Hiển thị các bài đăng có nhãn Giới và phát triển. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Giới và phát triển. Hiển thị tất cả bài đăng

28 tháng 6, 2008

Bình đẳng giới, chuyện mơ!


Bình đẳng giới, chuyện mơ!
Chăm con là công việc thắt chặt tình cảm cha con nhưng có rất ít ông bố Việt chịu làm (ảnh chỉ mang tính minh họa) - Ảnh: Gia Tiến
TT - Báo chí, phim ảnh... đã nói rất nhiều về bình đẳng giới, nhưng trong điều tra quốc gia lần đầu tiên về gia đình do Bộ Văn hóa - thể thao & du lịch và Unicef vừa công bố, bình đẳng giới vẫn còn là chuyện trong tương lai ở VN!

Một số thống kê của điều tra này cho thấy số phụ nữ và nam giới đứng tên sở hữu tài sản (nhà, đất, công cụ sản xuất...) gần tương đương nhau. Theo một số chuyên gia, chỉ báo này thể hiện sự bình đẳng trong gia đình đã có những bước tiến quan trọng. Nhưng thực tế, chính trong điều tra này, phụ nữ lại dành thời gian gấp... sáu lần so với nam giới trong việc chăm sóc con dưới 15 tuổi!

Bên cạnh đó, dù chính sách dân số, kế hoạch hóa gia đình đã được Nhà nước ta thực hiện nhiều năm, nhưng một tỉ lệ rất lớn người dân vẫn rất thích có con trai. Mà mục tiêu của việc có con trai là để mọi người khỏi cười chê (6,4%), và cái chính là để có người nối dõi tông đường (85,7%)!

Nhóm điều tra đã đi thực tế để quan sát sự bình đẳng giới trong thực hiện các công việc gia đình. Tỉ lệ thật đáng ngạc nhiên: số nam giới tham gia các công việc nội trợ chỉ chiếm một con số cực kỳ khiêm tốn là 3,5%, trong khi đó số chị em "đầu tắt mặt tối" với việc nhà lên đến 82,5%! Trong chăm sóc con cái, tỉ lệ bình đẳng giới cũng rất chênh lệch: 68,3% phụ nữ chăm sóc con, nhưng chỉ có 2,4% nam giới chịu khổ cùng vợ để thực hiện công việc đầy tình cảm này. Việc chăm sóc người già, người ốm trong gia đình cũng gần như là "đặc quyền" của phụ nữ. Trong khi về hoạt động sản xuất, kinh doanh ở gia đình, tỉ lệ nữ và nam tham gia gần như nhau, với 27,6% nữ và 36,7% nam.

Cũng theo điều tra nói trên, tỉ lệ người chồng ở khu vực nông thôn đứng tên ba loại tài sản lớn của hộ gia đình là nhà ở - đất ở, đất canh tác, cơ sở sản xuất kinh doanh đều cao hơn rất nhiều so với người vợ. Ở thành thị, tỉ lệ này có cân bằng hơn chút ít do có nguyên nhân mang tính lịch sử: nhà đất do Nhà nước phân phối thường do phụ nữ đứng tên. Trong trường hợp ly hôn, nhóm nghiên cứu kết luận phụ nữ thường là người chịu thiệt thòi nhiều nhất do phần lớn họ đảm nhận việc chăm sóc con cái, nhưng rất ít người được nhận cấp dưỡng nuôi con từ phía người chồng dù đã được tòa xử!
Lan Anh (Báo Tuổi Trẻ ngày 28/06/2008)

18 tháng 6, 2008

Mất cân bằng giới tính ở Việt Nam


TS Nguyễn Thiện Trưởng, Chủ tịch Hội Kế hoạch hóa gia đình VN, nhận định một xã hội thừa nam, thiếu nữ sẽ dẫn đến sự mất cân bằng trong đời sống, tâm lý, tình cảm của mỗi gia đình, xã hội. Trong khi dân số VN đang tăng ở mức báo động thì tình trạng chênh lệch giới tính ở trẻ sơ sinh cũng đang trở thành mối quan tâm của nhiều người. Tình trạng thừa nam, thiếu nữ nếu không được điều chỉnh kịp thời, trong tương lai VN có thể phải “nhập khẩu” cô dâu.

Chênh lệch giới tính vượt khỏi mức bình thường.

Cách đây 10 năm, tỉ lệ giới tính ở VN ngang bằng với mức độ trung bình của thế giới là cứ 100 bé gái thì có 105- 107 bé trai, nhưng trong vài năm trở lại đây, số lượng bé trai đã tăng lên đáng kể. Ở nhiều vùng, số bé trai đã vượt số lượng bé gái từ 20%- 25%.

TS Khuất Thu Hồng, Viện Nghiên cứu Phát triển xã hội, cho biết theo nghiên cứu tại một số tỉnh thuộc khu vực Đông Bắc, Tây Bắc và duyên hải, tỉ lệ giới tính khi sinh đã có sự chênh lệch cao và rất cao so với mức bình thường. Có tới 16 tỉnh tỉ lệ giới tính khi sinh từ 115 đến 128 nam/100 nữ và 20 tỉnh là 111 đến 120 nam/100 nữ. Tại Bắc Ninh, tỉ số giới tính khi sinh đã ở mức báo động với 123 nam/100 nữ, còn Hà Tây: 112 nam/100 nữ...

Cũng theo nghiên cứu này, 2/3 số phụ nữ biết giới tính của con trước khi sinh, 98% trong số đó là qua siêu âm. Trong khi tại các bệnh viện, việc công bố giới tính thai nhi là điều nghiêm cấm thì tại các phòng khám tư nhân, việc làm này dường như dễ dàng hơn khi bác sĩ nói miệng hoặc sử dụng một cách ví von để sản phụ dễ dàng tìm ra đáp án.

Nhiều nam giới mất quyền làm chồng.

Cũng theo bà Hồng, sự ưa thích con trai vẫn rất phổ biến ở người dân. Vì vậy, các cặp vợ chồng đều thực hiện mọi cách thức khác nhau để được đứa con với giới tính mong muốn. Không chỉ sử dụng biện pháp nạo phá thai sau khi siêu âm xác định giới tính, nhiều cặp vợ chồng còn mua “cẩm nang” tạo giới tính cho con được bày bán tràn lan trên thị trường để đạt ý nguyện. Tuy nhiên, theo TS Quan Lệ Nga, Giám đốc Trung tâm Phát triển Sức khỏe cộng đồng Ánh Sáng (Hà Nội), thực tế việc ăn uống và tính thời điểm thụ thai của các cặp vợ chồng cũng đúng ở một vài trường hợp. Nhưng cho đến thời điểm này, vẫn chưa có nghiên cứu khoa học nào chứng minh rằng những bài thuốc của “cẩm nang” là đúng.

Theo các chuyên gia dân số, việc phụ nữ đi phá thai vì giới tính của thai nhi không như mình mong muốn đã liệt VN vào danh sách một trong những nước có tỉ lệ nạo phá thai cao nhất trên thế giới. Trung bình, mỗi phụ nữ ở VN nạo phá thai 2,5 lần trong đời.

TS Nguyễn Thiện Trưởng nhận định, một xã hội thừa nam, thiếu nữ sẽ dẫn đến sự mất cân bằng trong đời sống, tâm lý, tình cảm của mỗi gia đình, xã hội. Hậu quả tất yếu sẽ dẫn đến tình trạng thiếu phụ nữ sẽ làm mất quyền làm chồng của nhiều đàn ông. Đáng nói, tình trạng này càng trở nên trầm trọng hơn khi số phụ nữ lấy chồng nước ngoài có xu hướng tăng ở một số địa phương.

Dân số tăng khoảng 50%.

Cũng theo ông Trưởng, không chỉ riêng vấn đề mất cân bằng giới tính mà gần một năm qua, tốc độ tăng dân số đến chóng mặt cũng đang làm đau đầu các cơ quan chức năng.

Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Bá Thủy cảnh báo, dân số đang tăng vọt trở lại. Đầu năm 2008, tại một số địa phương như Bắc Ninh, Sơn La... dân số đã tăng gần 50%. Nhiều địa phương khác, trong đó có cả những TP lớn như Hà Nội, TPHCM, tỉ lệ người sinh con thứ 3, thứ 4 cũng tăng mạnh. Theo một số chuyên gia dân số, nguyên nhân là do hệ thống ủy ban dân số các tỉnh bị giải thể và sáp nhập cùng với ngành y tế. Điều này đã gây tâm lý lơ là, chán nản đối với những người làm công tác dân số. Chính vì thế, dân số đang tăng với mức độ chóng mặt trong những tháng đầu năm 2008.

Theo Người lao động

13 tháng 5, 2008

NGĂN CHẶN BẠO LỰC GIA ĐÌNH: LUẬT CẦN ĐI VÀO THỰC TẾ


NGĂN CHẶN BẠO LỰC GIA ĐÌNH: LUẬT CẦN ĐI VÀO THỰC TẾ
HƯƠNG GIANG

Bạo lực gia đình (BLGĐ) và ngăn chặn BLGĐ một vấn đề xã hội mang tính toàn cầu và cũng là mối quan tâm lớn ở nước ta. Bên cạnh việc thay đổi nhận thức của cộng đồng về phòng chống BLGĐ, Việt Nam còn cần một hệ thống các qui định pháp luật phù hợp với thực tiễn để giải quyết hiệu quả vấn nạn này.

Xử lý nghiêm khắc hành vi BLGĐ

Theo số liệu thống kê của các cơ quan cảnh sát điều tra tại 51/64 tỉnh thành phố trực thuộc TƯ về tình hình tội phạm có liên quan đến BLGĐ đã thụ lý giải quyết trong giai đoạn 2001 – 2005 cho thấy, những năm gần đây, tình hình tội phạm BLGĐ diễn ra rất phức tạp, có chiều hướng gia tăng về số lượng và ngày càng nghiêm trọng hơn về tính chất, mức độ, chủ yếu là các hành vi giết người, cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ người khác, hiếp dâm trẻ em. Các nghiên cứu qui mô nhỏ của Viện Xã hội học cũng cho thấy, có khoảng từ 5-10% số phụ nữ có chồng đã từng bị bạo hành về thân thể (mặc dù con số thực tế có thể cao hơn).

Qua khảo sát tại một số địa phương, hiện có hai khuynh hướng xử lý những người có hành vi vi phạm liên quan đến BLGĐ. Một số ý kiến cho rằng, đối với những người này chỉ cần được giáo dục, hoà giải để từ đó giải quyết, hàn gắn và giữ vững hạnh phúc của các gia đình. Ngược lại, có ý kiến yêu cầu phải xử lý nghiêm khắc đối với những người có hành vi vi phạm liên quan đến BLGĐ để tăng cường tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung, ngăn chặn sự tái diễn với những hậu quả nghiêm trọng có thể ngày càng nghiêm trọng hơn.

Ông Nguyễn Văn Thịnh (Vụ Pháp chế - Bộ Công an) cho biết, những vụ án liên quan đến BLGĐ khi được lực lượng Công an lập hồ sơ xử lý, thường là những vụ án có tính chất nghiêm trọng, tái diễn hành vi bạo lực sau khi hoà giải ở cơ sở không đạt, hoặc sau khi xử lý bằng các biện pháp hành chính không hiệu quả. Lực lượng công an lại thường gặp nhiều khó khăn trong quá trình phát hiện và giải quyết các vụ án liên quan đến BLGĐ. Thực tế rất ít vụ việc được phát hiện kịp thời do các thành viên gia đình và nạn nhân thường tìm cách che dấu cho đến khi có hậu quả nghiêm trọng xảy ra. Hơn nữa, khi thụ lý điều tra, cơ quan điều tra thường gặp khó khăn trong việc thu thập chứng cứ, lấy lời khai của nạn nhân và các thành viên khác trong gia đình do những ràng buộc về tình cảm và nhận thức “xấu chàng hổ ai”, không muốn “vạch áo cho người xem lưng”.

Bên cạnh đó, việc phòng chống BLGĐ theo qui định pháp luật hiện hành còn đang thực hiện chung với các hành vi khác mà chưa có sự phân tách trên cơ sở đặc thù của hành vi BLGĐ nên thực tế, các qui định pháp luật chưa đáp ứng yêu cầu cấp bách của công tác này. Không chỉ có vậy, theo qui định của Bộ luật Tố tụng Hình sự tại khoản 1 các Điều 104, 105, 106, 109, 111, 113, 121, 122, 131 và 171, việc khởi tố một số vụ án liên quan đến BLGĐ phải theo yêu cầu của người bị hại và nhiều trường hợp không thể giải quyết vì nạn nhân không yêu cầu khởi tố hoặc đã yêu cầu những lại rút đơn, xin bãi nại…

Vì thế, ông Thịnh kiến nghị, để giải quyết tình trạng BLGĐ, cần bổ sung vào các qui định pháp luật hình sự và tố tụng hình sự các nội dung cho phép xử lý các hành vi BLGĐ một cách nghiêm khắc và triệt để hơn như bổ sung thêm các trường hợp phạm tội đối với “vợ, chồng, con cái” trong Bộ luật Hình sự hoặc sửa đổi, bổ sung thêm điểm d, đ khoản 1 Điều 104 Bộ luật Hình sự qui định về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức sức khoẻ người khác để qui định trong thường hợp phạm tội đối với các thành viên trong gia đình…

Đưa luật Phòng chống BLGĐ vào cuộc sống

Chưa đầy 2 tháng nữa, Luật phòng chống BLGĐ của Việt Nam sẽ có hiệu lực. Đạo luật này được hy vọng là cơ sở pháp lý để có thể ngăn chặn và giải quyết hiệu quả nạn BLGĐ, bảo vệ được những nạn nhân, chủ yếu là phụ nữ và trẻ em, góp phần xây dựng một xã hội văn minh, đầy tính nhân văn. Nhưng vấn đề là làm thế nào để đạo luật này đi vào cuộc sống, để hoạt động phòng chống BLGĐ được tổ chức đồng bộ và đi đúng định hướng, phục vụ việc thực hiện mục tiêu tăng cường phòng chống BLGĐ và giảm tỷ lệ BLGĐ bình quân hàng năm từ 10 –15% theo Chiến lược Xây dựng gia đình Việt nam giai đoạn 2005 - 2010.

Về vấn đề này, ông Lê Đỗ Ngọc – Vụ trưởng Vụ Gia đình (Bộ Văn hoá Thể theo và Du lịch) cho biết, với tư cách là cơ quan quản lý nhà nước về phòng chống BLGĐ, Bộ đang tham mưu, xây dựng các văn bản cho việc thi hành Luật Phòng chống BLGĐ, trong đó có dự thảo Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức triển khai, thi hành Luật Phòng chống BLGĐ (đang chờ Thủ tướng Chính phủ ký ban hành); dự thảo Nghị định của Chính phủ qui định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật này và dự thảo Nghị định của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng chống BLGĐ (cả 2 dự thảo Nghị định này dự kiến sẽ trình Chính phủ vào cuối tháng 5); phối hợp với các Bộ, ngành xây dựng các Thông tư hướng dẫn thi hành Luật và nghị định…

Bên cạnh đó, vào quý IV, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch cũng dự kiến trình Chính phủ Chương trình hành động quốc gia phòng chống BLGĐ giai đoạn 2009 – 2015, với 6 đề án. Từ năm nay, Bộ sẽ tổ chức triển khai trên 60 tỉnh, thành phố trực thuộc TƯ mô hình phòng chống BLGĐ trên cơ sở rút kinh nghiệm hai mô hình đã thí điểm ở Tây Ninh và Bình Phước (2004 -2007). Đặc biệt, ngay từ đầu năm Bộ đã xúc tiến thành lập Mạng lưới phòng, chống BLGĐ (họp 1 tháng/lần) do Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch (Vụ Gia đình) làm đầu mối, với sự tham gia của các tổ chức đang hoạt động trong lĩnh vực này. Đây là một hoạt động nhằm hợp tác và phối hợp chặt chẽ giữa các tổ chức, tránh sự chồng chéo, lãng phí trong các hoạt động triển khai thi hành Luật phòng chống BLGĐ./.

