Hiển thị các bài đăng có nhãn An sinh xã hội. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn An sinh xã hội. Hiển thị tất cả bài đăng

28 tháng 2, 2009

Các luật và chính sách xã hội liên quan đến An sinh xã hội VN


Trong lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội: Hiến pháp năm 1992 đã quy định công dân có các quyền và nghĩa vụ học tập; quyền và nghĩa vụ lao động; quyền được hưởng chế độ bảo vệ sức khỏe; quyền về nhà ở; quyền sở hữu, tự do kinh doanh,... Các quyền và nghĩa vụ này đều đã được Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội cụ thể hóa trong các luật và pháp lệnh. Như: Luật Giáo dục năm 1998, được sửa đổi, bổ sung năm 2005; Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1991, được sửa đổi, bổ sung vào năm 2004; Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân (năm 1989); Bộ luật Lao động năm 1994, được sửa đổi, bổ sung vào các năm 2002, 2006 và 2007; Luật Dạy nghề (năm 2006); Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (năm 2006); Luật Phòng, chống nhiễm vi-rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch ở người (HIV/AIDS) (năm 2006); Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm (năm 2007); Luật Bình đẳng giới (năm 2006); Luật Nhà ở (năm 2005); Luật Xây dựng (năm 2003); Pháp lệnh về người tàn tật (năm 1998); Pháp lệnh người cao tuổi (năm 2000),...
Về các quyền liên quan đến phụ nữ và trẻ em: Ðây là lĩnh vực xã hội rất quan tâm, đã được quy định trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật, góp phần quan trọng vào những thành tựu về bảo đảm và thúc đẩy các quyền của phụ nữ và trẻ em. Các quy định cụ thể trong Luật Bình đẳng giới cùng với các quyền được chăm sóc và bảo vệ sức khỏe bà mẹ, trẻ em; các chính sách về bảo hộ lao động, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, chế độ thai sản, chế độ đối với lao động nữ(3),... đã tạo điều kiện để phụ nữ từng bước thực hiện tốt vai trò người công dân, người lao động, người mẹ, người thầy đầu tiên của con người; đồng thời, cũng góp phần phòng, chống các tệ nạn xã hội, các hành vi bạo lực, xâm hại và xúc phạm nhân phẩm phụ nữ, trẻ em.

Các quyền cơ bản của trẻ em như: quyền được sống, được bảo vệ thân thể, nhân phẩm; quyền được chăm sóc sức khỏe; quyền được học tập, được phát triển; quyền được vui chơi, giải trí; quyền được bày tỏ ý kiến, nguyện vọng... đều được cụ thể hóa trong các quy định của pháp luật(4). Quốc hội đã phê chuẩn việc Việt Nam tham gia Công ước Quốc tế về bảo vệ trẻ em; thông qua Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1998, được sửa đổi, bổ sung một số điều vào năm 2004. Nội dung này cũng được quy định tại nhiều văn bản luật khác. Trong điều kiện kinh tế đất nước còn nhiều khó khăn, Ðảng và Nhà nước vẫn dành nhiều ưu đãi cho trẻ em bằng việc miễn phí khám, chữa bệnh cho trẻ em dưới 6 tuổi, chính sách phổ cập giáo dục phổ thông cơ sở,... là một cố gắng lớn.

- Về các quyền nhân thân: Quốc hội đã quy định khá cụ thể trong nhiều văn bản pháp luật, bao gồm: quyền tự do đi lại, tự do cư trú(5); quyền tự do ngôn luận(6); quyền tự do tín ngưỡng(7); quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở; quyền được bảo đảm bí mật về thư tín, điện thoại, điện tín(8); quyền khiếu nại, tố cáo; quyền bất khả xâm phạm về thân thể...

Trong nhóm các quyền này, quyền bất khả xâm phạm về thân thể là quyền tự do cá nhân đặc biệt quan trọng, được Ðiều 71 của Hiến pháp năm 1992 quy định: "Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm. Không ai bị bắt, nếu không có quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện Kiểm sát nhân dân, trừ những trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt hoặc giam giữ người phải đúng pháp luật. Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của công dân". Ðiều 72 của Hiến pháp còn quy định: "Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của tòa án đã có hiệu lực pháp luật".
Về vấn đề xóa đói, giảm nghèo, cải thiện đời sống nhân dân: Quốc hội đã cụ thể hóa các quan điểm, tư tưởng của Ðảng về chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống nhân dân, nhất là tại các địa phương có nhiều khó khăn. Trong các Nghị quyết của Quốc hội về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hằng năm và năm năm đã nêu rõ các mục tiêu phấn đấu và kế hoạch chi ngân sách nhà nước, chỉ tiêu giảm nghèo, tạo việc làm...; hoặc trong các Nghị quyết về chương trình mục tiêu và dự án trọng điểm quốc gia đã khẳng định các chủ trương đầu tư lớn, các dự án lớn tại địa bàn có điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khó khăn, như: dự án trồng mới 5 triệu ha rừng; dự án khí, điện, đạm Bà Rịa - Vũng Tàu; dự án Nhà máy lọc dầu Dung Quất; dự án đường Hồ Chí Minh; dự án Thủy điện Sơn La... Các nghị quyết này của Quốc hội đã phát huy hiệu lực, hiệu quả, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo, từng bước nâng cao đời sống của nhân dân.
Trích Bài "Quốc hội Việt Nam với việc bảo đảm và thực hiện quyền con người", Báo Nhân dân ra ngày 28/02/2009
GS, TS NGUYỄN PHÚ TRỌNG
Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội
Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

30 tháng 7, 2008

An sinh xã hội là gì?


An sinh xã hội là gì?
Khái niệm

Để hiểu rõ khái niệm an sinh xã hội (ASXH), cần nhìn lại lịch sử phát triển của nhân loại.

