiết là bao gồm hết thảy mọi hộ cư trú trong địa bàn ấy. Thí dụ cộng đồng của dân Vạn Đò xứ Huế trôi nổi theo dòng Hương Giang, các ghe thương hồ tản mạn ở vùng hạ lưu sông Cửu Long, một nhóm dân di trú tại một phường nọ ở thành phố Hồ Chí Minh, tất cả đều đến từ một làng ở Nghệ An… Tiềm ẩn trong các “cụm” hay cộng đồng này là sức mạnh có thể được khai thác để thúc đẩy sự phát triển của cộng đồng đó và của quốc gia. Tính bền vững của sự phát triển tự trong lòng người dân hẳn không thể nào nghi ngờ được. Các chuyên gia về phát triển đã khám phá ra điều này. Đó đây, các chương trình tín dụng, phụ nữ tín dụng, chuyển giao công nghiệp ở nông thôn, khuyến nông, xóa đói giảm nghèo … đã sử dụng sức mạnh này cho công cuộc đổi mới và phát triển hôm nay.

Thế còn sự chăm sóc cho đàn con trẻ thì sao ?

Như đã nói, đây chính là nguồn tài nguyên chính của tương lai. Ta phải đầu tư phát triển theo lỗi nào đây để nguồn tài nguyên này được sung mãn, tự tin và vui sống?

Bảo rằng con ai nấy nuôi chăng? – Ấy chết ! Sao ta lại nở đánh mất cái sức mạnh vô song của sự hợp đoàn mà ta đã kinh nghiệm được trong sự phát triển! Ta đã góp gió thành bảo qua các chương trình tiết kiệm tín dụng, ta đã thấy nông dân thành công hơn trong các vụ mùa khi họ góp sức hỗ trợ cho nhau khi cần, bằng chương cách “dần công”. Vả lại có ai trong chúng ta dám khẳng định là mình chưa hề có những lúc bối rối lo âu vì không thể chăm sóc con cái được mà cũng không biết cậy nhờ ai như những lúc đau yếu, sanh đẻ, tang tế trong gia đình …

Bảo rằng hẳn cứ lo chăm sóc cho chính con em mình trước đã, con người khác có khổ mấy đi nữa thì cũng “hậu xét”, nếu tiện? – Không “tiện” đâu bạn à vì lẽ con bạn có thể sẽ thuộc 80%, 90% hay 99% công dân tốt về sau nhưng đứa trẻ bị bỏ mặc kia lại rất có thể trở thành 1% không tốt của mai sau và đe dọa sự an vui của con bạn đấy. Hoàn cảnh bất lợi làm tổn thương trẻ ngay chứ không đợi cho ta kịp trở tay huống chi nói tới việc bảo chờ đấy cho đến khi thuận tiện cho ta. Cùng sống trong một cộng đồng, ra vào thấy nhau, trẻ lại dễ lây nhiễm nhau cả điều hay lẫn tật xấu.

Đây là ta chỉ mới bàn đến những lợi hại trực tiếp đến ta và gia đình ta, chưa bàn đến bổn phận tập thể của thành viên người lớn đối với thành viên còn non yếu trong xã hội theo tinh thần của Luật Bảo Vệ và Chăm Sóc Trẻ (1991) và của Công Ước Liên Hiệp Quốc về Quyền Trẻ Em.

Bảo rằng đây là chức năng của nhà nước, của các Cô Nhi Viện và của các tổ chức xin và cho con nuôi chăng? – Bạn ơi, bạn đã có dịp xa nhà và nhớ quay nhớ quắc rồi chớ? Trẻ con cũng vậy thôi, có khác chăng là chúng nhớ nhiều hơn, đau đớn nhiều hơn và không biết diễn tả tâm tình của chúng như ta mà thôi. Vả lại, nhà nước chỉ là trạm cứu nguy cuối cùng khi các giải pháp khác đã thử và thua. Bạn đã thử chưa? Chắc chắn là chưa vì bạn và cộng đồng của bạn chưa tự trang bị sẵn cho mình những kiến thức, kỹ năng và các tài nguyên cần thiết để thử.