Hiện 89 quốc gia có qui định pháp luật riêng về chống BLGĐ, trong đó 60 nước có luật riêng về phòng chống BLGĐ, 7 nước có luật riêng về bạo lực chống phụ nữ, 14 nước có các điều riêng về BLGĐ trong pháp luật hình sự, 5 nước đưa vào pháp luật dân sự và 1 nước đưa vào pháp luật gia đình. 102 quốc gia chưa có qui định pháp luật cụ thể về phòng chống BLGĐ

Nhiều nước đang sửa đổi pháp luật hình sự để điều chỉnh lại theo chiều hướng nghiêm khắc hơn đối với hành vi bạo lực với phụ nữ; ít nhất 104 quốc gia hình sự hoá hành vi hiếp dâm trong hôn nhân, trong khi hành vi này chưa bị coi là hành vi phạm tội ở ít nhất 53 quốc gia khác. Hành vi quấy rối tình dục bị xử lý nghiêm khắc theo pháp luật của 90 quốc gia./.

(Nguồn: Quỹ Phát triển Phụ nữ Liên hợp quốc (UNIFEM)

SOURCE: http://www.moj.gov.vn/p/tag.idempotent.render.userLayoutRootNode.target.n65.uP?uP_root=me&cmd=item&ID=8413

5 tháng 5, 2008

Phòng chống bạo lực gia đình:Biết mình, là chính mình


Phòng chống bạo lực gia đình:

Biết mình, là chính mình...

TT - Đã có Luật phòng chống bạo lực gia đình, mô hình "Ngôi nhà bình yên" đã xuất hiện ở Hà Nội. Tuy nhiên, bạo lực gia đình không thể giảm nếu bản thân các đối tượng có nguy cơ bị bạo lực không biết cách tự bảo vệ và nhận thức được giá trị chính mình...

Nhà giáo dục Trish Summerfield - giám đốc chương trình giá trị sống (TP.HCM) - chia sẻ với những nạn nhân bạo lực gia đình bằng câu chuyện của một bộ tộc da đỏ. Người ông nói với cháu: "Trong người ông có hai con sói, luôn đánh nhau. Sói đen nóng nảy, tiêu cực; sói trắng tích cực, dễ thương". Đứa cháu muốn biết con nào thắng nhưng không đoán ra.

"Chỉ khi bà vợ thay đổi thái độ sống của mình, ông chồng mới có thể thay đổi hành vi"

Người ông giải thích: "Ông cho con nào ăn no thì nó sẽ thắng". Thức ăn cho "sói" là những suy nghĩ. Một người chồng đánh vợ, kèm bạo lực thể chất là bạo lực cảm xúc bằng những lời nói nhằm làm giảm giá trị bà vợ: "Cô ngu ngốc, vô dụng, cô chẳng ra gì...". Nếu người vợ chấp nhận những lời nói này, nó sẽ trở thành tiếng nói nội tâm, rằng: "Cô đáng bị đánh đập, chửi mắng!".

Một phút, trung bình con người có khoảng 500 suy nghĩ. Nếu đến 80% suy nghĩ của các bà vợ là tiêu cực thì họ không thể thoát khỏi sự hành hạ của ông chồng. Vậy loại suy nghĩ nào đang điều khiển chúng ta? Tích cực hay tiêu cực là do chính chúng ta tạo ra, không ai có thể áp đặt được.

Theo Trish Summerfield, hành trình tự bảo vệ mình khỏi bạo lực gồm ba bước:

Bước 1: nhận thức nội tâm - biết mình. Hiểu rõ các giá trị nòng cốt, ưu điểm, khuyết điểm và mục đích sống chính mình. Lựa chọn suy nghĩ, thái độ nào làm mình mạnh mẽ. Biết cách kiểm soát và điều khiển tâm trí. Hãy là người bạn tốt nhất của chính mình.

Bước 2: là mình. Tạo dựng hệ thống niềm tin tích cực. Vượt qua suy nghĩ tiêu cực và bỏ qua quá khứ. Luôn nói những lời tự động viên. Phát huy tinh thần tích cực.

Bước cuối cùng: làm mạnh mình bằng cách thực hành hai bước trên. Khi bản thân mạnh mẽ, bạn dễ đưa ra quyết định sáng suốt để bảo vệ mình.

Bạn không thể thay đổi mà không rèn luyện và biết tận dụng mọi tình huống như một bài kiểm tra. Nhiều bà vợ đã rèn luyện một cách... kiên cường. Bởi thói quen cũ luôn đưa họ về nếp nghĩ và thái độ tiêu cực. Một điển hình "chống bạo lực", chị Quỳnh Phương, nhân viên ngành bưu điện, đưa ra kinh nghiệm: "Bây giờ, ông xã tôi đưa tay lên phải hạ tay xuống. Tôi không la lên, không van xin, không bỏ chạy mà chỉ nhìn thẳng vào mắt anh với đôi mắt dịu dàng, yêu thương. Đó là cái nhìn cảm thông với người chồng cảm thấy thua kém vợ, phải dùng nắm đấm để chứng minh: tôi là chồng cô”.

Vẫn yêu một người hành hạ mình bao nhiêu năm là một điều phải cố gắng. Nhưng với chị, sự cố gắng ấy không quá sức vì chị nhìn thấy được những điểm tốt của chồng và kích hoạt chúng lên bằng lời nói, thái độ mềm mỏng.

Hầu hết các bà vợ... chịu để chồng đánh đều lớn lên trong gia đình bạo hành. Họ chứng kiến bạo hành hoặc bị đánh đấm, bạt tai từ bé. Một số chị có bản lĩnh cứng cỏi, không để lặp lại hình ảnh đó. Song đáng tiếc, đa số lại chấp nhận "hoàn cảnh" như một sự tiếp tục đương nhiên. Các ông chồng bạo lực phần lớn cũng lớn lên từ "chiếc nôi bạo hành" và coi bạo hành như là cách giải quyết khi không hài lòng điều gì đó. Vì thế, sự thay đổi mạnh mẽ của bà vợ không chỉ có lợi cho bản thân nạn nhân mà còn để "trị liệu" cho các ông chồng.

PHƯỚC CHUNG

Tiến sĩ - bác sĩ Suzanne Summer, chuyên gia "phá vỡ chu kỳ bạo lực" suốt 20 năm nay tại Mỹ, đang là tình nguyện viên phòng khám đa khoa Tân Định, cho biết: ở Mỹ, một phụ nữ trẻ chết, mọi người nghĩ ngay đến bạo lực gia đình. Còn ở VN lại thường là nạn nhân của tai nạn giao thông. Bởi bạo lực gia đình ở VN rất khó phát hiện vì "quyền" được đánh vợ con của ông chồng, và vì "văn hóa xấu hổ" không "vạch áo cho người xem lưng" của các bà vợ.

Theo BS Summer, chu kỳ bạo lực gồm ba giai đoạn:

* Nảy sinh: bà vợ cố gắng thay đổi cách cư xử để làm hài lòng chồng, nhưng không hiệu quả.

* Bùng nổ: khi có yếu tố bên ngoài tác động, ông chồng mất kiểm soát, đổ thừa hành vi tồi tệ của mình là do bà vợ.

* Lắng xuống: khi chồng tỏ ra ăn năn, xoa dịu, hứa hẹn...