Con người muốn tồn tại và phát triển trước hết phải ăn, mặc, ở... Để thoả mãn nhu cầu tối thiểu này, con người phải lao động làm ra những sản phẩm cần thiết. Của cải xã hội càng nhiều, mức độ thoả mãn nhu cầu càng cao, nghĩa là việc thoả mãn nhu cầu phụ thuộc vào khả năng lao động của con người. Tuy nhiên, trong suốt cuộc đời, không phải khi nào con người cũng có thể lao động tạo ra được thu nhập. Trái lại, có rất nhiều trường hợp khó khăn, bất hạnh, rủi ro xảy ra làm cho con người bị giảm, mất thu nhập hoặc các điều kiện sinh sống khác, chẳng hạn, bị bất ngờ ốm đau, tai nạn, mất người nuôi dưỡng, tuổi già, tử vong... Hơn nữa, cuộc sống của con người trên trái đất phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên và môi trường sống. Những điều kiện thiên nhiên và xã hội không thuận lợi đã làm cho một bộ phận dân cư cần phải có sự giúp đỡ nhất định để bảo đảm cuộc sống bình thường. Do đó, để tồn tại và phát triển, con người đã có nhiều biện pháp khác nhau để khắc phục khó khăn.

Từ xa xưa, trước những khó khăn, rủi ro trong cuộc sống, con người đã tự khắc phục, như câu phương ngôn “tích cốc phòng cơ, tích y phòng hàn”; đồng thời, còn được sự san sẻ, đùm bọc, cưu mang của cộng đồng. Sự tương trợ dần dần được mở rộng và phát triển dưới nhiều hình thức khác nhau. Những yếu tố đoàn kết, hướng thiện đó đã tác động tích cực đến ý thức và công việc xã hội của các Nhà nước dưới các chế độ xã hội khác nhau. Trong quá trình phát triển xã hội, đặc biệt là từ sau cuộc cách mạng công nghiệp, hệ thống ASXH đã có những cơ sở để hình thành và phát triển. Quá trình công nghiệp hoá làm cho đội ngũ người làm công ăn lương tăng lên, cuộc sống của họ phụ thuộc chủ yếu vào thu nhập do lao động làm thuê đem lại. Sự hẫng hụt về tiền lương trong các trường hợp bị ốm đau, tai nạn, rủi ro, bị mất việc làm hoặc khi về già..., đã trở thành mối đe doạ đối với cuộc sống bình thường của những người không có nguồn thu nhập nào khác ngoài tiền lương. Sự bắt buộc phải đối mặt với những nhu cầu thiết yếu hàng ngày đã buộc những người làm công ăn lương tìm cách khắc phục bằng những hành động tương thân, tương ái (lập các quỹ tương tế, các hội đoàn...); đồng thời, đòi hỏi giới chủ và Nhà nước phải có trợ giúp bảo đảm cuộc sống cho họ.

Năm 1850, lần đầu tiên ở Đức, nhiều Bang đã thành lập quỹ ốm đau và yêu cầu công nhân phải đóng góp để dự phòng khi bị giảm thu nhập vì bệnh tật. Từ đó, xuất hiện hình thức bắt buộc đóng góp. Lúc đầu chỉ có giới thợ tham gia, dần dần các hình thức bảo hiểm mở rộng ra cho các trường hợp rủi ro nghề nghiệp, tuổi già và tàn tật. Đến cuối những năm 1880, ASXH (lúc này là BHXH) đã mở ra hướng mới. Sự tham gia là bắt buộc và không chỉ người lao động đóng góp mà giới chủ và Nhà nước cũng phải thực hiện nghĩa vụ của mình (cơ chế ba bên). Tính chất đoàn kết và san sẻ lúc này được thể hiện rõ nét: mọi người, không phân biệt già - trẻ, nam - nữ, người khoẻ - người yếu mà tất cả đều phải tham gia đóng góp.

Mô hình này của Đức đã lan dần ra châu Âu, sau đó sang các nước Mỹ Latin, rồi đến Bắc Mỹ và Canada vào những năm 30 của thế kỷ XX. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, ASXH đã lan rộng sang các nước giành được độc lập ở châu á, châu Phi và vùng Caribê. Ngoài BHXH, các hình thức truyền thống về tương tế, cứu trợ xã hội cũng tiếp tục phát triển để giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn như những người già cô đơn, người tàn tật, trẻ em mồ côi, người goá bụa và những người không may gặp rủi ro vì thiên tai, hoả hoạn... Các dịch vụ xã hội như dịch vụ y tế, dự phòng tai nạn, dự phòng y tế tái thích ứng; dịch vụ đặc biệt cho người tàn tật, người già, bảo vệ trẻ em... được từng bước mở rộng ở các nước theo những điều kiện tổ chức, chính trị, kinh tế - xã hội, tài chính và quản lý khác nhau. Hệ thống ASXH được hình thành và phát triển rất đa dạng dưới nhiều hình thức khác nhau ở từng quốc gia, trong từng giai đoạn lịch sử, trong đó BHXH là trụ cột chính. Đạo luật đầu tiên về ASXH (Social Security) trên thế giới là Đạo luật năm 1935 ở Mỹ.

Đạo luật này quy định thực hiện chế độ bảo vệ tuổi già, chế độ tử tuất, tàn tật và trợ cấp thất nghiệp. Thuật ngữ ASXH được chính thức sử dụng. Đến năm 1941, trong Hiến chương Đại Tây Dương và sau đó Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) chính thức dùng thuật ngữ này trong các công ước quốc tế. ASXH đã được tất cả các nước thừa nhận là một trong những quyền con người. Nội dung của ASXH đã được ghi nhận trong Tuyên ngôn nhân quyền do Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 10/12/1948. Trong bản Tuyên ngôn có viết: "Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của xã hội có quyền hưởng ASXH. Quyền đó đặt cơ sở trên sự thoả mãn các quyền về kinh tế, xã hội và văn hoá cần cho nhân cách và sự tự do phát triển con người...". Ngày 25/6/1952, Hội nghị toàn thể của ILO đã thông qua Công ước số 102, được gọi là Công ước về ASXH (tiêu chuẩn tối thiểu) trên cơ sở tập hợp các chế độ về ASXH đã có trên toàn thế giới thành 9 bộ phận.

Tuy nhiên, cho đến nay, do tính chất phức tạp và đa dạng của ASXH nên vẫn còn nhiều nhận thức khác nhau về vấn đề này. Khái niệm về ASXH cũng còn khá khác biệt giữa các quốc gia.

