Hiển thị các bài đăng có nhãn Xã hội học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Xã hội học. Hiển thị tất cả bài đăng

8 tháng 4, 2008

KẾT QUẢ ĐIỀU TRA VỀ NHÂN CÁCH NGƯỜI THEO PHƯƠNG PHÁP NEO PI_R


KẾT QUẢ ĐIỀU TRA VỀ NHÂN CÁCH NGƯỜI THEO PHƯƠNG PHÁP NEO PI_R 04
Các cuộc điều tra giá trị này cho thấy một loạt các giá trị và thái độ có liên quan đến chính trị, lao động, nghề nghiệp, tôn giáo và chuẩn mực giới tính, giáo dục và nuôi dậy trẻ đều có sự chuyển đổi theo chiều hướng có thể tiên đoán được đó là sự chuyển đổi từ chỗ mang tính duy vật và hiện đại sang hậu duy vật và hậu hiện đại.

I - Khái niệm giá trị

1. Về khái niệm giá trị

Đây là một khái niệm công cụ quan trọng của đề tài. Vì vậy cần xem giá trị nói trong khoa học là gì? Chữ “giá trị” có nhiều nghĩa thường trong đời sống hàng ngày ta hay gặp thuật ngữ này để nói lên giá cả ở nơi mua bán, giá thành ở nơi sản xuất. Kinh tế học thường đề cập đến giá tri sử dụng và giá tri trao đổi. Người ta cũng hay nói: "Cái gì cũng có cái giá của nó” với ý là muốn được một cát gì đó thì phải mất một cái gì đó, như công sức, tiền tài hay một sự chịu đựng thậm chí đến tổn thương tinh thần.

Nói một cách tổng quát toàn bộ sự tồn tại ở loài người trên thế giới này bao gồm các giá trị vật chất và giá trị tinh thẩn - các giá trị bảo đảm sự tồn tại, cuộc sống của con người. cộng đồng. Giá trị như là đối tượng của khoa học về giá trị là các giá trị tinh thần, không nghiên cứu các giá trị vật chất. Các giá trị vật chất nằm ngay trong sự vật, hàng hoá... Còn giá trị tinh thần nói lên ý nghĩa của sự vật, hàng hoá đối với từng người. nhóm người. cộng đồng, dân tộc nhân loại. Có các giá trị vật chất có sẵn trong thiên nhiên như sông, núi, đất, nước...

Ví dụ, cái hoa có giá trị vật chất, được con người đánh giá là đẹp nó lại có giá trị tinh thần, và như một cái đẹp tự nhiên được đánh giá chi tiết hơn nói lên ý nghĩa với từng trường hợp cụ thể như: đẹp duyên dáng, đẹp kinh hồn, đẹp trang trọng, đẹp lộng lẫy, đẹp hấp dẫn, đẹp khôi hài... Đó là các giá trị tinh thần do con người tạo ra. Cũng có giá trị vật chất do lao động của con người làm ra như các sản vật thoả mãn các nhu cầu ăn, ở đi lại.

Bản thân các vật thể này chứa đựng giá trị nội tại có thể dùng vào việc này hay việc khác, ta gọi đó là các giá trị sử dụng. Khi các sản vật này trở thành hàng hoá, đem trao đổi giữa người này với người kia, lúc đó sản vật có giá trị trao đổi. Sở dĩ, các sản vật này trở thành giá trị vì nó thoả mãn nhu cầu này hay nhu cầu khác của con người. Và khi nào sự thoả mãn nhu cầu này được con người nhận ra ý nghĩa của vật thể hay sản phẩm đó đối với cuộc sống của bản thân, nhất là khi nhu cầu ấy trở thành ước muốn (động cơ của hoạt động), vật thể, sản phẩm trở thành mục đích của một hoạt động cụ thể, khi đó ta có các giá trị tinh thần, thúc đẩy con người phải làm cái này, không làm cái kia. Khoa học giá trị nghiên cứu các giá trị này. Ở đây ta thấy vấn đề nghiên cứu giá trị rất gắn bó với nghiên cứu hoạt động tâm lý con người. Cách hiểu khái niệm giá trị trong giá trị học có quan hệ chặt chẽ với khái niệm chủ thể: tính chủ thể. Tính chủ thể biểu hiện rõ nhất ở tính mục đích của hoạt động, mà mục đích của hoạt động bao giờ cũng là làm sao đạt tới cái mà mình coi nó là giá trị đối với bản thân.

Từ đó, có thể đi tới định nghĩa giá trị là cái quy đinh mục đích của hoạt động. Đó là vấn đề sống còn của từng con người, mà tổng hợp lại có thể nói rằng vấn đề giá trị đi theo suốt đời người: xác định hệ giá trị, thang giá trị, thước đo giá trị, định hướng giá trị (gọi tắt là xác định giá trị), rồi theo đuổi giá trị, biểu hiện giá trị, thực hiện giá trị.

Như vậy là, nói đến giá trị là nói đến đánh giá, tìm ra ý nghĩa của sự vật này, sản phẩm kia mà chủ thể quan tâm tới, có ước muốn đạt được để thực hiện một mục đích nào đấy. Đó là thái độ (hệ thống thái độ) của từng con người đối với xung quanh, cũng tức là một phần cực kỳ quan trọng trong lối sống cách sống. Hệ thống thái độ con người, đó là nhân cách của con người, cá tính của nó. Trong đó, có cả nhận thức, triết lý, tình cảm, tâm trạng, tâm thế và hành động. Tất cả những gì con người đã sống, đang sống và sẽ sống, ta gọi là vốn trải nghiệm. Theo lý thuyết hoạt động trong tâm lý học đời người là một dòng hoạt động. Dưới góc độ của giá trị học, đời người là tổng các giá trị do người đó tạo nên, tiếp thu, chấp nhận, lấy làm chuẩn mực bằng dòng hoạt động của bản thân.

Tổng các giá trị này là văn hoá của người đó. Trong đời sống hàng ngày con người có các phán đoán về các giá trị: thái độ ủng hộ giá trị này, phản đối giá trị kia, đánh giá giá trị này cao. coi giá trị kia thấp.... Cuộc điều tra giá trị ở đây là điều tra các phán đoán đó, các thái độ đó. Các cuộc điều tra giá trị trên thế giới, trong từng khu vực lâu nay cũng đã và đang làm như vậy. Mấy thập kỷ qua đã xác định cơ sở khoa học và thực tiên của các cuộc điều tra này, chứng minh tính khách quan, độ chính xác, độ tin cậy và tác dụng của chúng đối với quản lý cùng với các giá trị cá thể - có chỗ gọi là giá trị nhân cách - có các giá trị của cộng đồng mà ta gọi là các giá trị xã hội, ở đây trình bày kết quả điều tra các giá trị, xã hội tức là những yếu tố trong đời sống tinh thần được cả xã hội.

Cùng với các giá trị cá thể - có chỗ gọi là giá trị nhân cách - có các giá trị của cộng đồng mà ta gọi là các giá trị xã hội, ở đây trình bày kết quả điều tra các giá trị. xã hội tức là những yếu tố trong đời sống tinh thần được cả xã hội quan tâm, nói một cách chính xác hơn, từ các giá trị này (cùng với các giá trị khác), tạo dựng lên xã hội, như giá trị dân chủ, niềm tin xã hội của các cộng đồng từ các đơn vị cơ sở đến cộng đồng tộc người, cộng đồng các dân tộc cư trú trên lãnh thổ một đất nước như Việt Nam, cộng đồng các dân tộc một vùng như Đông Nam Á, Đông Ávà cộng đồng toàn thể loài người. Trong cộng đồng có các giai tầng, giai cấp, như công nhân, nông dân, trí thức mà cuộc điều tra NVS - 2003 trình bày ở đây đã tiến hành điều tra các giá trị ở các giai tảng này. Có thể tiến hành điều tra theo lứa tuổi học sinh, sinh viên, lao động trẻ...

Trong các cuộc điều tra giá trị giới thiệu ở đây, người ta đều tập trung vào tìm hiểu ý kiến phán đoán thái độ của những người được hỏi đối với một giá trị nào đấy, với các phương pháp khoa học được tính toán và rút kinh nghiệm qua thời gian hàng gần thế kỷ nay mở đầu từ R.Hartman đã toán học hoá, với công cụ thống kê hiện tại, bảo đảm độ chính xác tin cậy từ việc soạn các câu hỏi (được gọi là các giá trị), việc chọn mẫu, chọn người để hỏi theo phương pháp xác xuất mang tính đại diện cho cả một nhóm dân cư của từng vùng và cả nước. Từ chỗ tính toán các số liệu với sự mô tả trên các tư tưởng phương pháp luận nhất định, đánh giá, phân tích... đi đến các nhận định về một nét tình hình nào đó của xã hội tương ứng, như thái độ của người dân đối với giá trị dân chủ, giá trị thị trường, giá trị niềm tin...

Cao hơn nữa, có thể đi đến đưa ra giả định về xu thế của xã hội sẽ tiến tới, như xu thế từ truyền thống sang thế tục trong các quan niệm đạo đức, văn hoá... của trào lưu hiện đại hoá xã hội ngày nay.

Các giá trị nghiên cứu trong công trình này là các giá tri hiện hữu (có người gọi là giá trị bộc bạch), các giá trị đang tồn tại trong não được phát biểu ra bằng phán đoán (thái độ) đối với một giá trị nào đấy. Bên cạnh giá trị hiện hữu còn có giá trị tiềm tàng (có người gọi là giá trị ẩn dụ) là các giá trị cũng tồn tại trong não người nào đó, nhưng chưa phát biểu ra thành phán đoán, chưa bộc lộ thái độ đối với một giá trị nào đó.