Vì chu kỳ này mà bà vợ không thể chia tay ông chồng vũ phu với những lý do: nghĩ mình có lỗi, sợ chồng bạo lực hơn nếu vợ bỏ đi, tội nghiệp con không có cha, xấu hổ khi phải thừa nhận chồng vũ phu...
Báo Tuổi Trẻ ngày 04/05/2008

17 tháng 4, 2008

Một số hạn chế của các quy định về bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động và xã hội


Một số hạn chế của các quy định về bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động và xã hội
Một trong các vấn đề được nhiều đại biểu quan tâm tại Hội thảo Lồng ghép giới trong các chính sách về lao động và xã hội do Bộ LĐ-TBXH phối hợp cùng Văn phòng ILO Việt Nam tổ chức tại TP. Hạ Long ( Quảng Ninh) vừa qua là "những điểm hạn chế của các quy định về bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động- xã hội".
Nhìn chung, nhiều đại biểu tham dự cho rằng, mặc dù Luật bình đẳng giới ra đời là cơ sở quan trọng nhằm bảo đảm thúc đẩy bình đẳng giới trong các lĩnh vực kinh tế- xã hội. Tuy nhiên, các quy định về quyền bình đẳng giới còn tản mạn, được quy định ở rất nhiều văn bản khác nhau, với nhiều cấp độ khác nhau. Nhiều quy định còn chung chung, mang tính định hướng, tuyên ngôn, thiêú cụ thể, không mang tính quy phạm, chưa cụ thể hoá đầy đủ, kịp thời. Đặc biệt, nhiều quy định biện pháp chế tài thực hiện có tính cưỡng chế không cao, do đó nhiều hành vi vi phạm quyền bình đẳng của phụ nữ không bị xử lý, hoặc xử lý nhẹ, không có tính răn đe. Cùng với đó, cơ chế phối hợp bảo đảm thực hiện các quyền bình đẳng giới, cơ chế tài chính hỗ trợ đảm bảo các quyền bình đẳng giới còn hạn chế. Chưa "vươn tới" điều chỉnh được các quan hệ xã hội mới phát sinh do những tác động tiêu cực của cơ chế thị trường.
Riêng trong lĩnh vực lao động- xã hội, Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế- Bộ LĐ-TBXH Hà Đình Bốn trong phần tham luận của mình đã chỉ ra một số bất hợp lý, chưa được khắc phục trong Luật bình đẳng giới, cụ thể như sau:
+ Thứ nhất, theo quy định tại điểm e, khoản 1, Điều 37 của Bộ luật Lao động, thì người lao động nữ có thai có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nếu có giấy của thầy thuốc chứng nhận tiếp tục làm việc sẽ ảnh hưởng xấu tới thai nhi. Quy định chấm dứt hợp đồng lao động như vậy đã làm hạn chế cơ hội được làm việc của lao động nữ sau khi sinh đẻ trong trường hợp phải chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do thai nhi.
+ Thứ hai, quy định khoản 3, Điều 115 của Bộ luật Lao động thì người lao động nữ trong thời gian hành kinh được nghỉ mỗi ngày 30 phút; trong thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi, được nghỉ mỗi ngày 60 phút trong thời gian làm việc, mà vẫn hưởng đủ lương là không hợp lý và bất lợi cho người lao động trong điều kiện hiện nay, đặc biệt là trong các trường hợp người lao động làm việc theo dây chuyền sản xuất.
+ Thứ ba, theo quy định tại Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12 /2004 của Chính phủ về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang; Thông tư số 03/2005/TT-BNV ngày 05/11/2005 của Bộ Nội vụ hướng dẫn thực hiện chế độ nâng bậc lương thường xuyên và nâng bậc lương trước thời hạn đối với cán bộ, công chức, viên chức thì điều kiện về thời gian để được nâng bậc lương đối với cán bộ, công chức, viên chức phải là 5 năm; 03 năm hoặc 2 năm tuỳ theo từng ngạch công chức, tức là công chức, viên chức phải làm việc và hưởng lương ở bậc đó trong thời gian 5 năm; 03 năm hoặc 2 năm. Theo quy định này thì thời gian lao động nữ nghỉ hưởng chế độ thai sản không được tính là thời gian giữ bậc lương để được nâng bậc lương. Trong khi đó, pháp luật về bảo hiểm xã hội lại quy định trong thời gian người lao động nghỉ hưởng chế độ thai sản thì tiền lương của người lao động do quỹ bảo hiểm xã hội chi trả ( người sử dụng lao động không phải trả tiền lương này ) và được coi là thời gian có đóng bảo hiểm xã hội.
Về các quy định của Luật bảo hiểm xã hội năm 2006 về chế độ ốm đau; thai sản; tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp; tử tuất; trợ cấp một lần khi nghỉ hưu nói chung đã thể hiện được nguyên tắc bình đẳng nam, nữ. Tuy nhiên, về tuổi được hưởng lương hưu, mức lương hưu hàng tháng và trợ cấp một lần khi nghỉ hưu quy định tại Điều 50, khoản 1, Điều 52 và khoản 1, Điều 54 thì Luật bảo hiểm xã hội chưa thể hiện được nguyên tắc bình đẳng về giới, hay nói cách khác là còn có sự phân biệt về tuổi được hưởng lương hưu, mức lương hưu hàng tháng và trợ cấp một lần khi nghỉ hưu.
Có thể nói rằng, theo quy định tại khoản 1, Điều 13, Luật bình đẳng giới, thì nam, nữ bình đẳng về bảo hiểm xã hội tức là tuổi được hưởng lương hưu, mức lương hưu hàng tháng và trợ cấp một lần khi nghỉ hưu của nam, nữ là như nhau; không có sự phân biệt giữa nam và nữ. Đây là một điểm mới của Luật bình đẳng giới so với quy định của Luật bảo hiểm xã hội.
Tuy nhiên, trong điều kiện kinh tế - xã hội hiện nay với thị trường lao động mới được hình thành và phát triển; môi trường lao động; sức khoẻ của người lao động; sự già hoá dân số; đồng thời, để phát huy được nguồn nhân sự và trí sáng tạo của công chức, viên chức trong một số nghề thì tuổi nghỉ hưu của nam công chức, viên chức bằng tuổi nghỉ hưu của nữ công chức, viên chức. Về mức lương hưu hàng tháng và trợ cấp một lần khi nghỉ hưu được điều chỉnh theo hướng tuổi nghỉ hưu như nhau thì mức lương hưu và trợ cấp một lần khi nghỉ hưu là như nhau.
Trên cơ sở đã tổng hợp các quan hệ xã hội liên quan đến lĩnh vực bình đẳng giới chưa được quy định bằng pháp luật mà lẽ ra phải phải điều chỉnh bằng pháp luật (hiện tại các quan hệ này đang được điều chỉnh bằng quan hệ đạo đức, phong tục tập quán điều chỉnh, ví dụ như: cha mẹ có quyền giáo dục con cái bằng roi vọt, con gái không cần học nhiều, con trai đương nhiên được thừa hưởng tài sản cha mẹ, con gái chỉ đựơc một ít của hồi môn, chồng có quyền dạy vợ, phụ nữ phải phục vụ chồng con... những quy định không thành văn trên tuy đã được pháp luật điều chỉnh song còn rất chung chung, thiếu cụ thể còn nhiều kẽ hở dễ bị lợi dụng, do đó hầu hết phụ nữ đều bị thiệt thòi. Vì vậy, trong thời gian tới, cần bổ sung các quy định này.
Tuấn Cường ( tổng hợp)

Hội thảo Lồng ghép giới trong các chính sách và chương trình về lao động và xã hội ở Việt Nam


Hội thảo Lồng ghép giới trong các chính sách và chương trình về lao động và xã hội ở Việt Nam Sáng 16/4/2008, tại Thành phố Hạ Long (Quảng Ninh), Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội phối hợp cùng Văn phòng Tổ chức Lao động Quốc tế ( ILO) tại Việt Nam tổ chức Hội thảo Lồng ghép giới trong các chính sách và chương trình về lao động- xã hội. Tham dự có Thứ trưởng Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội Lê Bạch Hồng, Giám đốc Văn phòng ILO tại Việt Nam Rie Vejs Kjeldgaard, lãnh đạo Vụ Bình đẳng giới, Vụ Hợp tác Quốc tế (Bộ LĐ-TBXH ); đại biểu đại diện các bộ, ngành, tổ chức hữu quan, các nhà quản lý, các chuyên gia của ILO cùng đại diện các sở, ngành liên quan đến từ các tỉnh Thái Nguyên, Yên Bái, Vĩnh Phúc, Bắc Kạn và Quảng Ninh.