Theo tiếng Anh, ASXH thường được gọi là Social Security và khi dịch ra tiếng Việt, ngoài ASXH thì thuật ngữ này còn được dịch là bảo đảm xã hội, bảo trợ xã hội, an ninh xã hội, an toàn xã hội… với những ý nghĩa không hoàn toàn tương đồng nhau. Theo nghĩa chung nhất, Social Security là sự đảm bảo thực hiện các quyền của con người được sống trong hòa bình, được tự do làm ăn, cư trú, di chuyển, phát biểu chính kiến trong khuôn khổ luật pháp; được bảo vệ và bình đẳng trước pháp luật; được học tập, được có việc làm, có nhà ở; được đảm bảo thu nhập để thoả mãn những nhu cầu sinh sống thiết yếu khi bị rủi ro, tai nạn, tuổi già…Theo nghĩa này thì tầm “ bao” của Social Security rất lớn và vì vậy khi dịch sang tiếng Việt có nhiều nghĩa như trên cũng là điều dễ hiểu. Theo nghĩa hẹp, Social Security được hiểu là sự bảo đảm thu nhập và một số điều kiện sinh sống thiết yếu khác cho người lao động và gia đình họ khi bị giảm hoặc mất thu nhập do bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm; cho những người già cả, cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, những người nghèo đói và những người bị thiên tai, dịch hoạ…Theo chúng tôi, ASXH mà chúng ta đang nói tới, nên được hiểu theo nghĩa hẹp của khái niệm Social Security này. Bên cạnh khái niệm này, từ những cách tiếp cận khác nhau, một số nhà khoa học đưa ra những khái niệm rộng- hẹp khác nhau về ASXH, chẳng hạn:

- Theo H. Beveridge, nhà kinh tế học và xã hội học người Anh (1879-1963), ASXH là sự bảo đảm về việc làm khi người ta còn sức làm việc và bảo đảm một lợi tức khi người ta không còn sức làm việc nữa.

- Trong Đạo luật về ASXH của Mỹ, ASXH được hiểu khái quát hơn, đó là sự bảo đảm của xã hội, nhằm bảo tồn nhân cách cùng giá trị của cá nhân, đồng thời tạo lập cho con người một đời sống sung mãn và hữu ích để phát triển tài năng đến tột độ.

Để dễ thống nhất, theo chúng tôi nên dùng khái niệm của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đang sử dụng: ASXH là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua một loạt biện pháp công cộng, nhằm chống lại những khó khăn về kinh tế và xã hội do bị ngừng hoặc giảm thu nhập, gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, thương tật, tuổi già và chết; đồng thời đảm bảo các chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con.

Như vậy, về mặt bản chất, ASXH là góp phần đảm bảo thu nhập và đời sống cho các công dân trong xã hội. Phương thức hoạt động là thông qua các biện pháp công cộng. Mục đích là tạo ra sự “an sinh” cho mọi thành viên trong xã hội và vì vậy mang tính xã hội và tính nhân văn sâu sắc.

Các bộ phận của ASXH

Về mặt cấu trúc, trên giác độ khái quát nhất, ASXH gồm những bộ phận cơ bản là:

- Bảo hiểm xã hội.

- Trợ giúp xã hội.

- Trợ cấp gia đình.

- Các quỹ tiết kiệm xã hội.

- Các dịch vụ xã hội khác được tài trợ bằng nguồn vốn công cộng…

Nội dung chi tiết của những bộ phận này của ASXH sẽ được chúng tôi giới thiệu trong các kỳ tới, trong bài này chỉ nêu rất khái quát.

Bảo hiểm xã hội

Đây là bộ phận lớn nhất trong hệ thống ASXH. Có thể nói, không có BHXH thì không thể có một nền ASXH vững mạnh. BHXH ra đời và phát triển từ khi cuộc cách mạng công nghiệp xuất hiện ở châu Âu. BHXH nhằm bảo đảm cuộc sống cho những người công nhân công nghiệp và gia đình họ trước những rủi ro xã hội như ốm đau, tai nạn, mất việc làm..., làm giảm hoặc mất thu nhập. Tuy nhiên, cũng do tính lịch sử và phức tạp của vấn đề, khái niệm BHXH đến nay cũng chưa được hiểu hoàn toàn thống nhất và gần đây có xu hướng hòa nhập giữa BHXH với ASXH. Khi đề cập đến vấn đề chung nhất, người ta dùng khái niệm SOCIAL SECURITY và vẫn dịch là BHXH, nhưng khi đi vào cụ thể từng chế độ thì BHXH được hiểu theo nghĩa của từ SOCIAL INSURANCE. Tuy nhiên, sự hòa nhập này không có nghĩa là hai thuật ngữ này là một. Theo nghĩa hẹp, cụ thể, có thể hiểu BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ mất hoặc giảm khoản thu nhập từ nghề nghiệp do bị mất hoặc giảm khả năng lao động hoặc mất việc làm, thông qua việc hình thành và sử dụng một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia bảo hiểm xã hội, nhằm góp phần bảo đảm an toàn đời sống của người lao động và gia đình họ; đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội.

BHXH có những điểm cơ bản là: BHXH dựa trên nguyên tắc cùng chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia; đòi hỏi tất cả mọi người tham gia phải đóng góp tạo nên một quỹ chung; các thành viên được hưởng chế độ khi họ gặp các “sự cố” và đủ điều kiện để hưởng; chi phí cho các chế độ được chi trả bởi quỹ BHXH; nguồn quỹ được hình thành từ sự đóng góp của những người tham gia, thường là sự chia sẻ giữa chủ sử dụng lao động và người lao động, với một phần tham gia của Nhà nước; đòi hỏi tham gia bắt buộc, trừ những trường hợp ngoại lệ; phần tạm thời chưa sử dụng của Quỹ được đầu tư tăng trưởng, nâng cao mức hưởng cho người thụ hưởng chế độ BHXH; các chế độ được bảo đảm trên cơ sở các đóng góp BHXH, không liên quan đến tài sản của người hưởng BHXH; các mức đóng góp và mức hưởng tỷ lệ với thu nhập trước khi hưởng BHXH…

Trợ giúp xã hội

Đó là sự giúp đỡ của Nhà nước và xã hội về thu nhập và các điều kiện sinh sống thiết yếu khác đối với mọi thành viên của xã hội trong những trường hợp bất hạnh, rủi ro, nghèo đói, không đủ khả năng để tự lo được cuộc sống tối thiểu của bản thân và gia đình.