Trong các giá trị này phổ biến nhất là các giá trị xã hội, trong đó các giá trị cốt yếu nhất đối với cuộc sống (đối với nhân loại) gọi là giá trị nhân loại như giá trị hòa bình hợp tác, khoan dung, dân chủ..., đối với dân tộc: độc lập dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ. bản sắc.... đối với con người: phát triển con người. thu nhập. việc làm, quyền con người,...gọi là các giá trị cốt yếu (có khi còn gọi là giá tri khởi thuỷ) giá trị sống còn. Có người còn cho rằng loài người có cả giá trị vĩnh hằng (thiên đường, niết bàn…).
Căn cứ vào luận điểm, mỗi thế giới đều có 3 chiều kích: Nội tại, ngoại tại và hệ thống, R.Hartman ( 1910 - 1973 ) đã đưa ra 3 chiều kích của giá trị để đi đến các thước đo giá trị.

a) Giá trị nội tại là giá trị cá thể hay giá trị tinh thần, được xác định qua vô số các đặc điểm bằng vô số cách đo, được mô tả như là giá trị của bản thân sự vật hay bản thân cá thể người. Thước đo giá trị ở đây là sự đồng cảm, lòng tự tin, xác định giá trị của bản thân sự vật và của riêng cá thể người.

b) Giá trị ngoại tại là giá trị thực tiễn, gắn vào hoàn cảnh, được xác định qua một số thuộc tính nhất định, được mô tả qua các quan điểm trừu tượng, giá trị so sánh, nhóm lớp các sự vật họ hàng, cụ thể, giá trị tốt, tốt hơn, tốt nhất, các giá trị vật chất, thực tiễn. Thước đo giá trị là một phán đoán thực tiễn hay ý thức về vai trò. Xác định xem sự vật này có giống sự vật khác không, xếp vào lớp sự vật nào.

c) Giá trị hệ thống là quan điểm giá trị hay giá trị lý thuyết, được xác định qua một số thuộc tính hữu hạn, được mô tả qua kiến tạo của tâm trí hay ý tưởng, giá trị của sự hoàn thiện, vật trắng hay vật đen. tính phù hợp, thứ tự diễn dịch logic, tính kiên định. uy quyền, vận dụng vào mọi vật là bộ phận của hệ thống, Thước đo giá trị là hệ thống phán đoán và phương hướng của bản thân, xem sự vật này được đo đạc có thích hợp không.

2. Quan điểm biến đổi trong nghiên cứu giá trị

Từ những năm 1950 những nghiên cứu về giá trị bằng phương pháp thực nghiệm đã bắt đầu được tiến hành và phát triển. Những nghiên cứu thực nghiệm về giá trị trong giai đoạn đầu này triển khai trên cơ sở lý thuyết của Parsons nhằm đi tìm các "giá trị cơ bản" (basic values) là những giá trị được cho rằng một khi đã hình thành thì khó thay đổi, bất chấp những rối loạn tâm lý xã hội, do đó có thể trở thành cơ sở đáng tin cậy của kế hoạch hoá. Vào thời bấy giờ rất phổ biến cách suy nghĩ cho rằng giá trị là một đại lượng xác định quan niệm, hy vọng và khả năng hành động xã hội, đại lượng này ổn định và bền chắc khó biến đổi hoặc nếu có biến đổi cũng diễn ra trong khoảng thời gian rất dài.

Nhưng bước vào thập kỷ 70 suy nghĩ trên đã thay đổi đánh dấu bằng những nghiên cứu thực nghiệm về giá trị trên một quan điểm mới mang tính đối lập đó là những quan điểm coi giá trị có thể biến đổi hay những quan điểm về sự biến đổi lâu dài của giá trị được gọi là hệ khái niệm biến đổi giá trị. Những nghiên cứu trong giai đoạn này được tiến hành trên cơ sở các quan niệm tâm lý học với một nhân vật trung tâm là Ronald Inglehart.

Lần đầu tiên trong một bài viết vào năm 1971, Inglehart đã đưa ra một lập luận cho rằng có chuyển đổi về giá trị giữa các thế hệ từ giá trị duy vật (hay hiện đại) sang hậu duy vật hay (hậu hiện đại) đang diễn ra trong các xã hội công nghiệp tiên tiến. Luận điểm về sự chuyển đổi giá trị giữa các thế hệ này của Inglehart đã vấp phải một sự phản kháng mạnh mẽ của dư luận các nhà nghiên cứu thời bấy giờ khi họ cho rằng sự thay đổi chẳng qua chỉ là sự khác biệt về vòng đời, và sự khác biệt về vòng đời này sẽ mất đi khi thế hệ những người trẻ hơn sẽ già đi là lập luận về vòng đời này ngụ ý rằng không hề có sự biến đổi xã hội nào diễn ra cả.

Tuy nhiên bước vào thập kỷ 90 thì những người chống lại quan điểm Inglehart cũng bắt đầu phải đi đến chỗ công nhận rằng không còn nghi ngờ gì nữa ở các nước phương Tây định hướng giá trị đang chuyển dịch. Với kết quả của một nghiên cứu đồ sộ được sự tài trợ của Quỹ Khoa học Châu Âu với sự tham gia của hơn 50 nhà khoa học xã hội của nhiều nước trên thế giới, người ta đã đi đến kết luận rằng sự chuyển đổi hướng tới các giá trị hậu hiện đại đang thực sự diễn ra. Không những thế người ta còn cho rằng có những bằng chứng về sự tồn tại của mô hình biến đổi xã hội từ sự biến đổi giá trị, và từ sự biến đổi giá trị sang biến đổi thái độ và hành vi chính trị. Tuy nhiên lập luận của Inglehart về sự chuyển đổi của giá trị về cơ bản vẫn xuất phát từ giả thiết cho rằng những giá trị một khi đã hình thành sẽ ổn định cao độ suốt cuộc đời, vì vậy sự chuyển đổi giá trị trong lập luận của ông (từ duy vật sang hậu duy vật) thực ra là sự chuyển đổi lâu dài giữa các thế hệ mà chủ yếu là do lớp thanh niên thực hiện.

Đó là lớp người được sống trong điều kiện thịnh vượng về kinh tế vào những năm tháng của tuổi trưởng thành và với kinh nghiệm sâu sắc này giải toả được tâm lý chịu đựng sức ép của thiếu thốn đã hình thành một hệ thống giá trị hậu duy vật. Tuy vậy trong khi những người theo chủ nghĩa duy vật vẫn tiếp tục nắm giữ các vị trí quyền lực chủ chốt của xã hội thì những người theo chủ nghĩa hậu duy vật chỉ có thể dần dán ảnh hưởng, lấn át những người theo chủ nghĩa duy vật, và xuất phát từ những người duy vật quan điểm căng thẳng phản kháng xã hội và chính trị sẽ lan truyền rất.

Mặc dù không phải là không còn những phê phán gay gắt chống lại Inglehart nhưng có thể nói thuyết biến đổi giá trị của ông đã thu được thành công, được chấp nhận rộng rãi và thu hút được sự chú ý có lẽ bởi phương pháp thực nghiệm tiến hành trên quy mô thế giới về điều tra giá trị. Ông đã tiến hành điều tra về quan điểm giá trị ở rất nhiều vùng (gần 90 vùng) trên thế giới với cùng một bộ công cụ lặp đi lặp lại trong suốt một thời gian dài hàng chục năm để chứng minh cho giả thuyết về sự biến đổi giá trị lâu dài qua các thế hệ. Kết quả các cuộc điều tra này đã cho thấy trong xã hội công nghiệp đã có sự biến đổi về hệ thống và quan điểm giá trị từ hiện đại chuyển sang hậu hiện đại, sự biến đổi này liên quan chặt chẽ với sự biến đổi ở tất cả các mặt văn hoá, kinh tế và xã hội cũng theo hướng từ hiện đại sang hậu hiện đại.

Các cuộc điều tra giá trị này cho thấy một loạt các giá trị và thái độ có liên quan đến chính trị, lao động, nghề nghiệp, tôn giáo và chuẩn mực giới tính, giáo dục và nuôi dậy trẻ đều có sự chuyển đổi theo chiều hướng có thể tiên đoán được đó là sự chuyển đổi từ chỗ mang tính duy vật và hiện đại sang hậu duy vật và hậu hiện đại. Sự biến đổi qua các thế hệ biểu hiện ở chỗ những ưu tiên giá trị của người già và người trẻ khác nhau, người già có thái độ tương tự như những người duy vật và người trẻ có thái độ tương tự như người hậu duy vật. Tuy nhiên không phải tất cả các nước tiến hành điều tra giá trị thế giới đều cho thấy những biểu hiện thay đổi giá trị theo chiều hướng giống nhau mà thực ra có sự khác nhau tuỳ theo nước. Ví dụ có những nước hầu như đã hoàn thành hiện đại hoá chuyển sang hậu hiện đại như Bỉ, Hà Lan, Pháp, ở đó có rất nhiều người theo khuynh hướng hậu hiện đại, hậu duy vật trong khi đó còn rất nhiều nước khác vẫn đang tiến hành hoặc mới bắt đầu công cuộc công nghiệp hoá ví dụ như Nam Phi là nước ít có khả năng nhất để vận động nhanh chóng tới các giá trị hậu hiện đại.