Phát biểu khai mạc Hội thảo, Thứ trưởng Lê Bạch Hồng đã khẳng định quan điểm về bình đẳng giới của Đảng và Nhà nước Việt Nam được hình thành từ rất sớm, ngay từ Hiến pháp đầu tiên với nội dung: " Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện" đến Luật Bình đẳng giới được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2006 và có hiệu lực từ tháng 7/2007…Tuy nhiên, do lịch sử để lại, trên nhiều lĩnh vực của đời sống vẫn còn tồn tại bất bình đẳng giới, nhất là đối với phụ nữ. Do vậy, cùng với sự ra đời của Luật Bình đẳng giới, quan điểm, đường lối nêu trên đã và sẽ tiếp tục được khẳng định đồng thời Việt Nam cũng đang nỗ lực cố gắng trong việc cụ thể hóa luật và thực hiện các cam kết quốc tế về bình đẳng giới cũng như đối với quyền con người nói chung.
Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới thì " Việt Nam là một trong những nước dẫn đầu thế giới về tỷ lệ phụ nữ tham gia các hoạt động kinh tế, là một trong những nước tiến bộ hàng đầu về bình đẳng giới…". Đây là những kết quả rất đáng khích lệ, song Thứ trưởng Lê Bạch Hồng cũng cho rằng, việc lồng ghép giới trong các chính sách về lao động và xã hội vẫn còn nhiều thách thức: các phương pháp tiếp cận theo nguyên tắc giới, công cụ kỹ thuật hỗ trợ trong quá trình xây dựng, tổ chức thực hiện các chính sách còn hạn chế đang làm cho quá trình lồng ghép giới trong các chính sách về xã hội và lao động còn gặp nhiều khó khăn và chưa đồng bộ…Do vậy, với nhiệm vụ mới được Chính phủ phân công là quản lý Nhà nước về bình đẳng giới, Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội sẽ tiếp tục phối hợp có hiệu quả với các tổ chức quốc tế, đặc biệt là Tổ chức Lao động quốc tế ILO trong việc triển khai các chương trình, dự án trực tiếp hoặc gián tiếp góp phần thúc đẩy bình đẳng giới ở Việt Nam.
Cùng với việc giới thiệu nội dung của cuộc hội thảo ( bao gồm: tổng quan về hệ thống pháp luật của Việt Nam về lao động- xã hội và về bình đẳng giới; Bộ công cụ về lồng ghép giới của ILO và ứng dụng để thử nghiệm và rà soát các văn bản pháp luật làm cơ sở trong việc xây dựng, hoạch định chính sách), Thứ trưởng Lê Bạch Hồng khẳng định, Hội thảo là cơ hội tốt để tăng cường năng lực và chia sẻ kinh nghiệm về lồng ghép giới giữa các bộ, ngành, tổ chức hữu quan, giữa các cấp từ Trung ương đến địa phương đồng thời cũng là dịp để các đại biểu tham dự có được thêm đầy đủ các thông tin, góp phần nâng cao nhận thức và năng lực về phân tích và lồng ghép giới trong các chính sách và chương trình quốc gia có liên quan đến bình đẳng giới ở Việt Nam.

Phát biểu tại Hội thảo, Giám đốc Văn phòng ILO tại Việt Nam Rie Vejs Kjeldgaard nhận định, cùng với nỗ lực phát triển kinh tế thời gian qua, Chính phủ Việt Nam cũng đã theo đuổi những mục tiêu xã hội nhằm mang lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho phần lớn người dân. Trong bối cảnh đó, Luật Bình đẳng giới được ban hành với mục tiêu đẩy mạnh việc xóa bỏ sự phân biệt đối xử về giới; tạo những cơ hội bình đẳng cả về kinh tế và xã hội cho cả nam giới và nữ giới và hỗ trợ sự hợp tác tốt hơn giữa nam giới và nữ giới trong mọi mặt của đời sống xã hội…đã phản ánh được đầy đủ cũng như có sự lồng ghép tài tình những tiêu chuẩn và các công ước lao động quốc tế quan trọng vào luật và trong cả các chính sách và chương trình quốc gia. Mặc dù vậy, Việt Nam vẫn còn đứng trước nhiều thách thức, đặc biệt là việc thúc đẩy bình đẳng giới trong thị trường lao động và các dịch vụ và an sinh xã hội. Do vậy, trong thời gian tới Việt Nam rất cần có một chính sách và khung pháp lý chi tiết và toàn diện nhằm đảm bảo rằng, tăng trưởng kinh tế cũng sẽ tạo cơ hội bình đẳng cho tất cả mọi người nói chung và giới nói riêng…
Tiếp đó, các đại biểu tham dự hội thảo đã được nghe về kế hoạch triển khai Luật Bình đẳng giới và các dự thảo nghị định hướng dẫn thi hành do Phó Vụ trưởng Vụ Bình đẳng giới Phạm Nguyên Cường trình bày; Quan điểm luật pháp quốc tế về Luật Bình đẳng giới và lồng ghép giới tại các cơ quan, tổ chức ở Việt Nam do chuyên gia về luật pháp quốc tế của ILO Tim De Meyer trình bày; Quan điểm quốc tế về phương pháp và công cụ lồng ghép giới, giới thiệu Bộ công cụ của ILO do Chuyên gia về giới cuả ILO Ayma Matsuura trình bày…
Theo dự kiến, Hội thảo sẽ kéo dài 3 ngày từ 16-19/4 với nhiều phiên trình bày, thảo luận, hỏi đáp với mục đích ứng dụng thử nghiệm các công cụ mới trong đánh giá, rà soát chính sách về giới ở Việt Nam hiện nay để đưa ra được các kết luận làm cơ sở xây dựng các chương trình hành động nhằm bảo đảm và nâng cao hiệu quả thực thi các chính sách về giới ở Việt Nam hiện nay./.
Tuấn Cường ( Tạp chí LĐXH)

29 tháng 3, 2008

QUAN HỆ GIỚI


QUAN HỆ GIỚI
Các nghiên cứu PPAs đã tích cực tìm hiểu quan điểm của những phụ nữ được phỏng vấn và tất cả các nhóm nghiên cứu đều đã tổ chức những buổi thảo luận và phỏng vấn cho đối tượng toàn là nữ để nhằm thu thập quan điểm của nữ giới về những vấn đề đưa ra. Phần lớn các vấn đề do những phụ nữ nghèo đưa ra cũng là những vấn đề được nam giới đề cập đến, tuy nhiên với mức độ quan tâm hơi khác nhau: đối với những người nghèo thì vấn đề chính luôn là làm thế nào để có một thu nhập ổn định và đủ trang trải những nhu cầu tiêu dùng của gia đình. Đối với những hộ nghèo, bên cạnh đó còn có một số vấn đề thứ yếu khác. Những người phụ nữ được phỏng vấn cũng đã nêu ra được một số vấn đề liên quan đến riêng giới của mình, chẳng hạn như vấn đề sức khỏe sinh sản. Ngoài ra, cũng có một số vấn đề khác mặc dù không được những người phụ nữ được phỏng vấn nêu ra một cách trực tiếp song do chính các nhóm nghiên cứu nhận thấy. Công việc nặng nhọc chính là một trong những vấn đề dạng này: người phụ nữ dường như đã quá quen với gánh nặng công việc quá sức mà họ phải gánh chịu hàng ngày đến nỗi họ không coi đó là chuyện lạ nữa, trong khi những người ngoài khi nhìn vào lượng công việc hàng ngày của họ mà không khỏi lo ngại về những tác động tiêu cực mà gánh nặng công việc này có thể gây ra đối với sức khoẻ của người phụ nữ.
1. CÁN CÂN QUYỀN LỰC TRONG GIA ĐÌNH
1.1 Sử dụng nguồn tài chính gia đình vẫn thiên vị cho nam g
Có những điều tương phản thú vị khi bàn về quản lý tài chính gia đình. Đàn ông thường nói rằng phụ nữ là người quản lý tiền nong (ví dụ, ở Hà Tĩnh) và cho rằng những quyết định quan trọng đều được bàn bạc chung, nhưng như vậy không có nghĩa là gia đình ra quyết định dựa trên ưu tiên cho phụ nữ (hay ngay cả các ưu tiên chung). Phụ nữ ở Trà Vinh và Lào Cai phàn nàn về các khoản tiền hạn hẹp của gia đình được chi cho rượu và thuốc lá mà chỉ những người đàn ông dùng, trong khi gia đình còn chưa dư dật. Như vậy, dù phụ nữ là người quản lý tiền trên danh nghĩa nhưng họ không có thực quyền để cắt giảm những khoản chi nói trên.
ở Trà Vinh, ghi nhận ở phần lớn các hộ gia đình cho thấy đàn ông tiêu một phần đáng kể thu nhập gia đình cho thuốc lá và rượu mặc dù phụ nữ không đồng ý. Một người đàn ông tự nhận mình gặp gỡ bạn bè để nhậu 20 lần một tháng, mỗi lần tiêu khoảng 30.000 đồng (tức là 600.000 đồng/43 USD một tháng). Trong nhiều hộ gia đình, khoản tiền này chiếm 50% thu nhập hàng tháng. Một người phụ nữ cho biết “mỗi khi có tiền, những người đàn ông xung quanh đều góp tiền để mua rượu và đồ ăn, nếu nhiều tiền sẽ là thịt chó, không thì vịt ... phụ nữ không dám ăn, họ giữ tiền phòng khi ai đó trong gia đình bị ốm.”
Một phụ nữ H’mông ở Lào Cai nói: “ Đàn ông có thể tiêu tiền thoải mái cho việc uống rượu và đánh bài trong khi phụ nữ thậm chí không dám mua cả một miếng kẹo ngoài chợ.