Trợ giúp xã hội là sự giúp đỡ thêm của cộng đồng và xã hội bằng tiền hoặc bằng các điều kiện và phương tiện thích hợp để đối tượng được giúp đỡ có thể phát huy khả năng tự lo liệu cuộc sống cho mình và gia đình, sớm hòa nhập trở lại với cuộc sống của cộng đồng.

Trợ giúp xã hội có đặc điểm:

- Thuế được dùng để tài trợ cho các chương trình xã hội đa dạng để chi trả trợ cấp.

- Trợ cấp được chi trả khi các điều kiện theo quy định được đáp ứng.

- Thẩm tra tài sản (thu nhập, tài sản và vốn) thường dùng được xác định mức hưởng trợ cấp.

Trợ cấp gia đình

-Trong hệ thống ASXH của nhiều nước quy định chế độ BHXH dựa trên những nhu cầu đặc biệt và có những chi phí bổ sung gắn với gia đình.

- Những phương pháp áp dụng bao gồm việc sử dụng cơ cấu thuế để gắn với trách nhiệm gia đình. Người không có con phải nộp thuế cao hơn những người có con; người ít con phải nộp thuế nhiều hơn người đông con…

Các quỹ tiết kiệm xã hội

Ngoài BHXH, trong hệ thống ASXH của nhiều nước có tổ chức các quỹ tiết kiệm dựa trên đóng góp cá nhân.

- Những đóng góp được tích tụ dùng để chi trả cho các thành viên khi sự cố xảy ra. Đóng góp và khoản sinh lời được chi trả một lần theo những quy định.

- Từng cá nhân nhận khoản đóng góp của mình và khoản sinh lời, không chia sẻ rủi ro cho người khác…

Các dịch vụ xã hội được tài trợ bằng nguồn vốn công cộng

Ở nhiều nước, đặc biệt là ở các nước phát triển, trong hệ thống ASXH có nhiều dạng dịch vụ xã hội, được tài trợ bằng nguồn vốn công cộng (ngân sách Nhà nước), bao gồm:

- Trợ cấp cơ bản cho mọi cư dân, hoặc tất cả những người đã từng làm việc trong một khoảng thời gian nhất định.

- Trợ cấp này không liên quan đến tài sản trước đó của người thụ hưởng; các chế độ được chi trả từ ngân sách Nhà nước.

Trách nhiệm từ chủ sử dụng lao động

- Thường chỉ là hệ thống tai nạn nghề nghiệp hoặc hệ thống đền bù cho người lao động.

- Chủ yếu liên quan đến tai nạn tại nơi làm việc và bệnh nghề nghiệp.

- Trách nhiệm của chủ sử dụng lao động đối với chăm sóc y tế và bồi thường tuỳ theo mức độ tai nạn và bệnh nghề nghiệp.

- Có thể bao gồm một phần để chi trả chế độ cho người lao động trong thời gian ngừng việc (nằm trong chế độ BHXH).

Dịch vụ xã hội khác

- Quy định thêm về ASXH dưới các hình thức khác.

- Khi không có hệ thống ASXH.

- Có thể được thực hiện bởi các tổ chức tự nguyện hoặc phi Chính phủ.

- Bao gồm các dịch vụ đối với người già, người tàn tật, trẻ em, phục hồi chức năng cho người bị tai nạn và tàn tật, các hoạt động phòng chống trong y tế (ví dụ tiêm phòng), kế hoạch hóa gia đình.

TS. Mạc Tiến Anh (Theo tapchibaohiemxahoi.org)

17 tháng 6, 2008

Việt Nam đang hướng tới hệ thống an sinh xã hội năng động, hiệu quả


Việt Nam đang hướng tới hệ thống an sinh xã hội năng động, hiệu quả
Diễn đàn An sinh Xã hội Thế giới lần thứ nhất vừa được tổ chức tại Mátxcơva (Liên bang Nga) từ ngày 10 đến ngày 15 tháng 9 năm 2007. Tham dự, có gần 1300 đại biểu của các tổ chức an sinh xã hội đến từ 129 quốc gia. Hiệp hội An sinh Xã hội Thế giới (ISSA) ra đời năm 1927, được tổ chức tại Brussel với sự tham gia của 17 tổ chức đại diện cho 20 triệu đối tượng từ Bỉ, Tiệp Khắc, Pháp, áo, Đức, Luxembourg, Ba Lan, Thuỵ Sỹ và Anh. Chủ tịch đầu tiên là ông Leo Winter, Phó Chủ tịch thứ nhất của Liên đoàn Toàn quốc các Cơ quan Bảo hiểm ốm đau của Tiệp Khắc (1927-1928).