Nói chung, theo Inglehart, có thể phân biệt một cách khái quát giữa xã hội tiền công nghiệp, hiện đại đang chuyển sang công nghiệp hoá và hiện đại hoá với xã hội đã tiến hành xong công nghiệp hoá, hiện đại hoá chuyển sang hậu hiện đại hoá ở một tính cách cơ bản nhất là xã hội đầu có tình trạng sinh tồn bất an và xã hội sau có tình trạng sinh tồn an toàn, ổn đinh. Tương ứng với xã hội đầu là chủ nghĩa duy vật nhấn mạnh an toàn kinh tế/ và vật chất còn tương ứng với xã hội sau là chủ nghĩa hậu duy vật nhấn mạnh tự thể hiện mình và chất lượng cuộc sống. Ngoài ra, tương ứng với hai xã hội này là hệ thống giá trị - thái độ tiền công nghiệp, hiện đại và hệ thống giá trị hậu hiện đại (công nghiệp và hậu công nghiệp) với những nét tương phản như sau:

Hai hệ thống giá trị tương phản

Sinh tồn bất ổn
(Tiền công nghiệp) Sinh tồn an toàn
(Công nghiệp và hậu công nghiệp)

1/ Chính trị:
Nhu cầu về một lãnh đạo mạnh
Mệnh lệnh tuân thủ
Bài ngoại/ Chủ nghĩa chính thống

Không nhấn mạnh quyền uy chính trị
Tự thể hiện, tham gia
Hấp dẫn trước sự mới lạ

2/ Kinh tế:
Ưu tiên phát triển kinh tế
Mục tiêu thành đạt
Sở hữu cá nhân VS (đối) Nhà nước

Ưu tiên hàng đầu cho chất lượng cuộc sống
Hạnh phúc cá nhân
Giảm uy quyền sở hữu tư nhân và Nhà nước

3/ Chuẩn giới tính gia đình:
Đẻ nhiều nhất nhưng chỉ trong gia đình quan hệ giới tính 2 bố mẹ

Thoả mãn giới tính cá nhân. Tự thể hiện cá nhân
4. Tôn giáo:
Nhấn mạnh đấng tối cao
Những nguyên tắc tuyệt đối
Nhấn mạnh vào định mệnh tiên tri

Giảm quyền uy tôn giáo
Nguyên tắc linh hoạt, luân lý tuỳ thời
Nhấn mạnh ý nghĩa và mục đích cuộc sống


3. Một số cuộc điều tra giá trị trên thế giới

Hiện nay trên thế giới có nhiều Tổng Công ty (TCT) đo đạc điều tra giá trị, trong đó có TCT Carpenter đặt trụ sở ở Nashville, bang Tennessee (Mỹ), có 500 Công ty con, là Công ty đo đạc giá trị lớn nhất và nổi tiếng nhất thế giới.

Khoa học về giá trị đã hình thành và hoạt động một cách tích cực, nhất là từ nửa sau thế kỷ XX. Trong đó, phải kể đến một số sau:

Từ những năm 80, (1) đã có một cuộc điều tra về giá trị ở Châu Âu. Trên cơ sở kết quả, tác dụng và kinh nghiệm của cuộc điều tra này, từ năm 1990 người ta đã tổ chức (2) những cuộc điều tra giá trị thế giới (WVS), và Việt Nam bắt đầu tham gia vào vòng 4 của WVS từ năm 2001. Dự án này (WVS) đang tích cực chuẩn bị tiến hành vòng 5 vào năm 2005 - 2006.
Từ kết quả, hiệu quả, kinh nghiệm của WVS, vào những năm cuối thế kỷ trước và đầu thế này đã có các dự án điều tra giá trị ở các châu lục, được gọi là Hàn thử biểu: (3) Hàn thử biểu Đông Á(4) Hàn thử biểu Nam Á, (5) Hàn thử biểu Châu Phi, (6) Hàn thử biểu Mỹ-latinh. Năm (2004), Hàn thử biểu Đông Á và Nam Á hợp lại thành (7) Hàn thử biểu Châu Á, chuẩn bị điều tra vòng II, sẽ tiến hành vào năm 2005 - 2006. Việt Nam đã được mời tham gia vào Hàn thử biểu Châu Á. Điều tra giá trị Châu Âu đi vào giai đoạn phát triển mới gọi là Điều tra mới về giá trị Châu Âu. Gần đây (2003), Viện Nghiên cứu con người cùng (8) Đại học Glasgow (Anh) tiến hành một cuộc điều tra giá trị.

Ở Việt Nam, lần đầu tiên có cuộc điều tra giá trị tiến hành vào năm 1993 - 1994, tổ chức trong phạm vi chương trình khoa học công nghệ Nhà nước KX-07: Đầu thế kỷ mới KX.05-07 lại tổ chức cuộc điều tra giá trị xã hội và điều tra giá trị nhân cách. Tuy điều tra giá trị đối với chúng ta hãy còn mới mẻ vừa làm, vừa học, học từ những vấn đề cơ bản. như trong báo cáo này đã giới thiệu, phần nào hy vọng có chút ít đóng góp vào sự phát triển khoa học xã hội ở nước ta trong thời kỳ mới.

4. Mô hình lý thuyết về quan điểm giá trị

Nếu căn cứ vào vấn đề "con người đặt giá trị ở đâu? (mặt thứ hai của ý nghĩa giá trị) thì có hai mô hình lý thuyết nổi tiếng thế giới về quan điểm giá trị, đó là lý thuyết của E.Spranger và C.Morris. Spramger sử dụng phương pháp thấu hiểu để khảo sát một số lĩnh vực trong cuộc sống xã hội của con người, từ đó rút ra 6 mô hình phương hướng hay lĩnh vực liên quan đến giá trị như sau:

- Mô hình lý luận: trong đó quan điểm giá trị thống trị là nhận thức phổ biến và chân lý thoả đáng đối với đối tượng, trọng tâm cuộc sống của những người thuộc mô hình này có quan điểm giá trị được đặt vào việc truy tìm chân lý và nhận thức phổ biến.

- Mô hình kinh tế: trong đó quan điểm giá trị thống soái là tính hiệu quả, tính kinh tế như “được mất” đánh giá mọi sự vật trên quan điểm hiệu quả và kinh tế, nhìn nhận thời gian và không gian, hành động của con người cũng từ góc độ ấy

- Mô hình thẩm mỹ: trong đó quan điểm giá trị về cái đẹp thống trị toàn bộ cuộc sống của những người thuộc mô hình này, họ theo đuổi cái đẹp trên lập trường tự do vượt lên mọi giới hạn của hiện thực.

- Mô hình xã hội: trong đó tình yêu con người thống trị toàn bộ cuộc sống của những người thuộc mô hình xã hội, họ trải nghiệm qua sự thăng tiến của giá trị với những hành vi xã hội quên mình vì người khác.

- Mô hình quyền lực: trong đó ý chí quyền lực chi phối tất cả, giá trị trung tâm đặt vào việc làm thế nào để chi phối mọi sự vật và xã hội theo ý mình.

- Mô hình tôn giáo: trong đó toàn bộ cơ cấu tinh thần hướng vào việc liên tục sản sinh ra những kinh nghiệm giá trị thoả mãn cao nhất và đáy đủ nhất.

Những mô hình phương hướng này nói một cách khác chính là thang giá trị chi phối mọi hành vi, lối sống, ứng xử của cá nhân (ví dụ cá nhân theo mô hình kinh tế thường lấy tiêu chuẩn "được mất" để đánh giá và quyết định hành vi và phương tiện thực hiện hành vi...).

Còn Morris thì kiểm tra so sánh triết học nhân sinh chủ yếu trong lịch sử tư tưởng và rút ra ba loại hình cơ bản liên quan đến cách sống của con người (mô hình deonisos, mô hình promesius, mô hình buddha) để từ đó đưa ra 13 mô hình sống cơ bản là: kiểu trung dung, kiểu triệt để, kiểu yêu thương, kiểu thụ lạc, kiểu hợp tác, kiểu nỗ lực, kiểu đa sắc, kiểu an lạc, kiểu thụ nhận, kiểu kìm nén (chiến thắng bản thân), kiểu suy tưởng, kiểu hành động, kiểu phục vụ.

Nếu so sánh hai lý thuyết này với nhau thì có thể thấy rằng mô hình Spranger nhìn giá trị từ đặc tính thái độ, mô hình Morris mang màu sắc nhân sinh quan hơn. Nhưng dù đứng trên mô hình nào thì cũng cần có cơ sở giá trị là tôn trọng con người, sinh mạng con người - vấn đề gốc rễ của tồn tại người. Đó cũng cần trở thành nội dung giáo dục quan trọng nhất đối với lứa tuổi trẻ ngày nay.


Theo Cuốn Nghiên cứu giá trị nhân cách theo phương pháp NEO PI-R cải biên, Nxb Khoa học xã hội

PHÂN TẦNG XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY


PHÂN TẦNG XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Công cuộc đổi mới gần 2 thập kỷ qua đã làm thay đổi căn bản diện mạo đời sống kinh tế - xã hội ở nước ta.

Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN - sản phẩm của đổi mới đã phát huy hiệu quả của nó ở tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định cùng với việc nâng cao mức sống của hầu hết các tầng lớp dân cư. Bên cạnh đó, kinh tế thị trường cũng làm nảy sinh ra không ít những hệ quả xã hội mà chúng ta đang phải tập trung giải quyết. Một trong các hệ quả như vậy là sự phân tầng xã hội (PTXH). Nghiên cứu về vấn đề này cho thấy bức tranh tổng thể về sự PTXH cũng như các yếu tố có liên quan. Qua đó, góp phần định hướng các mục tiêu và chiến lược giảm bất bình đẳng xã hội.