1.2 Phụ nữ ít có ảnh hưởng tới các quyết định sinh c

Một vấn đề quan trọng mà người phụ nữ hầu như không có quyền quyết định đó là quyết định sinh con. ở Hà Tĩnh, tư tưởng muốn có con trai đã tạo ra một áp lực lớn đối với người phụ nữ, buộc họ phải sinh con cho đến khi sinh được một đứa con trai mới thôi: “Nếu không đẻ được con trai, chồng sẽ đi lấy người khác còn mình thì bị những người trong làng khinh miệt, hắt hủi”. ở Lào Cai, những người phụ nữ cho biết họ phải đẻ nhiều con, cho dù gia đình không đủ khả năng nuôi, chỉ vì người chồng muốn như vậy. Nhóm điều tra PPA cũng đã được nghe tâm sự của những người phụ nữ đã từng bị chồng đánh khi phát hiện ra các chị đã đặt vòng tránh thai và người chồng đã bắt vợ mình phải đi tháo vòng. Phụ nữ ở Trà Vinh cũng cho biết họ không có quyền quyết định về việc sinh con. Nhận thức về việc cần phải làm cho nam giới tham gia vào các chương trình sức khỏe sinh sản để đạt được một sự cân đối tốt hơn đang ngày một tăng lên. UNFPA và Hội đồng Dân số đang thử nghiệm một số dự án về trách nhiệm của nam giới trong sức khoẻ sinh sản.
Thảo luận về những thay đổi theo thời gian ở Hà Tĩnh cho thấy rằng, mặc dù trong gia đình, người phụ nữ đã có thêm đôi chút quyền hành trong vòng vài năm trở lại đây, song quyền làm chủ vẫn thuộc về đàn ông. Điều này đặc biệt đúng trong các trường hợp cần phải đưa ra những quyết định liên quan đến các công việc xã hội, lĩnh vực vốn vẫn thuộc quyền kiểm soát của đàn ông.
1.3.Phụ nữ làm việc nhiều hơn nam giới

“Nam giới thường phân biệt đối xử với phụ nữ và hiện vẫn còn quan điểm thiên lệch cho rằng tất cả công việc của người phụ nữ đều là những việc nhỏ. Nam giới không hề làm bất cứ việc gì để giúp vợ mình bởi vì quan niệm rằng có sự khác biệt giữa những việc người chồng nên làm và những việc người vợ nên làm.” Thảo luận nhóm của phụ nữ trong PPA ở Hà Tĩnh, 1998.
Thảo luận ở cả hai tỉnh Hà Tĩnh và Lào Cai đều cho thấy, nam giới hiện đang bắt đầu chia sẻ một chút gánh nặng công việc nội trợ. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu thời gian biểu của các hộ gia đình cho thấy là gánh nặng công việc nội trợ này hiện chủ yếu vẫn do người phụ nữ gánh vác. Nếu cộng với cả nhiều giờ làm nông nghiệp lao động mướn cả ngày, toàn bộ gánh nặng công việc của người phụ nữ lại càng thêm lớn. Thời gian biểu hàng ngày của phụ nữ ở Lào Cai đã minh hoạ rất rõ cho gánh nặng công việc của người phụ nữ ở nông thôn Việt Nam .
Ngày làm việc kéo dài đó đã để lại rất nhiều hậu quả. Thứ nhất, người phụ nữ phải lao động quá sức, đặc biệt là ở các vùng cao, người phụ nữ vẫn phải hoàn thành tất cả các công việc trong khi đang mang thai hoặc cho con bú. Nhiều phụ nữ kể đến các vấn đề về sức khoẻ mà nguyên nhân là do làm việc quá sức. Thứ hai, người phụ nữ không có thời gian cho các hoạt động xã hội và xa hơn nữa là học hỏi kinh nghiệm của những người khác. Thứ ba, phụ nữ không có cơ hội để tham gia các lớp xoá mù chữ vào buổi tối, nếu như các lớp đó được tổ chức và phù hợp với họ. Thứ tư, phụ nữ không thể tham gia được các cuộc họp trong làng, bản và các diễn đàn để ra quyết định.

1.4 Phụ nữ thường bị đánh đậ
Có những bằng chứng khá rõ ràng về tình trạng đánh vợ nghiêm trọng ở tất cả các địa bàn nghiên cứu PPA trừ Hà Tĩnh, nơi những người được hỏi đã nói rằng chồng họ hiện nay đã cư xử với vợ tốt hơn vì cuộc sống đã được cải thiện và những áp lực do khó khăn về kinh tế đã giảm xuống. ở thành phố Hồ Chí Minh, chính những đứa trẻ lại là những người đề cập nhiều nhất đến tình trạng đánh vợ trong các gia đình khi chúng nói về những vấn đề của sự nghèo đói. Việc chứng kiến bố đánh mẹ đã khiến những đứa trẻ hết sức đau buồn. Bản thân những người phụ nữ lại không mấy phàn nàn về tình trạng bị đánh đập và các nhà nghiên cứu ở thành phố Hồ Chí Minh lý giải rằng đó là do người phụ nữ có sẵn trong đầu ý nghĩ việc bị chồng đánh là chuyện “bình thường”. Tại một bản vùng cao trong nghiên cứu ở Lào Cai, nhóm thảo luận của phụ nữ ước tính có khoảng 70% những người chồng thường xuyên đánh đập vợ. ở một làng trung du khác, họ ước tính khoảng 40% người vợ thường xuyên bị đánh. Phần nghiên cứu về tình trạng bạo lực trong nghiên cứu ở Lào Cai đã nhất trí với kết luận “tình trạng đánh vợ xảy ra cả ở các làng quê vùng sâu vùng xa, các làng dân tộc ít người cũng như ở các làng miền trung du đã hội nhập về kinh tế cho thấy rằng cách cư xử thô bạo đối với phụ nữ xảy ra trong các nhóm dân tộc hoặc kinh tế khác nhau và có thể còn phổ biến hơn mức độ người ta nhận thấy”.
Những người được hỏi đều khẳng định có sự liên hệ mật thiết giữa tình trạng uống rượu với bạo lực trong gia đình, thể hiện trong đoạn dưới đây trích từ báo cáo PPA ở Trà Vinh:
“Một người phụ nữ khác lại phàn nàn rằng sau những lần uống rượu say, các ông chồng về nhà thường thượng cẳng chân, hạ cẳng tay”. Một người khi được hỏi đã xác nhận ý kiến của nhiều phụ nữ nói về những người đàn ông hay rượu chè tiệc tùng: “Có hai người đàn ông sống gần nhà tôi đánh vợ”. Một người phụ nữ khác tâm sự: “Rất nhiều phụ nữ sống ở khu này bị chồng đánh. Tôi thật may mắn vì anh trai tôi sống gần đây, do vậy nếu chồng tôi đuổi đánh đằng sau, tôi sẽ chạy sang nhà anh trai”.
1.5 Trong những thời điểm khó khăn, phụ nữ là những người bị tổn thương hơn cả

Có thể kể ra một số ví dụ trong đó phụ nữ bị sử dụng như phương thức đối phó trong những thời kỳ khó khăn. ở Lào Cai, nhóm nghiên cứu phát hiện thấy nhiều gia đình nếu thiếu lao động sẽ cho con trai lớn lấy vợ. Người con dâu sau đó sẽ phải lao động cho gia đình mới của mình. Một gia đình đã làm như vậy để con trai mình có thể tiếp tục đi học: họ cưới vợ cho con để có lao động thay thế trong khi cậu con trai hoàn tất chương trình học. ở TP Hồ Chí Minh, có những trường hợp chị em phụ nữ bị bán cho khách nước ngoài với giá từ 1.000 đến 3.000 USD và nhờ đó mà gia đình thoát ra khỏi cảnh nghèo đói. Cũng có trường hợp người chồng làm cho vợ có thai để sau đó bán con làm con nuôi.