80 năm qua, từ một tổ chức nhỏ đại diện cho các liên đoàn quốc gia của các quỹ bảo hiểm ốm đau của 9 nước châu Âu, ISSA đã trở thành một đối tác có tầm ảnh hưởng quan trọng và có vị thế lớn trên các diễn đàn và hợp tác quốc tế, đại diện cho hàng triệu đối tượng được bảo hiểm và bảo trợ trong mọi lĩnh vực của hệ thống an sinh xã hội.
Cùng với thời gian, mục tiêu và nội dung của hội nghị quốc tế của hiệp hội (CIMAS) cũng đã được mở rộng, bao gồm cả chế độ bảo hiểm tuổi già, thương tật, tử tuất. ISSA đã chứng tỏ được sự lớn mạnh và hoạt động của mình trong lĩnh vực vận động xã hội và tăng cường kiến thức về tầm quan trọng sống còn của an sinh xã hội trong các nền kinh tế đương đại. ISSA giờ đây đã là tổ chức hàng đầu thế giới chuyên về tập hợp các ý tưởng và kiến thức chuyên môn liên quan đến các vấn đề an sinh xã hội. Hiệp hội thường xuyên xây dựng các diễn đàn quy mô toàn cầu nhằm trao đổi thông tin và những vấn đề liên quan đến an sinh xã hội. ISSA có tầm bao phủ toàn cầu nhờ số lượng thành viên của mình, bao gồm 360 tổ chức, cơ quan an sinh xã hội của 150 nước trên thế giới.
Ngày nay, khái niệm về hệ thống an sinh xã hội được mở rộng. Vai trò của an sinh xã hội không chỉ còn giới hạn trong việc tái phân bổ thu nhập và trợ cấp để đảm bảo nhu cầu cơ bản cho người dân. An sinh xã hội cần phải năng động hơn và chuyển từ tư duy cho rằng an sinh xã hội là phương tiện bảo trợ, là một số khoản trợ cấp xã hội sang nhận thức mới, chủ yếu là hướng vào việc phòng tránh và bảo vệ từng cá nhân trước những rủi ro và sự yếu thế. Phương pháp tiếp cận mang tính đổi mới này được gọi là “Hệ thống an sinh xã hội năng động”, có vai trò không chỉ đơn thuần là phương tiện bồi thường và khắc phục khó khăn cho đối tượng mà là sự đầu tư vào yếu tố con người “vốn con người”.
Mục tiêu chính của hệ thống an sinh xã hội năng động là phát triển dịch vụ xã hội bền vững và dễ tiếp cận hơn, không chỉ chú trọng đến dịch vụ bảo trợ mà còn tăng cường các biện pháp phòng tránh và hỗ trợ hoà nhập việc làm, nhằm xây dựng xã hội hiệu quả về kinh tế, xã hội và hoà nhập cộng đồng tốt hơn.
Diễn đàn An sinh xã hội lần này diễn ra sôi động, mang tính đa chiều, hướng tới hệ thống an sinh xã hội năng động sẽ mở rộng phạm vi, diện bao phủ và cung cấp dịch vụ đồng bộ hơn, hoạt động hiệu quả hơn, giảm được chi phí quản lý và hành chính, áp dụng một cơ chế quản lý chung cho các loại hình dịch vụ, đơn giản hoá thủ tục. Trong các phiên họp, diễn đàn đã thực sự là cơ hội cho mọi đại biểu chia sẻ và trao đổi kiến thức, kinh nghiệm của nhiều quốc gia về những thách thức của hệ thống an sinh xã hội, cùng xây dựng một tầm nhìn chung về sự phát triển, xu hướng và vai trò của hệ thống an sinh xã hội trong bối cảnh chung của nền kinh tế toàn cầu. Tại diễn đàn, các chủ đề chính được các đại biểu nhiều quốc gia quan tâm: Sự phát triển và các xu hướng an sinh xã hội; hỗ trợ một hệ thống an sinh xã hội năng động; áp dụng công nghệ thông tin nhằm thúc đẩy tác động của hệ thống an sinh xã hội; chế độ trợ cấp gia đình; quản lý hành chính; công nghệ thông tin và truyền thông là một công cụ hỗ trợ chuyển đổi; thách thức về bệnh hiểm nghèo, bệnh nghề nghiệp, tai nạn lao động đối với bảo hiểm xã hội; bảo hiểm y tế; thách thức về đầu tư của các quỹ bảo hiểm; bảo hiểm thất nghiệp và quản lý trường hợp nhằm tái hoà nhập việc làm; các giả định về nhân khẩu học và kinh tế được sử dụng trong đánh giá thống kê bảo hiểm đối với chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
Hệ thống an sinh xã hội bền vững thực chất là nhu cầu đối phó với vấn đề già hoá dân số và xu hướng toàn cầu hoá, an sinh xã hội dễ tiếp cận phải mang tính phổ cập với hàm ý mở rộng độ bao phủ dịch vụ, ví dụ như bảo hiểm y tế phải hướng tới toàn dân. Việc thực hiện các chương trình trợ cấp (đối với nước ta chính là trợ cấp xã hội cho các đối tượng khó khăn) là phương án khả thi để mở rộng độ bao phủ các dịch vụ và giảm tỷ lệ người nghèo và nhóm dễ bị tổn thương như nhóm dân cư nghèo khổ, người già cả cô đơn, người tàn tật, trẻ em mồ côi, trẻ bị bỏ rơi không nơi nương tựa, người nhiễm HIV/ AIDS…cải thiện hiệu quả để trợ cấp đầy đủ. Xu hướng chung của hệ thống an sinh xã hội của các quốc gia đều nỗ lực hướng tới cải thiện hiệu quả hoạt động: phương thức mới trong quản lý rủi ro, quản lý và có biện pháp đón đầu đối với những thay đổi và biến động trong xã hội và thị trường lao động; phân bổ nguồn lực hợp lý hơn, đặc biệt trong lĩnh vực y tế, hợp lý hoá chi tiêu cho y tế và tăng cường biện pháp quản lý chất lượng dịch vụ; cải thiện hiệu quả hoạt động và quản lý Nhà nước của các chương trình trợ cấp bảo hiểm xã hội. Hỗ trợ các phương pháp tiếp cận và phòng tránh chủ động. Đây là phương pháp đầu tư vào đối tượng cá thể và từ đó đáp ứng cho cả mục tiêu phát triển nguồn nhân lực như chuyển đổi chương trình bảo hiểm bệnh tật sang bảo hiểm y tế; các chương trình phát triển và xây dựng lối sống lành mạnh, trao quyền cho các đối tượng; xây dựng quan hệ đối tác giữa bên cung cấp dịch vụ và người nhận dịch vụ.