Về khái niệm PTXH, PTXH theo mức sống

PTXH là một trong những khái niệm cơ bản của xã hội học. Nó được định nghĩa là: “sự xếp hạng (ranking) một cách ổn định các vị trí trong xã hội xét từ góc độ quyền lực, uy tín hoặc các đặc quyền, đặc lợi không ngang nhau”. Trong sự PTXH, có các “tầng” (stratum), mỗi tầng là một tập hợp người (cá nhân) giống nhau về địa vị, bao gồm địa vị kinh tế (tài sản, thu nhập), địa vị chính trị (quyền lực) hay địa vị xã hội (như uy tín), từ đó mà họ có được những cơ hội thăng tiến, sự phong thưởng và những thứ bậc nhất định trong xã hội. Sự PTXH thường được mô tả dưới dạng các “tháp phân tầng” với những hình dáng khác nhau tuỳ thuộc vào đặc trưng của các loại xã hội. Về cơ bản, PTXH là một sự phân chia mang tính cấu trúc các tầng lớp, giai tầng xã hội dựa trên những đặc trưng về vị thế kinh tế - xã hội của các cá nhân. Vì vậy, khái niệm PTXH phân biệt với các khái niệm gần gũi như: phân hoá giai cấp, phân hoá giàu nghèo, phân cực xã hội. Các khái niệm sau này có thể xem như những biến thể, hay là trường hợp riêng của PTXH.

Trong lịch sử, tương ứng với các loại xã hội khác nhau, có những hệ thống PTXH khác nhau. Một số quốc gia có thể có sự bất bình đẳng về kinh tế rất cao, song quyền lực lại được phân bố một cách dân chủ, bình đẳng hơn. Trong khi ở một số quốc gia khác, bất bình đẳng về kinh tế có thể không lớn, nhưng quyền lực lại bị tập trung cao độ trong tay một nhóm cầm quyền, độc tài. Các nhà xã hội học thường dẫn ra những ví dụ điển hình như nước Anh trong lịch sử đã là một xã hội giai cấp, dựa trên cơ sở những khác biệt về sở hữu tài sản. Nước Đức quốc xã đã từng được phân tầng theo quyền lực. Xã hội Nam Phi trước đây là ví dụ về một xã hội phân tầng theo sự thống trị về chủng tộc.

Khái niệm PTXH vừa nêu trên, thực chất chỉ ở bình diện lý thuyết, vĩ mô. Để đưa vào phân tích những vấn đề thực tế, một cách thực nghiệm, cần phải tìm ra các phương pháp và các chỉ báo cần thiết để thực hiện việc đo lường này. Nhìn chung, người ta đều thừa nhận rằng, việc đo lường các khác biệt về kinh tế (tài sản và thu nhập) dễ hơn nhiều so với 2 lĩnh vực còn lại trong định nghĩa về PTXH. Việc xác định những khác biệt về kinh tế, vấn đề đo lường chính xác các khác biệt về tài sản và thu nhập cũng không dễ dàng, nhất là trong các xã hội đang phát triển. Vì vậy, có thể là hợp lý khi các nhà nghiên cứu tạm thời chấp nhận việc sử dụng các chỉ báo về thu nhập và mức sống để xem xét sự PTXH, tức là chỉ theo các dấu hiệu kinh tế. Bởi vì, sẽ cần rất nhiều thời gian để xử lý các vấn đề phương pháp luận và phương pháp cụ thể nếu muốn đo lường đồng thời cả 3 dấu hiệu này để xác định sự PTXH thực tế.

Thời gian qua ở nước ta, trong các tài liệu nghiên cứu và cả trên các phương tiện truyền thông, thường sử dụng thêm một khái niệm có nội hàm hẹp hơn - “phân hoá giàu - nghèo” - đi kèm theo khái niệm PTXH. Điều này là cần thiết (như đã nói trên) và nó cũng phản ánh một sự thật là hầu hết các nghiên cứu và các kết luận về PTXH ở nước ta gần đây thực chất mới chỉ đề cập tới sự phân hoá giàu nghèo chứ chưa phải sự PTXH với nghĩa chính xác của từ này. Chính vì thế, một số nhà nghiên cứu khoa học xã hội đã thận trọng hơn bằng cách sử dụng khái niệm “PTXH theo thu nhập”, “PTXH theo mức sống” thay cho khái niệm PTXH nói chung.

Các chỉ báo được sử dụng trong nghiên cứu về PTXH theo thu nhập và mức sống

Với hướng tiếp cận nói trên, các nghiên cứu về PTXH vừa qua đã cố gắng sử dụng những hệ chỉ báo khá linh hoạt và đa dạng để đo lường và phân loại các nhóm, tầng xã hội theo thu nhập và mức sống. Trong cuộc nghiên cứu về những biến đổi xã hội trong thời kỳ Đổi mới tại Hà Nội vào năm 1992 (lần đầu tiên, khái niệm PTXH được sử dụng), các tác giả đã đề xuất ý tưởng sử dụng khái niệm PTXH theo mức sống, gồm 4 chỉ báo “khách quan” và 1 chỉ báo “chủ quan” để xét sự phân tầng các hộ gia đình theo mức sống:

Điều kiện nhà ở, bao gồm các yếu tố: sở hữu, diện tích và loại nhà, khu phụ, vị trí, hoạt động cải tạo nâng cấp trong 5 năm qua, chất lượng nhà và đánh giá.

Tiện nghi trong nhà, bao gồm 12 loại tiện nghi chủ yếu, đa số mới xuất hiện trong đời sống của các gia đình trong 5 năm vừa qua. Ví dụ: tivi màu, xe máy, đầu Video, máy giặt, máy điều hoà nhiệt độ...

Chi tiêu, bao gồm các yếu tố: thói quen dùng năng lượng đun nấu, tiền điện hàng tháng, thói quen ăn sáng, ăn trưa, chi cho việc học của con cái, các chi tiêu cho nhu cầu văn hoá...

Thu nhập, bao gồm các yếu tố: nguồn thu nhập, mức độ ổn định, bất ổn định của thu nhập, tổng thu nhập và thu nhập bình quân trong gia đình (theo kê khai của chủ hộ).

Chỉ báo chủ quan, bao gồm 2 loại đánh giá: tự đánh giá của chủ hộ về mức sống của gia đình hiện nay trên thang đo 5 bậc; đánh giá của điều tra viên qua phỏng vấn và quan sát cũng trên thang đo 5 bậc trên cơ sở các nhận xét về nhà ở, tiện nghi, gia phong, gia cảnh, trang trí nội thất, phong cách trả lời... hoặc một phần thông tin thu thập được từ bên ngoài (từ cán bộ tổ dân phố, phường, hàng xóm...).

Một công trình nghiên cứu khác của Viện Xã hội học thuộc Chương trình Nghiên cứu khoa học cấp nhà nước (KX.04) cũng đã tập trung cho chủ đề PTXH được thực hiện trong 3 năm 1992-1994. Trong công trình này, các tác giả chỉ sử dụng khái niệm PTXH, không nói cụ thể là PTXH theo mức sống. Tuy nhiên, xem xét hệ biến số được sử dụng khi thu thập thông tin cũng như khi phân tích kết quả thì về thực chất là nghiên cứu PTXH theo thu nhập và mức sống. Có thể dẫn ra cụ thể hơn các biến số đó gồm:

- Hai biến số phụ thuộc: 1) Sự tích tụ vật chất của các tầng lớp khác nhau. Thực chất vẫn bám sát mức thu nhập bình quân của cá nhân và hộ gia đình, được phân nhóm theo chính các mức thu nhập này hoặc chia theo “ngũ vị phân” 20% từ dưới lên. Biến số thu nhập được tính toán trên cơ sở hộ gia đình và cá nhân kê khai trong tháng với các khoản mục chính là: lương và các khoản phụ cấp của nghề chính, thu nhập do làm thêm có liên quan đến nghề chính, các loại lãi suất (nếu có), những khoản thu nhập khác; 2) Sự đầu tư và tiêu dùng văn hoá của các tầng lớp khác nhau. Các chỉ báo được sử dụng gồm: việc đầu tư cho học hành của con cái (kể cả việc tìm trường tốt, lớp tốt, học thêm), đầu tư thời gian chăm sóc việc học của con, mua sắm các loại sách báo, phương tiện nghe nhìn cho gia đình.

- Sáu biến số độc lập: 1) Truyền thống gia đình (nguồn gốc xuất thân của chồng, vợ); 2) Trình độ học vấn và chuyên môn có được qua các thời kỳ; 3) Nghề nghiệp và sự thăng tiến trong nghề có liên quan đến quyền lực có thể có; 4) Tính tích cực chính trị; 5) Môi trường và vị trí của chỗ ở hiện nay; 6) Tuổi của người được hỏi.

Như vậy, các nghiên cứu xã hội học những năm vừa qua đã hình thành nên nhiều nguồn số liệu về thực trạng PTXH ở nước ta hiện nay. Song về cơ bản, nghiên cứu và đo lường sự PTXH ở ta thời gian qua mới thực hiện ở một giác độ quy giản. Với thang đo 5 nhóm mức sống để phản ánh sự phân hoá giàu - nghèo ở các địa phương, các vùng, hay trong các nhóm xã hội nghề nghiệp. Các chỉ báo này nhiều khi được phân tích và rút ra kết luận như là sự PTXH. Nhiều nghiên cứu xã hội học sau đó lại thường sử dụng chỉ báo này như một biến số độc lập để phân tích và giải thích các biến số phụ thuộc khác. Sự PTXH theo quyền lực và uy tín hầu như không được đề cập đến. Thêm vào đó, các công trình nghiên cứu còn không thống nhất về chuẩn được sử dụng để phân hạng và tên gọi của các nhóm. Vì thế, rất khó so sánh cả theo không gian lẫn thời gian, ngoại trừ các phân tích trên nền số liệu của các cuộc điều tra mức sống dân cư toàn quốc năm 1993 và 1998.