Nếu cộng đồng bạn đang vươn mình phát triển, bạn thử nghĩ xem có phải việc đầu tư cho thế hệ tương lai là một trong những động cơ chánh hay không? Ngoài học vấn, chăm sóc y tế, vui chơi giải trí trong điều kiện bình thường, cộng đồng còn có thể đầu tư cho con em bằng cách xây dựng một cơ chế cưu mang trẻ trong lòng của cộng đồng, bởi những người mà trẻ đã từng quen mặt, đã ít nhiều có biết đến thân thế trẻ và cha mẹ trẻ. Khi có được cơ chế này, biến cố trọng đại như cha mẹ đột xuất qua đời, gia đình ly tán không còn gây quá nhiều thương tổn cho trẻ. Hướng đầu tư có thể là :

- Tạo cơ hội vui chơi giải trí với bạn bè trang lứa để giảm thiểu số trường hợp bị cô lập, để nhận ra vấn đề sớm.
- Xác định người chuyên trách và tạo điều kiện để việc làm với trẻ của người này được lồng ghép chặt chẽ với các sinh hoạt khác trong cộng đồng.
- Xây dựng một qũy địa phương dành riêng cho việc hỗ trợ việc làm với trẻ trong cộng đồng.
- Sử dụng / hợp tác với các đoàn thể, các trường đào tạo về ngành Công tác xã hội để cập nhật hóa kinh nghiệm và kiến thức trong cộng đồng về cách hỗ trợ gia đình nuôi dạy trẻ, về cách tổ chức sẵn những hộ có người thường xuyên ở nhà có thể trông nom trẻ khi cần.

Như vậy, sự chăm sóc trẻ không giới hạn trong gia đình mà trách nhiệm này còn là của cộng đồng nữa.