Trong bối cảnh toàn cầu hoá, già hoá dân số, người già ở các nước đang phát triển phải đối mặt với nhiều khó khăn để đảm bảo thu nhập, ổn định cuộc sống. Nguyên nhân của tình trạng này là do những thay đổi về nhân khẩu học, kinh tế và xã hội. Các loại bệnh tật phổ biến, đặc biệt những bệnh hiểm nghèo, bệnh mới, HIV/AIDS và việc di dân cũng như xu hướng đô thị hoá đã tác động tiêu cực đến đời sống của người già vì họ phải chịu gánh nặng chăm sóc trẻ em có bố mẹ đi làm ăn xa hoặc các cháu mồ côi.
Xu hướng chung được nhiều quốc gia xem xét và áp dụng nhằm bảo đảm thu nhập cho người già là cung cấp các loại trợ cấp (hưu trí không đóng góp) cho người già. Tương tự trợ cấp cho người cao tuổi từ 85 tuổi trở lên (không có lương hưu,trợ cấp BHXH ở nước ta), trợ cấp thường xuyên đối với những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn là một xu hướng phản ánh quan điểm chuyển đổi cách tiếp cận về vai trò an sinh xã hội. Đó là chuyển sang phòng tránh chủ động và bảo vệ để cân bằng các nhu cầu khác nhau về phát triển kinh tế, xã hội. Xu hướng này cũng phản ánh một hiện tượng thực tế đó là người già là một trong những nhóm đối tượng dễ bị tổn thương nhất, đặc biệt ở các nước đang phát triển, do những thay đổi về hình thái gia đình, mạng lưới xã hội và người già phải gánh vác thêm nhiều trách nhiệm xã hội và gia đình: Xu hướng này củng cố quan điểm cho rằng việc dành các khoản tiền trợ cấp cho người già, đặc biệt từ nguồn ngân sách Nhà nước là rất cần thiết có thể góp phần cải thiện phúc lợi cho các hộ gia đình và thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương. Xu hướng này cũng ghi nhận một thực tế là sự già hoá dân số là một hiện tượng toàn cầu và ngày càng có nhiều người già đang sinh sống ở các nước chậm phát triển, mà ở đó, diện bao phủ của hệ thống hưu trí dựa vào sự đóng góp còn rất thấp. Xu hướng này cũng phù hợp với mục tiêu chung của thế giới là giảm nghèo đói, khẳng định An sinh xã hội là một quyền của con người.
Thực tế ở nhiều nước, tình trạng thất nghiệp vẫn gia tăng cho dù có nỗ lực xây dựng các chế độ bảo hiểm thất nghiệp với các biện pháp hữu hiệu nhằm giúp người lao động trở lại làm việc. Tại diễn đàn cũng có quan điểm cho rằng bảo hiểm thất nghiệp không chỉ tốn kém mà còn kém hiệu quả- diễn đàn đã dành nhiều thời gian để tranh luận về các quan điểm tán thành và phản đối bảo hiểm thất nghiệp. Không chỉ những nước có nền kinh tế chậm phát triển mà cả những nước có nền kinh tế phát triển vẫn còn một bộ phận lao động thất nghiệp thiếu việc làm, do sự chuyển đổi nền kinh tế, thay đổi kỹ thuật, công nghệ sản xuất, trình độ người lao động không còn phù hợp, doanh nghiệp phải sắp xếp lại nên phải có chính sách hỗ trợ, giúp đỡ, tạo điều kiện cho người lao động ổn định cuộc sống, bớt khó khăn hoặc tham gia các khoá học nghề, nâng cao nghiệp vụ chuyên môn để chuyển nghề mới.
Trong các nước phát triển, bảo hiểm dựa vào cộng đồng đang phát triển, mở rộng phạm vi bao phủ, khả năng chống chọi của mỗi cá nhân từ việc cung cấp dịch vụ bảo vệ sang dịch vụ phòng ngừa, quản lý rủi ro mở rộng phạm vi. Cũng có đại biểu nhận định đối tượng tham gia thị trường lao động có xu hướng giảm, đối tượng hưởng trợ cấp gia tăng. Vì là quyền con người, họ có làm việc hay không làm việc, vấn đề phải có cơ chế, chính sách khuyến khích họ tham gia vào thị trường lao động - Đối với những nước có nền kinh tế chậm phát triển hoặc đang phát triển thì diện bao phủ thấp, không thể thực hiện chế độ bảo hiểm thất nghiệp như những nước có nền kinh tế phát triển. Người lao động muốn nhận được trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp trước hết phải có quan hệ lao động, phải có thời gian tham gia bảo hiểm thất nghiệp, theo nguyên tắc đóng – hưởng, có san sẻ, số đông bù số ít.
Trên thực tế đều có những rủi ro, vấn đề cơ bản là đặt lưới an toàn ở đâu. Xác định lưới an toàn ở đâu là do Chính phủ- thiết kế lưới này thế nào tuỳ thuộc vào nhận thức của cơ quan chức năng để tham mưu cho Chính phủ. Bởi xã hội luôn luôn phát triển, luôn có mặt trái. Thiết kế bảo hiểm thất nghiệp phải tinh vi hơn, quản lý bảo hiểm thất nghiệp sẽ phức tạp hơn, chi phí cao hơn nên phải hướng tới sự hoàn thiện nền kinh tế và thị trường lao động, toàn cầu hoá, phi chính thức, phải phù hợp với cuộc chơi chung, có cách nhìn khác hơn cho bảo hiểm thất nghiệp ở các nước đang phát triển, các nước có điều kiện kinh tế khác nhau. Nhưng sự thống nhất cao là phải làm thế nào để bảo hiểm thất nghiệp mang ý nghĩa bảo vệ nhiều nhất, giảm thiểu chi phí.