Tháp phân tầng và vài kết quả điều tra thống kê

Để mô hình hoá cấu trúc phân tầng của một xã hội, người ta thường sử dụng các “tháp phân tầng”, tương tự như “tháp dân số”, tức là sắp xếp các “tầng” theo thứ tự từ dưới đáy là các tầng lớp nghèo khổ (hạ lưu) lên đến tầng lớp trung bình (trung lưu thấp và cao) và trên cùng là tầng lớp giàu có (thượng lưu), cùng với tỷ lệ phần trăm mà các tầng lớp này chiếm trong cơ cấu xã hội. Trong lịch sử, người ta đã “loại hình hoá” một số kiểu tháp phân tầng đặc trưng cho các xã hội. Có 5 kiểu thường gặp sau:

Tháp hình nón: phản ánh mức độ bất bình đẳng cao của các xã hội, nhóm người giàu, có quyền lực (phần đỉnh tháp) chiếm tỷ lệ rất thấp; trong khi đa số nghèo khổ (ở đáy tháp) lại chiếm tỷ lệ rất cao.

Tháp hình nón cụt: tầng lớp giàu có tăng lên, tầng lớp trung lưu chiếm tỷ trọng lớn hơn, mức độ bình đẳng cao hơn.

Tháp hình thoi (quả trám, con quay): cả 2 nhóm giàu và nghèo đều chiếm tỷ lệ nhỏ, nhóm trung lưu chiếm đa số nằm ở phần thân tháp. Tuy nhiên, khoảng cách của 2 nhóm đỉnh và đáy tháp còn khá xa.

Tháp hình trụ: tỷ lệ các nhóm giàu có, nghèo và trung lưu tương đối đồng đều. Tuỳ vào chiều cao của tháp để nói về mức độ bình đẳng xã hội.

Tháp hình “đĩa bay” (thấp dẹt): có thể có 2 trạng thái là bình quân nghèo khổ hoặc xã hội lý tưởng, thịnh vượng toàn dân, với tuyệt đại bộ phận các thành viên của xã hội có mức sống trung lưu và khá giả (xã hội trung lưu).

Về hình dáng, tháp có hình “con quay” với phần giữa thân (mức sống trung bình) phình rộng, phản ánh mức độ đồng đều, sản phẩm của chủ nghĩa bình quân thời bao cấp còn rất rõ. Đỉnh và đáy tháp (tỷ lệ hộ có mức sống giàu và mức sống nghèo) rất hẹp, phản ánh mức độ phân cực “giàu - nghèo” còn hạn chế. Tỷ lệ mức sống trung bình khá vượt tỷ lệ mức sống trung bình kém 2,5 lần. Đáng tiếc là không có một tháp phân tầng tương tự vào thời kỳ 1970-1980 để có thể so sánh. Song nếu được tái hiện, tháp phân tầng thời kỳ bao cấp sẽ còn phình rộng hơn ở mức sống trung bình và hẹp hơn ở cả 2 phía đỉnh và đáy tháp, phản ánh một thời kỳ điển hình với mức sống định lượng bình quân theo tem phiếu.

PTXH cũng được nghiên cứu theo hướng khác là xử lý và phân tích kết quả của các cuộc điều tra mức sống dân cư và hộ gia đình để từ đó rút ra các kết luận về thực trạng và xu hướng phân hoá giàu nghèo (PTXH theo thu nhập hoặc mức sống). Những phân tích dưới đây sẽ minh họa cho hướng nghiên cứu này trên cơ sở số liệu của các cuộc điều tra mức sống dân cư toàn quốc năm 1993, năm 1998 và cuộc điều tra hộ gia đình đa mục tiêu 1994-1997.

Trong thập kỷ 90 của thế kỷ trước, mức sống của đại đa số dân cư nước ta đã tăng lên đáng kể. Tuy nhiên, sự chênh lệch về mức sống cũng ngày càng tăng, tạo nên một sự PTXH rõ nét hơn giữa và trong các nhóm xã hội. Chẳng hạn, chênh lệch về chi tiêu giữa nhóm 20% giàu nhất và nhóm 20% nghèo nhất là khoảng 5,52 lần vào năm 1998 và 4,58 lần vào năm 1993. Còn chênh lệch theo thu nhập thì cao hơn. Năm 1998, chênh lệch về thu nhập giữa nhóm 20% giàu nhất và nhóm 20% nghèo nhất là 11,26 lần, giữa nhóm 10% giàu nhất và nhóm 10% nghèo nhất là hơn 20 lần, còn giữa nhóm 5% giàu nhất và nhóm 5% nghèo nhất là hơn 40 lần.

Sự phân tầng theo mức sống hiện nay cũng có liên quan với số nhân khẩu và tỷ lệ phụ thuộc của hộ gia đình (tỷ lệ người ngoài độ tuổi lao động so với người trong độ tuổi lao động). Tỷ lệ này của 20% hộ nghèo nhất là 1,13, cao gấp đôi so với nhóm 20% hộ giàu nhất (0,54).

Người có học vấn càng cao, càng có nhiều khả năng thuộc vào nhóm có mức sống cao. Trong những chủ hộ có học vấn đại học, cao đẳng trở lên thì 70% thuộc nhóm 20% giàu nhất, chỉ có 1,5% thuộc nhóm 20% nghèo nhất. Chi tiêu của hộ có chủ hộ học vấn đại học, cao đẳng trở lên cao gấp 2,33 lần (năm 1993) và 3,4 lần (năm 1998) so với hộ có chủ hộ chưa bao giờ đến trường.

Phân tầng mức sống cũng gắn liền với sự khác biệt theo khu vực và vùng kinh tế - xã hội. 97% dân số trong độ tuổi lao động thuộc nhóm 20% nghèo nhất là ở nông thôn và 65% dân số trong độ tuổi lao động thuộc nhóm 20% giàu nhất là ở đô thị. Sự chênh lệch mức sống giữa thành thị và nông thôn đóng góp phần chủ yếu (tới 96%) vào mức độ phân tầng mức sống nói chung trên quy mô toàn quốc. Phần lớn dân số trong độ tuổi lao động thuộc nhóm 20% giàu nhất sống ở các vùng: Đông Nam Bộ (37%), Đồng bằng sông Hồng (21%) và Đồng bằng sông Cửu Long (18%), trong khi ở vùng núi phía Bắc chỉ có gần 7% và ở Bắc Trung Bộ là 6%.

Phân tầng mức sống cũng liên quan rõ rệt theo các khu vực kinh tế. Phần lớn người làm việc trong khu vực kinh tế nhà nước có mức sống thuộc nhóm 20% giàu nhất, hoặc rơi vào 2 nhóm trên cùng (75-80%). Tình hình cũng tương tự như vậy ở nhóm làm việc trong doanh nghiệp nước ngoài. Chỉ có 1/3 lao động trong doanh nghiệp tư nhân và gần 1/5 lao động trong hộ sản xuất kinh doanh nhỏ, thuộc vào nhóm 20% giàu nhất. Khoảng 40% những người lao động thuộc hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân và hộ sản xuất kinh doanh nhỏ thuộc vào nhóm có mức sống dưới trung bình. 3/4 người thuộc nhóm 20% nghèo nhất là lao động trong hộ sản xuất kinh doanh nhỏ, trong khi 60% người thuộc nhóm 20% giàu nhất làm việc trong 3 khu vực của Nhà nước (kinh tế, hành chính - sự nghiệp, chính trị - xã hội). Như vậy, người có khả năng sẽ có mức sống cao hơn nếu gắn với khu vực nhà nước, khu vực chính quy (chẳng hạn, doanh nghiệp có đăng ký) và khu vực đầu tư nước ngoài. Ngược lại, mức sống thấp hơn thường gắn với những người làm việc trong khu vực ngoài nhà nước, khu vực phi chính quy (informal sector), hộ sản xuất kinh doanh nhỏ, hợp tác xã.

PTXH cũng có biểu hiện trong lĩnh vực phúc lợi xã hội. Trợ cấp phúc lợi xã hội là công cụ mà nhà nước dùng để giảm bớt những chênh lệch quá lớn, bảo đảm công bằng xã hội. Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay, những trợ cấp này còn chiếm tỷ trọng rất thấp trong tổng thu nhập của dân cư (khoảng 4,4%). Dân cư Việt Nam chủ yếu có thu nhập từ lao động cá nhân và gia đình; thu nhập do phân phối lại, mang tính xã hội còn thấp. Trong việc phân phối phúc lợi xã hội, chiếm tỷ trọng cao nhất là chi cho bảo hiểm xã hội, bao gồm chi hưu trí và mất sức lao động (82,4%), tiếp theo là chi cho bảo trợ xã hội (16,0%), chi cho xoá đói giảm nghèo (1,1%). Tương quan giữa phúc lợi xã hội và PTXH chỉ ra rằng, hiện nay chủ yếu là nhóm có mức sống “trung bình” và “trên trung bình” được hưởng phúc lợi cao hơn các nhóm khác.

Qua phân tích ở trên, nhìn chung, hiện trạng PTXH ở nước ta khá đặc trưng cho thời kỳ đầu chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang kinh tế thị trường. Mức chênh lệch giữa các tầng lớp chưa lớn, tốc độ tăng chênh lệch chưa cao. Tuy nhiên, có một số đặc điểm cần lưu ý là: các tầng lớp trung lưu và trung lưu trên thường gắn với khu vực nhà nước, khu vực kinh tế chính quy. Hai nhóm này cũng được hưởng lợi nhiều hơn từ việc phân phối phúc lợi xã hội so với các nhóm còn lại.