21 tháng 3, 2008

BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP - NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA


BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP - NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA

TS. TRẦN THỊ VÂN ANH - TBT TẠP CHÍ KHOA HỌC VỀ PHỤ NỮ
Hội nhập kinh tế là một từ được nhắc nhiều trong thời gian gần đây. Vậy hội nhập sẽ mang đến cơ hội hay thách thức đối với phụ nữ? và so với nam giới họ sẽ được hay mất nhiều hơn khi đất nước bước vào giai đoạn hội nhập?
Có thể ví hội nhập kinh tế gần giống như việc chúng ta chuyển dần từ đi chợ cóc sang mua bán ở siêu thị. Có nhiều hàng hoá và cơ hội lựa chọn hơn song phải đi xa hơn, phải tuân thủ nhiều luật lệ hơn và có thể cần nhiều tiền hơn.
Hội nhập kinh tế quốc tế giúp cho dòng vốn nước ngoài đầu tư vào Việt Nam tăng lên, chúng ta có nhiều nhà máy, cơ sở sản xuất mới, mở ra nhiều việc làm. Đồng thời chúng ta cũng đứng trước thực tế là nông sản phẩm, hàng tiêu dùng của ta phải cạnh tranh với hàng nhập khẩu ngay trên thị trường nội địa, chưa nói đến việc xuất khẩu và đầu tư ra nước ngoài. Để đứng vững trong cuộc cạnh tranh này, đòi hỏi cả phụ nữ và nam giới phải nâng cao kiến thức, kỹ năng và sự quyết tâm. Và nếu một cá nhân hoặc một giới nào ở vị trí xuất phát thấp hơn, lại ít thời gian và cơ hội để đầu tư, học tập thì nguy cơ bị loại khỏi cuộc chơi đối với người đó, giới đó là lớn hơn nhiều lần.
Vậy thách thức đặt ra đối với vấn đề bình đẳng giới trong thời kỳ hội nhập là gì ?
Trước hết với tư cách là người lao động, sản xuất: Phần lớn phụ nữ nước ta làm nông nghiệp. Số liệu cho biết, cứ 100 lao động nữ thì có 46 người làm nông nghiệp, con số này ở nam là 39. Trong đó, tỷ lệ nữ sản xuất ở hộ gia đình cũng cao hơn so với nam (63% so với 53%)(**). Điều này cho thấy khi nước ta thực hiện cắt giảm thuế nhập khẩu, hạn chế các khoản chi hỗ trợ trực tiếp cho nông dân theo cam kết với WTO, đồng thời với việc thị trường ngày càng nhiều nông phẩm nhập khẩu thì nguy cơ phá sản hoặc thu nhập bấp bênh đối với nữ nông dân sẽ cao hơn hẳn so với nam.
Đối với ngành công nghiệp dệt may là một ví dụ điển hình. Hiện nay nước ta có khoảng 2 triệu công nhân dệt may, hầu hết là nữ. Với việc giảm thuế nhập khẩu sản phẩm may mặc từ 50% xuống còn 15% thì chúng ta đang đứng trước cuộc cạnh tranh gay gắt với sản phẩm dệt may nhập khẩu ngay tại thị trường nội địa. Đi liền đó là sự cạnh tranh khốc liệt hơn trong xuất khẩu. Dự đoán, kim ngạch xuất khẩu dệt may tăng từ 15-20%/năm, có thể giảm xuống mức 5-7%/năm sau năm 2008(***), ảnh hưởng đến công ăn việc làm và thu nhập của hàng triệu nữ công nhân và gia đình họ.
Với giới doanh nhân, nữ chủ doanh nghiệp chiếm khoảng 20%, chưa kể các hoạt động kinh doanh, dịch vụ ở hộ gia đình do nữ làm chủ(****). Bên cạnh những
khó khăn chung của doanh nhân như thiếu vốn, thiếu thông tin thị trường, thiếu lao động lành nghề thì so với nam giới, nữ doanh nhân gặp nhiều khó khăn hơn. Đó là do chênh lệch về trình độ học vấn, kinh nghiệm kinh doanh, các mối quan hệ và ảnh hưởng, về đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và các tài sản chung của vợ chồng. Những khó khăn này hiện nay không hề giảm đi, mà ngược lại còn tăng lên do mức độ cạnh tranh ngày càng cao, không chỉ giữa các doanh nghiệp trong nước mà cả với cơ sở sản xuất và cung cấp dịch vụ của nước ngoài.
Xét về cơ cấu kinh tế, trong bối cảnh hội nhập, Việt Nam cũng như nhiều nước khác, muốn phát triển phải quan tâm đến các ngành tạo giá trị gia tăng cao, ví dụ các ngành dịch vụ tài chính, ngân hàng, hay các ngành công nghiệp kỹ thuật cao như viễn thông. Trong khi đó, lao động nữ hiện chủ yếu tập trung ở các ngành công nghiệp nhẹ, như sản xuất giày, may, chế biến nông sản, v.v.. Đây là một thách thức lớn và đồng thời cũng là nguy cơ tiềm ẩn đối với lao động nữ ở nước ta xét từ góc độ thu hẹp việc làm và giảm thu nhập.
Với tư cách là người tiêu dùng: Phụ nữ có nhiều cơ hội song cũng gặp nhiều thách thức hơn bao giờ hết. Chất lượng và chủng loại hàng hoá ngày càng đa dạng, hệ thống quảng cáo ngày càng tinh vi đang đòi hỏi người tiêu dùng không chỉ đơn giản là đi và mua, mà phải là người lựa chọn thông minh. Đứng trước các loại bao bì, nhãn mác, thành phần hoá chất, dinh dưỡng, v.v… phụ nữ đang mất nhiều thời gian và trí tuệ hơn trước để lựa chọn và quyết định nhằm đáp ứng các nhu cầu ngày càng phức tạp của các thành viên gia đình.
Để vượt qua tất cả thách thức từ góc độ là người sản xuất, kinh doanh cũng như người tiêu dùng trong thời kỳ hội nhập, phụ nữ cũng như nam giới cần có kiến thức và sự nỗ lực vượt bậc. Tuy nhiên, trong cuộc đua này, phụ nữ đang phải vượt qua rất nhiều chướng ngại vật. Tỷ lệ nữ được đào tạo chuyên môn ở tất cả các hình thức như qua trường lớp hoặc đào tạo tại chỗ đều thấp hơn nam giới. Thời gian hàng ngày làm các công việc gia đình và chăm sóc sức khỏe thành viên gia đình của phụ nữ dài hơn nam giới. Ở nhiều gia đình, quyền quyết định của phụ nữ cũng thấp hơn nam giới. Tuy nhiên, tỷ lệ nữ thực hiện các biện pháp tránh thai thì cao hơn và sức khỏe của họ, ngược lại, chịu ảnh hưởng nhiều hơn nam giới. Đến nay còn gần 40% phụ nữ nông dân nghỉ sinh con dưới 31 ngày.
Như vậy, hội nhập kinh tế quốc tế mang lại những cơ hội lớn cho chúng ta. Tuy nhiên, để nắm bắt những cơ hội này, phụ nữ đang gặp nhiều thách thức hơn nam giới. Sau đây là hai đề xuất nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của phụ nữ trong sản xuất:
Một là, nâng cao khả năng tiếp cận việc làm hoặc chuyển đổi nghề nghiệp, đồng thời giảm rủi ro đối với người lao động bằng hai nhóm biện pháp:
- Giảm chi phí và thời gian tìm việc của người lao động thông qua việc hoàn thiện hệ thống thông tin quảng cáo, tư vấn về việc làm, về cơ hội đầu tư. Cung cấp thông tin về thị trường lao động, thị trường đầu tư, thị trường tài chính … với giá rẻ, bảo đảm độ trung thực và cập nhật.
- Mở rộng diện bảo trợ lao động qua việc kết nạp những nhóm đối tượng lao động mới, thực hiện bảo hiểm tự nguyện và đưa chế độ rủi ro thất nghiệp vào cuộc sống. Hướng tới nhóm lao động có nhiều nguy cơ và dễ bị rủi ro, chú ý đến điều kiện cụ thể của lao động nữ để đảm bảo rằng họ được tiếp cận bình đẳng với các quy định này trên thực tế chứ không chỉ trên văn bản.
Hai là, mở rộng ngành nghề, hình thức và đối tượng đào tạo và hỗ trợ kinh phí để lao động nữ ở nông thôn tiếp cận thuận lợi với việc dạy nghề, với hai nhóm biện pháp:
- Khuyến khích các hoạt động đào tạo nghề ở nông thôn, thu hút đông lao động nữ, đặc biệt là nâng cao tay nghề, kỹ năng, cách quản lý, kinh doanh phát triển tiểu, thủ công nghiệp…hỗ trợ các cơ sở ngành nghề nông thôn về thông tin, chuyển giao công nghệ, tư vấn và dịch vụ.
- Đảm bảo các hoạt động khuyến nông, khuyến ngư, khuyến công… sử dụng ngân sách của Nhà nước có một tỉ lệ thích đáng học viên là nữ. Cần xác định các chỉ tiêu về nữ trong bồi dưỡng, tập huấn và đào tạo cũng như hỗ trợ áp dụng tiến bộ kỹ thuật nhằm nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của nông phẩm nước ta.
Chú thích:
(**) Viện KHXHVN, 2007. Báo cáo phân tích số liệu điều tra về bình đẳng giới
(***) Trang tin điện tử Trên con đường hội nhập
(****) Trang tin điện tử của VCCI
SOURCE:
http://www.ubphunu-ncfaw.gov.vn/?lang=V&func=newsdt&CatID=152&newsid=1710&MN=65