NGUYỄN THỊ PHƯỚC

18 tháng 2, 2008

Trẻ em Việt Nam


Trẻ em Việt Nam

© UNICEF Việt Nam\2006\Đoàn Bảo Châu
Trẻ em Việt Nam chiếm 36% dân số và các em được hưởng nhiều lợi ích từ những thành tựu phát triển kinh tế của đất nước. Việt Nam đã đạt hoặc có triển vọng đạt được các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ về chăm sóc sức khỏe và giáo dục trẻ em. Tỷ lệ tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi và trẻ sơ sinh đã giảm đáng kể trong hai thập kỷ qua. Với tỷ lệ tiêm chủng luôn đạt ở mức cao, Việt Nam đã thanh toán được bệnh bại liệt vào năm 2000 cũng như bệnh uốn ván ở bà mẹ và trẻ sơ sinh vào năm 2005. Kể từ năm 1990 đến nay, tỷ lệ mắc bệnh sởi đã giảm 95%. Các trường hợp thiếu Vitamin A đã trở nên rất hi hữu.
Giờ đây, trẻ em Việt Nam cũng được hưởng một nền giáo dục tốt hơn. Khoảng 97% trẻ em trong độ tuổi được học tiểu học, và Chính phủ cam kết tăng cường cơ hội giáo dục cho tất cả trẻ em Việt Nam.
Song, bên cạnh những thành quả đạt được, Việt Nam vẫn bị tụt hậu trong một số lĩnh vực chính liên quan tới trẻ em. Vẫn còn nhiều trẻ em chưa được tiếp cận đầy đủ với nước sạch và các phương tiện vệ sinh môi trường phù hợp (51,5% dân số chưa được tiếp cận với nước sạch; 74,7% chưa có nhà vệ sinh phù hợp). Ngoài ra, hai nghiên cứu mới đây chỉ ra rằng chỉ có 18% các nhà vệ sinh hiện nay là đạt tiêu chuẩn vệ sinh quốc gia. Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em còn quá cao (25% trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng). Những yếu tố chính góp phần dẫn đến tình trạng dinh dưỡng kém ở trẻ em bao gồm: các tập quán chăm sóc và nuôi dưỡng kém; chỉ có 19% trẻ sơ sinh được hoàn toàn bú sữa mẹ trong 4 tháng đầu. Một vấn đề Việt Nam cần cố gắng hơn là tạo điều kiện cho trẻ em được tiếp nhận giáo dục khi các em còn nhỏ tuổi (chỉ có chưa đến 47% trẻ em từ 3 - 5 tuổi được đi nhà trẻ).
Ngoài những vấn đề tồn tại nêu trên, trẻ em Việt Nam còn đối mặt với những thách thức mới. Điều tra về tai nạn thương tích ở Việt Nam cho thấy gần 75% trường hợp tử vong ở trẻ em trên một tuổi là do thương tích, qua đó đưa ra một cách nhìn nhận mới về tử vong và bệnh tật ở trẻ em. Nguyên nhân tử vong chủ yếu là chết đuối và tai nạn giao thông.
Ngoài ra, việc tự do hóa về kinh tế đã làm thay đổi xã hội Việt Nam, gây ra sức ép chưa từng thấy lên các gia đình, trong đó có trẻ em. Do vậy, các vấn đề xã hội như vô gia cư, sử dụng ma túy, bóc lột về kinh tế và tình dục, buôn bán và bạo lực đang gia tăng. Ước tính có hơn 2,6 triệu trẻ em cần bảo vệ đặc biệt tại Việt Nam, trong đó có trẻ em khuyết tật, trẻ em mồ côi và trẻ em sống trong cảnh nghèo khó.
Thanh, thiếu niên Việt Nam chiếm gần 25% dân số, và điều này đồng nghĩa với nhu cầu ngày càng tăng về giáo dục nâng cao, việc làm, cơ hội tham gia và vui chơi giải trí cũng như được bảo vệ tránh khỏi rơi vào tình trạng lạm dụng ma túy, vi phạm pháp luật và HIV/AIDS.
Mặc dù Việt Nam có tỷ lệ nhiễm HIV ở người lớn tương đối thấp (0,53%), song dịch bệnh đã nhanh chóng chuyển hướng và xâm nhập vào những người dân bình thường. Hơn một nửa số trường hợp nhiễm HIV ở Việt Nam nằm trong độ tuổi 20 - 29, và cứ 10 người lại có một người dưới 19 tuổi bị nhiễm. Trẻ em cũng ngày càng có nguy cơ bị nhiễm HIV và bị ảnh hưởng bởi AIDS dưới nhiều hình thức. Ước tính có khoảng 300.000 trẻ em bị ảnh hưởng bởi AIDS ở Việt Nam.
Sự phát triển của Việt Nam đã mang lại cơ hội to lớn cho nhiều người, song nó cũng làm sâu sắc thêm những sự chênh lệch giữa con người với con người. Sự chênh lệch về kinh tế - xã hội đặc biệt nghiêm trọng trong các dân tộc thiểu số. Tỷ lệ tử vong bà mẹ ở vùng núi phía Bắc, nơi sinh sống của nhiều dân tộc thiểu số, cao gấp bốn lần so với miền xuôi. Tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh dao động từ 7,9 đến 62,6 trên 1000 ca sinh sống, trong đó cao nhất là ở các vùng núi xa xôi hẻo lánh. Tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi ở một số vùng dân tộc thiểu số vào khoảng 35 - 45%, trong khi tỷ lệ trung bình của cả nước là 25%. Tỷ lệ đồng bào các dân tộc thiểu số được tiếp cận với các dịch vụ cơ bản như vệ sinh môi trường, nước sạch và giáo dục thấp hơn nhiều so với tỷ lệ trung bình quốc gia. Ví dụ, năm 2002, tỷ lệ tiếp cận nước sạch của dân tộc Kinh và Hoa ở mức 52,6%, trong khi tỷ lệ này ở các dân tộc khác là 12,8%. Những chênh lệch về giới ở các dân tộc thiểu số thường rõ rệt hơn, đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục.


Thông tin khác
CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ, KHOẢNG CÁCH NGÀY CÀNG GIA TĂNG
Việt Nam có 54 dân tộc, trong đó 87% là dân tộc đa số người Kinh (người Việt) và 53 dân tộc thiểu số chiếm 13% dân số.
Nói chung, tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh ở các dân tộc thiểu số cao hơn so với dân tộc đa số. Ví dụ, tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh ở tỉnh Kontum vào khoảng 63 trên 1000 ca sinh sống, cao gấp gần 4 lần so với trung bình quốc gia.
Một số vùng dân tộc thiểu số có tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi (36%) cao hơn nhiều so với trung bình quốc gia (25%).
Tỷ lệ dân cư nông thôn được tiếp cận với nước sạch và các phương tiện vệ sinh môi trường phù hợp lần lượt là 80% và 50%. Tuy nhiên, ở một số tỉnh miền núi và vùng sâu vùng xa nơi sinh sống của đồng bào các dân tộc thiểu số, thì những con số này thấp hơn rất nhiều, chỉ khoảng 12,8% và 4,1%.
Tỷ lệ trẻ em học tiểu học trên toàn quốc là 97%, trong khi tỷ lệ này của dân tộc thiểu số H’mông chỉ là 41,5%.
Tỷ lệ trẻ em gái dân tộc H’mông học tiểu học thấp hơn 20% so với trẻ em trai của dân tộc này (2004).