Kết luận

Thực chất cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu về PTXH ở Việt Nam trong thời gian qua mới chỉ là nghiên cứu về sự phân hoá giàu nghèo, khoảng cách giữa các nhóm theo chỉ báo kinh tế, thu nhập, mức sống. Các cuộc điều tra định lượng dựa trên các chỉ báo này đã được tiến hành để mô tả và xác định thực trạng và đặc trưng của vấn đề. Tuy nhiên, để tiếp cận và phân tích có cơ sở khoa học vững chắc về sự PTXH theo đúng nghĩa của từ này cần dựa trên nhiều thông tin và chỉ báo khác nữa, cũng như cần có thêm những cách tiếp cận thích hợp hơn. Nó ít nhiều sẽ mang tính lý thuyết và vĩ mô hơn.

Đương nhiên, các cuộc điều tra, nghiên cứu quy mô lớn và định lượng về sự phân hoá giàu nghèo, tương quan mức sống giữ các tầng dân cư cần được tiến hành thường xuyên là rất cần thiết để có cái nhìn tổng thể về xu hướng biến đổi bất bình đẳng xã hội. Mặt khác, cũng cần có các hướng tiếp cận mới, với thế mạnh của một số ngành khoa học xã hội để tìm hiểu sâu hơn động thái của các nhóm, tầng xã hội đáng chú ý trong giai đoạn hiện nay. Ví dụ, giai tầng, nhóm xã hội nào đang là động lực của sự phát triển hoặc đang có triển vọng trở thành một lực lượng như vậy? Đã hình thành một tầng lớp trung lưu mới của xã hội Việt Nam chưa? Nếu có, thì ai là những thành viên và xu thế vận động, phát triển của nó như thế nào? Đóng góp của tầng lớp đó cho sự phát triển của đất nước trong tương lai sẽ ra sao?... Cần phân tích một số nhóm, giai tầng xã hội mới, đáng chú ý như giới doanh nhân, giới trí thức, đặc biệt là trí thức khoa học công nghệ; công nhân kỹ thuật tay nghề cao; giới quản lý và đội ngũ công chức. Đặc biệt, cần chỉ ra xu hướng biến đổi các nhóm này dưới tác động của của các nhân tố mới trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong thập niên đầu của thế kỷ XXI.

Việc khai thác triệt để nguồn dữ liệu thống kê kinh tế - xã hội, các cuộc tổng điều tra dân số, điều tra mức sống dân cư, kết hợp với các nghiên cứu chọn mẫu, định tính và phân tích xã hội học sẽ là hướng có triển vọng để hiểu và nắm bắt được bản chất của sự PTXH ở nước ta hiện nay. Đó không chỉ là hướng nghiên cứu thích hợp về mặt xã hội mà còn là hướng nghiên cứu kinh tế - chính trị về cấu trúc xã hội và về mô hình xã hội tổng thể của đất nước trong giai đoạn mới.

Sau cùng, theo kinh nghiệm của Trung Quốc, các nhà xã hội học cũng đã phát triển một số hướng phân tích về kết cấu giai tầng của xã hội Trung Quốc hiện nay. Theo Giáo sư Lục Học Nghệ, nghiên cứu này vận dụng một hướng tiếp cận mới, được gọi là “giai tầng luận”, thay thế cho quan điểm giai cấp cứng nhắc thời kỳ trước cải cách (trong XHCN chỉ còn 2 giai cấp là công nhân, nông dân và 1 tầng lớp trí thức XHCN). Quan điểm giai tầng là phù hợp với thực tế xã hội thời cải cách, khai phóng, mở cửa. Cũng theo tác giả quan điểm này, xã hội Trung Quốc đương đại có 10 tầng lớp xã hội được phân tầng theo 3 tiêu chí cơ bản là: nguồn lực tổ chức (chính trị), nguồn lực kinh tế và nguồn lực văn hoá. Sự phân hoá thành người giàu - người nghèo, tầng lớp có lợi thế - tầng lớp yếu thế, đều căn cứ ở việc họ không có, hoặc có 1, 2, hay cả 3 nguồn lực này với các mức độ khác nhau. Đây cũng là một cách tiếp cận mới, sáng tạo, đáng tham khảo.

Theo Vietnam Sociology

14 tháng 3, 2008

CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH


CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH
Tại sao nghiên cứu định tính?

Nghiên cứu là một quá trình tìm kiếm các tri thức được khái quát hóa để có thể áp dụng vào việc giải thích cho một loạt các hiện tượng. Để làm được điều đó nhà nghiên cứu phải xác định “nguồn” nơi có thể thu thập được số liệu thích hợp. Một khi nguồn đã được xác định, nhà nghiên cứu phải lựa chọn kỹ thuật thu thập số liệu cho phép thu hoạch được số liệu tốt nhất. Trong trường hợp lý tưởng, nhà nghiên cứu phải sử dụng bất kỳ phương pháp thích hợp mà nhờ đó thu thập được số liệu đáng tin cậy. Tuy nhiên, trong thực tế, việc sử dụng loại phương pháp thực nghiệm nào lại phụ thuộc vào loại số liệu cần được thu thập. Khi nào cần thông tin định lượng thì các phương pháp định lượng là thích hợp nhất. Nếu số liệu cần thu thập là định tính thì nhà nghiên cứu cần phải sử dụng các phương pháp định tính.

Nghiên cứu định tính là gì?

Nghiên cứu định tính là một phương pháp tiếp cận nhằm tìm cách mô tả và phân tích đặc điểm văn hóa và hành vi của con người và của nhóm người từ quan điểm của nhà nghiên cứu.Nghiên cứu định tính cung cấp thông tin toàn diện về các đặc điểm của môi trường xã hội nơi nghiên cứu được tiến hành. Đời sống xã hội được nhìn nhận như một chuỗi các sự kiện liên kết chặt chẽ với nhau mà cần được mô tả một cách đầy đủ để phản ánh được cuộc sống thực tế hàng ngày. Nghiên cứu định tính dựa trên một chiến lược nghiên cứu linh hoạt và có tính biện chứng. Phương pháp này cho phép phát hiện những chủ đề quan trọng mà các nhà nghiên cứu có thể chưa bao quát được trước đó. Trong nghiên cứu định tính, một số câu hỏi nghiên cứu và phương pháp thu thập thông tin được chuẩn bị trước, nhưng chúng có thể được điều chỉnh cho phù hợp khi những thông tin mới xuất hiện trong quá trình thu thập. Đó là một trong những khác biệt cơ bản giữa phương pháp định tính và phương pháp định lượng Nguồn gốc của các phương pháp nghiên cứu định tính Các phương pháp nghiên cứu định tính được phát triển và sử dụng đầu tiên trong các nghiên cứu nhân chủng học, một bộ môn khoa học xã hội. Các nhà nhân chủng học đi đến các cộng đồng mà họ muốn nghiên cứu và sống ở đó một thời gian dài để quan sát người dân và tìm hiểu những nguyên nhân chi phối hành vi ứng xử của họ. Để có được những thông tin sâu, các nhà nhân chủng học thường sử dụng các kỹ thuật như phỏng vấn phi cấu trúc, thu thập lịch sử đời sống, thảo luận nhóm và nghiên cứu trường hợp. Thoạt tiên, những kỹ thuật này được phát minh nhằm thu thập những thông tin mô tả, phi định lượng. Ngày nay, các kỹ thuật đó được sử dụng rộng rãi không chỉ trong phạm vi của nhân chủng học mà còn ở nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khác nhau. So sánh nghiên cứu định lượng và nghiên cứu định tínhPhương pháp nghiên cứu định lượng sử dụng một bảng hỏi đã chuẩn bị trước theo một cơ cấu nhất định cho mọi đối tượng nghiên cứu. Một ví dụ điển hình của phương pháp này là điều tra KAP.