TÌNH HÌNH GIỚI Ở VIỆT NAM DƯỚI ĐÁNH GIÁ CỦA CÁC TỔ CHỨC QUỐC TẾ


TÌNH HÌNH GIỚI Ở VIỆT NAM DƯỚI ĐÁNH GIÁ CỦA CÁC TỔ CHỨC QUỐC TẾ
THÚY HIỀN
“Việt Nam là một trong những nước dẫn đầu thế giới về tỷ lệ phụ nữ tham gia các hoạt động kinh tế, là một trong những nước tiến bộ hàng đầu về bình đẳng giới,… là quốc gia đạt được sự thay đổi nhanh chóng nhất về xóa bỏ khoảng cách giới trong 20 năm qua ở khu vực Đông Á”, Báo cáo Đánh giá tình hình Giới ở Việt Nam, tháng 12/2006 của Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng phát triển châu Á (ADB), Vụ phát triển quốc tế Anh (DFID) và Cơ quan phát triển quốc tế Canađa (CIDA).

Trong những thập kỷ qua, Việt Nam đã đạt được những tiến bộ ấn tượng trong phát triển kinh tế và xã hội. Trong thời gian từ 1993-2002, kinh tế Việt Nam đã tăng gấp đôi và giảm được gần một nửa số dân sống trong nghèo đói. Tỷ lệ biết chữ ở người lớn của nam và nữ đạt tương ứng là 96% và 91%. Việt Nam cũng đã vượt mục tiêu có 30% số người có trình độ sau đại học là nữ giới. Điều này mang lại sự tương quan giữa tiền lương trên thị trường lao động với giáo dục. Báo cáo phát triển Việt Nam 2006 cho biết khoảng cách tiền lương tăng lên 70% giữa một lao động có bằng tốt nghiệp đại học với một người chỉ tốt nghiệp tiểu học. Tuổi thọ đã tăng hơn 6 năm cho cả hai giới, trong đó phụ nữ là 73 và nam giới là 69. Tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội cao nhất trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương và là một trong những nước có tỷ lệ tham gia kinh tế cao nhất trên thế giới: 85% nam giới và 83% nữ giới trong độ tuổi 15-60 tham gia vào lực lượng lao động trong năm 2002. Những con số trên đã giúp Việt Nam xếp hạng 109 trong số 177 quốc gia về chỉ số phát triển con người của UNDP (UNDP, 2006), thuộc nhóm các quốc gia trung bình về phát triển con người. Những nỗ lực trong thu hẹp khoảng cách giới vào đầu tư vào nguồn vốn con người đã đưa đất nước đứng hàng thứ 80 trên thế giới trong tổng số 136 quốc gia về chỉ số phát triển giới (GDI) và trở thành quốc gia đạt được sự thay đổi nhanh chóng nhất trong xóa bỏ khoảng cách giới.
Việt Nam đã có những chính sách phù hợp nhằm đảm bảo quyền bình đẳng cho phụ nữ và nam giới và có những tiến bộ đáng kể nhằm giảm khoảng cách về giới trong lĩnh vực y tế và giáo dục cũng như cải thiện tình hình của phụ nữ nói chung. Tuy nhiên, những thành tựu này vẫn chưa hoàn toàn mang tính đồng bộ và cùng với những tiến bộ đó vẫn còn những tồn tại như việc phân nửa các mục tiêu trong Kế hoạch hành động vì sự tiến bộ của phụ nữ giai đoạn 2001-2005 vẫn chưa đạt được. Có sự tụt hậu của phụ nữ và trẻ em gái dân tộc thiểu số so với nam giới dân tộc thiểu số và phụ nữ người Kinh và Hoa trong tiếp cận các dịch vụ y tế, giáo dục và các cơ hội kinh tế. Khuôn mẫu giới cố hữu trong sách giáo khoa đã thúc đẩy bất bình đẳng giới. Phụ nữ trong nông nghiệp cần được quan tâm hơn nữ trong việc tiếp cận và thụ hưởng các cơ hội, dịch vụ, thông tin thị trường ngang bằng như nam giới. Vấn đề gia tăng số lượng phụ nữ tham gia vào quá trình ra quyết định còn tiến triển chậm và chưa nhất quán.
Tăng trưởng kinh tế đã và sẽ tiếp tục thay đổi các cơ hội kinh tế cho cả nam giới và phụ nữ. Tuy nhiên, sân chơi chưa ngang bằng và phụ nữ vẫn chưa có khả năng cạnh tranh với nam giới trong các điều kiện bình đẳng. Phụ nữ tập trung quá nhiều trong một số lĩnh vực và nghề nghiệp còn nam giới lại tập trung trong một số lĩnh vực và nghề nghiệp khác. Và với quyền ra quyết định và địa vị của mình, nam giới hưởng lợi nhiều hơn từ nghề nghiệp. Khả năng cạnh tranh bình đẳng của phụ nữ với nam giới trong khu vực tư nhân bị hạn chế bởi thực tiễn phân biệt đối xử công khai trong tuyển dụng, bởi trình độ học bấn và kỹ năng thấp của phụ nữ và bởi phụ nữ ít có khả năng chuyển tài sản thành vốn hơn so với nam giới khi họ không được đứng tên trong các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp trước đây. Trong khu vực công, sự khác biệt về tuổi nghỉ hưu giữa nam và nữ, một mặt có nghĩa là một khoản nguồn lực công được giành cho phụ nữ dưới dạng lương hưu, song đồng thời lại vừa là yếu tố làm giảm triển vọng nghề nghiệp và thăng tiến của những phụ nữ trẻ. Với việc thông qua Luật Bình đẳng giới, Chính phủ Việt Nam đang tiến hành những bước đi quan trọng để giải quyết những vấn đề này. Tuy nhiên, sẽ có nhiều thách thức đáng kể cho việc đưa luật vào thực tế.
Trên đây là một số đánh giá và nhận định của Báo cáo Đánh giá tình hình Giới ở Việt Nam do một số nhà tài trợ tiến hành nhằm đưa ra phân tích cơ sở và khung hoạt động chung cho các nhà tài trợ và Chính phủ để giải quyết vấn đề bất bình đẳng giới trong tương lai cũng như đóng góp vào việc thực hiện Chiến lược 10 năm của Chính phủ vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam.
SOURCE:
http://www.ubphunu-ncfaw.gov.vn/?lang=V&func=newsdt&CatID=152&newsid=1699&MN=65