Nghiên cứu KAP cho phép suy luận thống kê từ kết quả thu được ở các mẫu tương đối nhỏ ra quần thể lớn hơn; nó cũng cho phép đo lường và đánh giá mối liên quan giữa những biến số; tiến hành điều tra khá dễ và triển khai khá nhanh chóng; và kết quả thu được từ các cuộc điều tra tốt có thể sử dụng để so sánh theo thời gian hoặc giữa các vùng. Tuy nhiên KAP có một số nhược điểm và cần được sử dụng một cách thận trọng. Đáng lưu ý nhất là những sai số không do chọn mẫu, ví dụ người được hỏi trả lời không đúng các câu hỏi vì không nhớ hoặc do hiểu sai hoặc cố tình nói dối. Hai vấn đề nghiêm trọng nhất là: Sự phiên dịch lại về mặt văn hóa: xảy ra khi đối tượng phỏng vấn không hiểu câu hỏi đặt ra như ý định của nhà nghiên cứu mà lại hiểu khác đi và trả lời theo cách hiểu của họ. Những sai số ngữ cảnh là những yếu tố liên quan đến bản thân cuộc phỏng vấn. Phương pháp nghiên cứu định luợng giả định rằng hành vi và thái độ của con người không thay đổi theo ngữ cảnh. Tuy nhiên, câu trả lời của đối tượng có thể thay đổi phụ thuộc vào các ngữ cảnh khác nhau. Nghiên cứu định tính cho phép các nghiên cứu viên hạn chế các sai số ngữ cảnh bằng cách sử dụng các kỹ thuật phỏng vấn và tạo ra một môi trường phỏng vấn mà trong đó đối tượng cảm thấy thoải mái nhất. Các phương pháp thu thập thông tin khác nhau đem lại thông tin khác nhau. Vì vậy trước khi quyết định sử dụng phương pháp nào cần phải xác định loại thông tin nào cần thiết nhất cho mục đích nghiên cứu. Các phương pháp NCĐT và NCĐL có thể kết hợp để bổ sung lẫn cho nhau. Ví dụ: - NCĐT có thể hỗ trợ cho NCĐL bằng cách xác định các chủ đề phù hợp với phương pháp điều tra. - NCĐL có thể hỗ trợ cho NCĐT bằng cách khái quát hóa các phát hiện ra một mẫu lớn hơn hay nhận biết các nhóm cần nghiên cứu sâu - NCĐT có thể giúp giải thích các mối quan hệ giữa các biến số được phát hiện trong các NCĐL Bảng 1. Sử dụng phương pháp nghiên cứu phù hợp Sử dụng NCĐT trong trường hợp Sử dụng NCĐL trong trường hợp Chủ đề nghiên cứu mới và chưa được xác định rõ Chủ đề nghiên cứu đã được xác định rõ và đã quen thuộc Nghiên cứu thăm dò, khi chưa nắm được những khái niệm và các biến số Khi những vấn đề cần đo lường khá nhỏ hay đã từng được giải quyết Khi cần thăm dò sâu, khi muốn tìm hiểu mối quan hệ giữa những khía cạnh đặc biệt của hành vi với ngữ cảnh rộng hơn Khi không cần thiết phải liên hệ những phát hiện với các bối cảnh xã hội hay văn hóa rộng hơn hay bối cảnh này đã được hiểu biết đầy đủ Khi cần tìm hiểu về ý nghĩa hơn là tần số Khi cần sự mô tả chi tiết bằng các con số cho một mẫu đại diện Khi cần có sự linh hoạt trong hướng nghiên cứu để phát hiện những vấn đề mới và khám phá sâu một chủ đề nào đó Khi khả năng tiến hành lại sự đo lường là quan trọng Nghiên cứu sâu và chi tiết những vấn đề được chọn lựa kỹ càng, những trường hợp hoặc các sự kiện Khi cần khái quát hóa và so sánh kết quả trong quần thể nghiên cứu Vai trò của nghiên cứu định tính trong chương trình sức khỏe Nghiên cứu định tính đặc biệt có giá trị trong các lĩnh vực sức khỏe, KHHGĐ, sức khoẻ sinh sản và AIDS ... vì nó cho phép: - Khám phá, thăm dò những vấn đề khó và còn ít được biết đến, ví dụ như mãi dâm, ma túy, HIV/ AIDS - Tìm hiểu nhận thức của cộng đồng về AIDS - Đề ra những biện pháp can thiệp phù hợp và phát hiện những quần thể cần được chú trọng trước hết - Thăm dò tính khả thi, chấp nhận và sự phù hợp của những chương trình mới - Phát triển những hoạt động về thông tin, giáo dục và truyền thông và tài liệu phù hợp - Nhận biết những tồn tại trong những can thiệp đang triển khai và đưa ra những giải pháp thích hợp đối với những tồn tại đó - Hoàn chỉnh những thông tin định lượng thu được trong các giám sát thường xuyên và các nghiên cứu đánh giá bằng cách giúp giải thích những kết quả thu được từ nghiên cứu định lượng. - Thiết kế các công cụ điều tra chính xác hơn bằng cách phát hiện các chủ đề thích hợp nhất cho nghiên cứu điều tra bằng cách xác định các câu hỏi thích hợp và cách diễn đạt chúng cho phù hợp. Ai có thể thực hiện nghiên cứu định tính - Người nắm rõ thực địa - Người nắm rõ đối tượng nghiên cứu - Người được huấn luyện tốt CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH CHỦ YẾU


1. Phỏng vấn không cấu trúc Là phương pháp được sử dụng rộng rãi nhất trong nghiên cứu xã hội. Khi sử dụng phương pháp này nghiên cứu viên phải nhớ một số chủ đề cần phỏng vấn và có thể sử dụng một danh mục chủ đề để khỏi bỏ sót trong khi phỏng vấn. Nghiên cứu viên có thể chủ động thay đổi thứ tự của các chủ đề tuỳ theo hoàn cảnh phỏng vấn và câu trả lời của người được phỏng vấn. Phỏng vấn không cấu trúc giống như nói chuyện, làm cho người được phỏng vấn cảm thấy thoải mái và cởi mở trả lời theo các chủ đề phỏng vấn. Điều cốt yếu quyết định sự thành bại của phỏng vấn không cấu trúc là khả năng đặt câu hỏi khơi gợi một cách có hiệu quả, tức là khả năng kích thích người trả lời cung cấp thêm thông tin. - Ưu điểm của PVKCT: Cho phép nghiên cứu viên linh hoạt thay đổi cấu trúc phỏng vấn tùy theo ngữ cảnh và đặc điểm của đối tượng. PVKCT đặc biệt có ích trong những trường hợp khi mà NCV cần phỏng vấn những người cung cấp thông tin nhiều lần, trong nhiều hoàn cảnh khác nhau. Phỏng vấn không cấu trúc cũng hữu ích trong những trường hợp không thể sử dụng được phỏng vấn chính thức (ví dụ khi nghiên cứu về gái mãi dâm đứng đường hoặc trẻ em lang thang ...). PVKCT đặc biệt hữu ích trong nghiên cứu các chủ đề nhạy cảm như tình dục, mãi dâm, ma túy hoặc HIV/AIDS ... - Nhược điểm: Không có mẫu chuẩn bị sẵn nên mỗi cuộc PV là một cuộc trò chuyện không lặp lại vì vậy rất khó hệ thống hoá các thông tin và phân tích số liệu.

2. Phỏng vấn bán cấu trúc

Phỏng vấn bán cấu trúc là PV dựa theo danh mục các câu hỏi hoặc các chủ đề cần đề cập đến. Tuy nhiên thứ tự và cách đặt câu hỏi có thể tuỳ thuộc vào ngữ cảnh và đặc điểm của đối tượng PV. Các loại phỏng vấn bán cấu trúc gồm: Phỏng vấn sâu Được sử dụng để tìm hiểu thật sâu một chủ đề cụ thể, nhằm thu thập đến mức tối đa thông tin về chủ đề đang nghiên cứu. PVS sử dụng bản hướng dẫn bán cấu trúc trên cơ sở những phỏng vấn thăm dò trước đó về chủ đề nghiên cứu để có thể biết được câu hỏi nào là phù hợp. Nghiên cứu trường hợp Nhằm thu thập thông tin toàn diện, có hệ thống và sâu về các trường hợp đang quan tâm. “Một trường hợp” ở đây có thể là một cá nhân, một sự kiện, một giai đoạn bệnh, một chương trình hay một cộng đồng. Nghiên cứu trường hợp đặc biệt cần thiết khi nghiên cứu viên cần có hiểu biết sâu về một số người, vấn đề và tình huống cụ thể, cũng như khi các trường hợp có nhiều thông tin hay mà có thể đem lại một cách nhìn sâu sắc về hiẹn tượng đang quan tâm. Lịch sử đời sống. Thông tin về lịch sử đời sống của cá nhân thường được thu thập qua rất nhiều cuộc phỏng vấn kéo dài (thường là phỏng vấn bán cấu trúc và không cấu trúc) Ưu điểm của PV bán cấu trúc - Sử dụng bản hướng dẫn phỏng vấn sẽ tiết kiệm thời gian phỏng vấn - Danh mục các câu hỏi giúp xác định rõ những vấn đề cần thu thập thông tin nhưng vẫn cho phép độ linh hoạt cần thiết để thảo luận các vấn đề mới nảy sinh. - Dễ dàng hệ thống hoá và phân tích các thông tin thu được Nhược điểm: Cần phải có thời gian để thăm dò trước chủ đề quan tâm để xác định chủ đề nghiên cứu và thiết kế câu hỏi phù hợp 3. Phỏng vấn có cấu trúc hoặc hệ thống Là phương pháp phỏng vấn tất cả các đối tượng những câu hỏi như nhau. Thông tin thu được bằng phương pháp này có thể bao gồm cả các con số và các dữ liệu có thể đo đếm được. Các phương pháp này được coi là một bộ phận trong nghiên cứu định tính vì chúng giúp cho việc mô tả và phân tích các đặc điểm văn hóa và hành vi của đối tượng nghiên cứu. Các phương pháp này nhằm phát hiện và xác định rõ các phạm trù văn hóa thông qua sự tìm hiểu “những quy luật văn hóa” trong suy nghĩ của cá nhân, tìm hiểu xem họ nghĩ và biết gì về thế giới xung quan họ và cách họ tổ chức các thông tin này như thế nào. Liệt kê tự do (Free listing) Tách biệt và xác định các phạm trù cụ thể. NCV yêu cầu đối tượng liệt kê mọi thông tin mà họ có thể nghĩ tới trong một phạm trù cụ thể. Ví dụ, khi tìm hiểu kiến thức về các bệnh lây truyền qua đường tình dục ta có thể yêu cầu đối tượng liệt kê tên của các bệnh đó hoặc liệt kê các con đường lây nhiễm HIV ... Phân loại nhóm Phương pháp này tìm hiểu kiến thức của đối tượng về các phạm trù khác nhau và mối liên hệ giữa chúng. Ví dụ, NCV có thể yêu cầu đối tượng phân loại các bệnh của đường sinh dục và các bệnh lây qua đường tình dục hoặc phân loại những tiếp xúc không gây lây nhiễm HIV và những tiếp xúc có thể làm lây nhiễm. Phân hạng sử dụng thang điểm Là phương pháp rất phổ biến trong khoa học xã hội. Các thang điểm thường được sử dụng để phân hạng các khoản mục trong một phạm trù nào đó. Thang điểm có thể là một dẫy số có thể là đồ thị. Ví dụ: Khi tìm hiểu kiến thức của cá nhân về các biểu hiện của bệnh AIDS, sau khi đưa ra danh sách của một số triệu chứng NCV có thể sử dụng thang điểm để xác định hiểu biết của đối tượng và yêu cầu đối tượng khoanh vào số mà theo bạn biểu thị mức độ trầm trọng của bệnh AIDS: 0 1 2 3 4 5 6 7 (từ nhẹ cho đên mức độ nặng nhất) Hoặc đánh dấu trên đường thẳng *________________________* Nhẹ ------------Nặng

THẢO LUẬN NHÓM

Một điều cần lưu ý là đơn vị nghiên cứu và phân tích trong thảo luận nhóm sẽ là nhóm chứ không phải là cá nhân. Thảo luận nhóm tập trung Một nhóm tập trung thường bao gồm từ 6 đến 8 người có chung một số đặc điểm nhất định phù hợp với chủ đề cuộc thảo luận, ví dụ cùng một trình độ học vấn, cùng một độ tuổi, cùng một giới tính ... Thảo luận nhóm tập trung thường được sử dụng để đánh giá các nhu cầu, các biện pháp can thiệp, thử nghiệm các ý tưởng hoặc chương trình mới, cải thiện chương trình hiện tại và thu thập các thông tin về một chủ đề nào đó phục vụ cho việc xây dựng bộ câu hỏi có cấu trúc ... Ưu điểm của phương pháp- Cung cấp một khối lượng thông tin đáng kể một cách nhanh chóng và rẻ hơn so với phỏng vấn cá nhân. - Rất có giá trị trong việc tìm hiểu quan niệm, thái độ và hành vi của cộng đồng - Hỗ trợ việc xác định những câu hỏi phù hợp cho phỏng vấn cá nhân Nhược điểm - Nghiên cứu viên khó kiểm soát động thái của quá trình thảo luận so với phỏng vấn cá nhân. - Thảo luận nhóm tập trung không thể đưa ra tần suất phân bố của các quan niệm và hành vi trong cộng đồng. - Kết quả TLNTT thường khó phân tích hơn so với phỏng vấn cá nhân. - Số lượng vấn đề đặt ra trong TLNTT có thể ít hơn so với PV cá nhân - Việc chi chép lại thông tin và chi tiết của cuộc thảo luận nhóm tập trung rất khó, nhất là việc gỡ băng ghi âm. Phỏng vấn nhóm không chính thức Ví dụ phỏng vấn các nhóm tự nhiên như nhóm thành viên gia đình, nhóm đàn ông uống trà trong quán, nhóm phụ nữ đi khám bệnh ... Phương pháp này dùng kỹ thuật phỏng vấn bán cấu trúc hoặc phỏng vấn tự do Phương pháp phỏng vấn nhóm không có trọng tâm dễ dàng thực hiện nhưng ít có tính hệ thống do đó khó sử dụng để so sánh giữa các nhóm. Phương pháp này có giá trị đối với các can thiệp đã được lập kế hoạch từ trước.

PHƯƠNG PHÁP QUAN SÁT

Phương pháp phỏng vấn cung cấp các thông tin về quan niệm, thái độ, giá trị và hành vi tự thuật của đối tượng. Các phương pháp quan sát cung cấp thông tin về hành vi thực cho phép hiểu rõ hơn hành vi được nghiên cứu. Người ta có thể quan sát trực tiếp các hành vi thực tế hoặc có thể quan sát các dấu hiệu của hành vi. Đôi khi chỉ có thể quan sát gián tiếp dấu hiệ phản ảnh hành vi. Ví dụ muốn nghiên cứu hành vi sử dụng bao cao su trong số gái mãi dâm, NCV không thể trực tiếp quan sát hành vi thực tế sử dụng bao cao su như thế nào. Cũng không thể chỉ dựa vào câu trả lời của các cô gái mãi dâm về số bao cao su mà họ đã sử dụng. Do đó NCV có thể đếm số bao cao su được vứt trong các thùng rác sau mỗi buổi sáng hay sau một khoảng thời gian nhất định nào đó. Các hình thức quan sát Quan sát tham gia/ hoặc không tham gia Quan sát công khai/ hay bí mật Giải thích rõ mục tiêu của quan sát/ hoặc không nói rõ về mục đích thực của quan sát cho đối tượng bị quan sát biết Quan sát một lần/Quan sát lặp lại Quan sát một hành vi/Quan sát tổng thể Quan sát thu thập số liệu định tính, mở và mô tả/Quan sát thu thập số liệu định lượng dựa trên danh mục các điểm cần quan sát.

CHỌN MẪU TRONG NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH

Vì không có đủ thời gian và nguồn lực để có thể phỏng vấn hoặc quan sát từng cá nhân trong quần thể do đó NCV phải tiến hành chọn mẫu đại diện cho quần thể nghiên cứu. Có 2 loại chọn mẫu chủ yếu: - Mẫu chọn xác suất nhằm bảo đảm kết quả thu được mang tính đại diện có ý nghĩa thống kê cho quần thể nghiên cứu mà từ đó mẫu được rút ra. Mẫu chọn xác suất bao gồm các mẫu ngẫu nhiên dơn, mâu xngẫu nhiên phân tầng và mẫu chùm. - Chọn mẫu không xác suất có thể có tính đại diện về mặt lý thuyết cho quần thể nghiên cứu nếu sử dụng tối đa phạm vi và sự đa dạng của đối tượng nghiên cứu. NCV chọn địa điểm nghiên cứu hay các đối tượng cung câp thông tin có tính đại diện cho một số đặc điểm quan trọng đối với chủ đề nghiên cứu (ví dụ đặc điểm địa lý, nhóm dân tộc, học vấn, tuổi ...). Trong trường hợp này, một số lượng nhỏ các đại điểm nghiên cứu hoặc đối tượng nghiên cứu được chọn một cách đặc biệt có thể cung cấp một lượng thông tin xác thực và có tính đại diện. Lựa chọn thực địa nghiên cứu Vì NCĐT chủ yếu tập trung vào một số lượng nhỏ cộng đồng hoặc khu vực và trong các khu vực này, vào một số lượng nhỏ các dối tượng cung cấp thông tin nên việc chọn địa điểm nghiên cứu có vai trò rất quan trọng. Qua trình lựa chọn thường được bắt đầu bằng một vùng lớn nhất, với quần thể mẫu cần thiết theo lý thuyết và khu trú dần lại ở một hoặc vài địa điểm để tiến hành nghiên cứu. Bước đầu tiên là xác định vùng lớn nhất phù hợp với chủ đề và mục tiêu nghiên cứu. Ví dụ: Chương trình phòng chống AIDS muốn tìm hiểu nhận thức, thái độ và hành vi của cộng đồng liên quan đến sử dụng ma tuý hoặc mãi dâm và HIV/AIDS với mục đích là xây dựng tài liệu giáo dục tuyên truyền và các giải pháp can thiệp phù hợp. Do đó những khu vực nào được coi là có nhiều người sử dụng ma tuý hoặc mãi dâm mới nên chọn vào nghiên cứu. Bước tiếp theo là cân nhắc đến mức độ phức tạp của quần thể nghiên cứu và chọn vùng hay cộng đồng mà có thể đại diện được cho tính đa dạng của các đặc điểm quan trọng nhất. Cuối cùng, khi đã chọn được địa điểm thoả mãn các yêu cầu của cuộc nghiên cứu thì phải có được sự đồng ý tham gia của chính quyền địa phương. Lựa chọn đối tượng nghiên cứu Bảng 3.

Các loại chiến lược chọn mẫu

Kiểu chọn mẫu

Mục đích

1. Chọn mẫu xác suất ngẫu nhiên Có tính đại diện, cỡ mẫu là một hàm số của độ tin cậy mong muốn Chọn mẫu ngẫu nhiên đơn Cho phép khái quát hóa kết quả từ mẫu tới quần thể nghiên cứu mà nó đại diện Chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng hoặc mẫu chùm Tăng mức độ tin cậy trong việc đưa ra các khái quát hóa cho từng phân nhóm cụ thể hay từng vùng cụ thể

2. Chọn mẫu không ngẫu nhiên hay chọn mẫu có mục đíchChọn các trường hợp co nhiều thông tin cho nghiên cứu sâu. Số lượng và trường hợp cụ thể phụ thuộc vào mục đích nghiên cứu. Chọn đối lập hay chọn lệch Tìm hiểu từ các biểu hiện đi lệch một cách khác thường của các hiện tượng ta đang quan tâm Chọn với cường độ mạnh Cung cấp nhiều thông tin từ một vài trường hợp mà có nhiều đặc điểm của hiện tượng mà ta đang quan tâm (nhưng không phải là trường hợp quá lệch) Chọn mẫu với mức độ đa dạng tối đa (chọn một cách có chủ định một khoảng thay đổi rộng của các đặc điểm ta quan tâm) Ghi chép các trường hợp duy nhất hay các sự biến đổi khác nhau mà có thể giúp xác định được các mô hình thông thường mật độ thông thường khi tiến hành nghiên cứu ngang qua sự thay đổi đó Chọn mẫu đồng nhất Tập trung vào các đối tượng có đặc điểm giống nhau đơn giản cho việc phân tích, giúp đỡ cho việc phỏng vấn nhóm. Chọn trường hợp điển hình Làm rõ hay nhấn mạnh cái gì là điển hình, thông thưòng và trung bìnhChọn mẫu có mục đích phân tầng (chọn người cung cấpthông tin từ các tiểu nhóm đối tượng mà ta quan tâm) Minh họa các đặc điểm của từng nhóm cụ thể ta quan tâm; hỗ trợ cho việc so sánh Chọn trường hợp, địa điểm nghiên cứu, sự kiện, cá nhân mà giúp nhấn mạnh một lý thuyết nào đó Thu thông tin đến mức tối đa khi các nguồn lực có hạn có thể làm hạn chế số địa điểm nghiên cứu hay cỡ mẫu chung