Nhiều đại biểu cho rằng bảo hiểm y tế là rất quan trọng, các nước cần thực hiện đúng cam kết quốc tế, từng bước bao phủ đến người dân, mở rộng đến cả người ăn theo của đối tượng. Tuỳ thuộc vào nền kinh tế của mỗi nước, mỗi quốc gia phải xây dựng chiến lược toàn diện thực hiện quyền của người dân, quyền con người. Bảo hiểm y tế đang gặp trở ngại và thách thức lớn – diện bao phủ thấp, đối tượng đóng chưa phải là toàn dân – nguy cơ bệnh hiểm nghèo gia tăng – ngân quỹ không đáp ứng, phải tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân, lấy số đông bù đắp, san sẻ số ít, xác định mức đóng phù hợp mới có khả năng trợ giúp kịp thời cho những người không may bị bệnh hiểm nghèo có cơ hội được cứu chữa. Vấn đề quan trọng là nhận thức của mọi người, phải hướng tới sự tham gia bảo hiểm y tế toàn dân – khắc phục tình trạng khi biết bệnh rồi mới tham gia.
Bệnh nghề nghiệp, thách thức đối với bảo hiểm xã hội. Qua diễn đàn, nhận thức về bệnh nghề nghiệp rất đa dạng, về bản chất, việc định nghĩa bệnh nghề nghiệp là “ thuật ngữ pháp lý” hay “thuật ngữ y học” sẽ tác động đến cách thiết kế chế độ bảo hiểm này. Bệnh nghề nghiệp trở thành một thách thức đối với bảo hiểm xã hội do sự xác định nguyên nhân gây bệnh rất phức tạp, đặc biệt là xác định các yếu tố liên quan đến công việc và không liên quan đến công việc. Khó khăn trong xác định nguyên nhân dẫn đến khó khăn trong việc phòng chống và bảo hiểm. Qua diễn đàn, đại biểu nhiều nước cùng đi đến thống nhất về những thách thức: khó khăn trong công tác báo cáo và thống kê bệnh nghề nghiệp, đặc biệt là những bệnh có thời gian ủ bệnh lâu. Vấn đề này phức tạp ở chỗ có nhiều căn bệnh mới hoặc đang xuất hiện, khó có thể xác định là do điều kiện làm việc gây ra như bệnh rối loạn thần kinh; thách thức thứ hai là mở rộng diện bao phủ của bảo hiểm bệnh nghề nghiệp và tai nạn lao động trong khu vực phi chính thức, mở rộng cơ hội tiếp cận hệ thống kiểm tra sức khoẻ, khám bệnh nghề nghiệp và bồi thường thương tật.
Thông qua Diễn đàn An sinh Xã hội Thế giới lần này cũng giúp cho Việt Nam có thêm kinh nghiệm để hướng tới xây dựng hệ thống an sinh xã hội năng động, hiệu quả hơn, góp phần vào công cuộc giảm nghèo bền vững. Do nhiều nguyên nhân nên Việt Nam chưa tham gia Hiệp hội An sinh Xã hội Thế giới, nhưng những gì mà Chính phủ và nhân dân Việt Nam đã và đang thực hiện trong nhiều thập kỷ qua đều hàm chứa nội dung cơ bản của hệ thống an sinh xã hội bao gồm: Các hoạt động phòng ngừa rủi ro, phát triển hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp…cả về chiều rộng và chiều sâu, tăng cường mức độ bao phủ, cải thiện chất lượng dịch vụ, từng bước mở thêm các hình thức bảo hiểm nhằm bảo đảm an toàn cho người lao động, phòng ngừa rủi ro. An sinh xã hội có mối quan hệ chặt chẽ với phát triển bền vững của nền kinh tế, an sinh xã hội cũng nhằm phát triển các thế hệ tương lai, thúc đẩy dân chủ, nhân quyền. An sinh xã hội tốt sẽ thúc đẩy thực hiện các quyền cơ bản của con người. Các hoạt động trợ giúp thường xuyên sẽ bảo đảm từng bước được mở rộng đối tượng bao phủ mà quan niệm của các nước là chương trình trợ cấp “không đóng góp, hưu trí không đóng góp” nhưng vẫn tập trung cho những đối tượng khó khăn nhất, bảo đảm công bằng trong các chính sách hỗ trợ, không để sót đối tượng nhằm đảm bảo cho mọi thành viên trong xã hội được bảo vệ về cuộc sống. Đa dạng hoá và linh hoạt trong các hình thức hỗ trợ- đáp ứng tốt hơn nhu cầu của đối tượng trên cơ sở mở rộng sự tham gia của các đối tượng vào các hoạt động trợ giúp. Các hoạt động trợ giúp đột xuất bảo đảm đến đúng đối tượng, đến kịp thời và đáp ứng nhu cầu của đối tượng. Linh hoạt trong hoạt động cứu trợ và huy động được sự tham gia rộng rãi của cộng đồng nhưng trách nhiệm chính vẫn thuộc về Nhà nước.
Như vậy, hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam ngoài tuân thủ nguyên tắc đóng và hưởng còn có trách nhiệm của Nhà nước cùng cộng đồng xã hội đối với người dân- những người có hoàn cảnh khó khăn không trực tiếp tham gia các hình thức bảo hiểm, bảo đảm an toàn cho mọi thành viên trong xã hội, bền vững về tài chính. Kết hợp giữa phòng ngừa rủi ro có hiệu quả với giảm thiểu và khắc phục rủi ro. Tạo môi trường để khu vực phi chính thức tham gia vào quá trình cung cấp các dịch vụ của an sinh xã hội. Hướng tới bảo đảm công bằng và ổn định xã hội tạo môi trường cho phát triển bền vững. Đầu tư cho an sinh xã hội là đầu tư cho con người, phát triển vốn con người. An sinh xã hội có vai trò quan trọng trong cuộc chiến chống đói nghèo, bần cùng hoá.
So với lịch sử 80 năm của hệ thống an sinh xã hội thế giới, hệ thống an sinh xã hội Việt Nam còn non trẻ, đang tích cực học tập, kế thừa và phát huy những mặt tốt, tiến bộ của các nước phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của Việt Nam, hướng tới một hệ thống an sinh xã hội năng động, hiệu quả, phòng ngừa được những biến cố, rủi ro, đóng góp tích cực vào cuộc chiến chống đói nghèo để nhân dân có cuộc sống tốt đẹp hơn.
TS. Đàm Hữu Đắc
Thứ trưởng Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội

HỘI THẢO "HỆ THỐNG AN SINH XÃ HỘI VIỆT NAM"


HỘI THẢO "HỆ THỐNG AN SINH XÃ HỘI VIỆT NAM"

Vừa qua, tại Hà Nội, Bộ Lao động, Thương Binh và Xã hội, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, Chương trình phát triển của Liên hợp quốc đã tổ chức Hội thảo "Hệ thống an sinh xã hội Việt Nam". Tới dự có các đồng chí: Nguyễn Thị Hằng, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội; Đỗ Hoài Nam, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Viện Khoa học Xã hội Việt Nam; đại diện của Chương trình phát triển của Liên hợp quốc; đại biểu đại diện các bộ, ngành trung ương, các tổ chức quốc tế.

Các bản tham luận trình bày trong Hội thảo tập trung đề cập một số vấn đề cơ bản sau:

1. Hệ thống an sinh xã hội là gì? Trên thế giới quan niệm về "an sinh xã hội "được hiểu không thống nhất. Theo quan niệm của Tổ chức lao động quốc tế (ILO), an sinh xã hội là sự bảo vệ mà xã hội cung cấp cho các thành viên của mình thông qua một số biện pháp được áp dụng rộng rãi để đương đầu với những khó khăn, các cú sốc về kinh tế và xã hội làm mất hoặc suy giảm nghiêm trọng nguồn thu nhập do ốm đau, thai sản, thương tật do lao động, mất sức lao động hoặc tử vong. Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) quan niệm an sinh xã hội rất rộng bao gồm: trợ giúp xã hội, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, các chương trình giảm nghèo, các chương trình thị trường lao động. Ấn Độ quan niệm vấn đề cốt lõi của an sinh xã hội là phòng ngừa và giảm nghèo, cung cấp mức sống tối thiểu cho người dân... Tuy nội hàm của an sinh xã hội có thể hiểu khác nhau, song các quan niệm đều thống nhất với nhau ở một điểm là an sinh xã hội mang tính hệ thống, bao gồm những chính sách để phòng ngừa, giảm thiểu, trợ giúp, bảo vệ những người gặp rủi ro, gồm có 4 trụ cột chính như: hệ thống chính sách và các chương trình về thị trường lao động tích cực; hệ thống chính sách bảo hiểm xã hội; hệ thống chính sách trợ giúp xã hội; hệ thống lưới an toàn xã hội.

2. Vai trò của hệ thống an sinh xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nền kinh tế Việt Nam đang chuyển đổi, hướng tới nền kinh tế thị trường và hội nhập đòi hỏi an sinh xã hội cũng phải chuyển đổi cho phù hợp với nguyên tắc mà nền kinh tế đang vận hành. An sinh xã hội trong nền kinh tế kế hoạch hoá mang tính chất "bảo đảm xã hội" nhiều hơn, phù hợp với tính "bao cấp" trong kinh tế, chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước. An sinh xã hội trong nền kinh tế thị trường đa dạng hơn về nguồn lực, về cơ chế quản lý. Bài học từ khủng khoảng kinh tế một số nước châu Á năm 1997, kinh nghiệm của Trung Quốc và một số nước có nền kinh tế chuyển đổi sau khi gia nhập WTO cho thấy nếu có hệ thống an sinh xã hội hữu hiệu sẽ giúp tránh được những cú "sốc" về kinh tế, giảm thiểu hoặc không để xảy ra xáo trộn về mặt chính trị, xã hội. Có hệ thống an sinh xã hội hữu hiệu thì quá trình chuyển đổi và hội nhập sẽ "an toàn" và bớt rủi ro hơn.

3. Về an sinh xã hội ở nước ta bao gồm: bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, trợ giúp xã hội, trợ giúp khẩn cấp, chính sách đối với người có công, bảo hiểm thất nghiệp và những vấn đề liên quan đến bảo hiểm thất nghiệp. Chính sách đối với người có công là một điểm khác biệt so với hệ thống an sinh xã hội trên thế giới, nó thể hiện truyền thống đạo lý "Uống nước nhớ nguồn" của dân tộc. Nhà nước ta chi trên 4000 tỉ đồng năm 2004, trên 5.000 tỉ đồng năm 2005 cho 8 triệu người là đối tượng chính sách, người có công, trong đó khoảng 1,5 triệu người hưởng trợ cấp hằng tháng. Ở đây có sự khác nhau giữa an sinh xã hội với xóa đói giảm nghèo. Vai trò cốt lõi của an sinh xã hội là bảo vệ tất cả các thành viên xã hội khỏi những rủi ro về kinh tế, bảo đảm an toàn cuộc sống. Còn vai trò của xóa đói giảm nghèo là cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ sản xuất, dịch vụ xã hội, nâng cao năng lực, giảm thiểu rủi ro cho một số thành viên xã hội thoát nghèo, vươn lên làm giàu. Bảo hiểm xã hội với hai hình thức bắt buộc và tự nguyện với 5 chế độ (ốm đau, thai sản, bệnh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất), bảo hiểm tự nguyện của nông dân và các hình thức bảo hiểm tuổi già khác. Bảo hiểm y tế với hai hình thức bắt buộc và tự nguyện, bảo hiểm y tế cho đối tượng chính sách là người có công, đặc biệt khó khăn, người nghèo... Nước ta đã có các cấu phần của một hệ thống an sinh xã hội, nhưng vẫn còn nhiều việc phải làm để có một hệ thống an sinh xã hội hoàn chỉnh và hữu hiệu. Đây là yêu cầu vừa cấp bách vừa lâu dài trong quá trình Việt Nam đổi mới và hội nhập.
Nguồn:Tapchicongsan

PHÁC THẢO LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ BỨC TRANH TOÀN CỤC HỆ THỐNG AN SINH XÃ HỘI VIỆT NAM


PHÁC THẢO LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ BỨC TRANH TOÀN CỤC HỆ THỐNG AN SINH XÃ HỘI VIỆT NAM
NGUYỄN TIẾN HÙNG (Bài tham luận tại Hội thảo "Hoàn thiện chính sách tài chính đảm bảo an sinh xã hội" tổ chức tại Học Viện Tài chính - Phân viện TP.HCM tháng 8/2002)

Việc nghiên cứu hoàn thiện các chế độ BHXH nói riêng, các đảm bảo xã hội nói chung phải dựa trên 2 xuất phát điểm: một là, phải xây dựng hệ thống cơ sở lý luận làm hệ qui chiếu cho đối tượng nghiên cứu và mục tiêu hướng tới cho giải pháp hoàn thiện; hai là, mô tả được thực trạng của đối tượng cần hoàn thiện. Trong phạm vi bài viết này, tác giả không có ý định xây dụng chuẩn mực lý thuyết về ASXH, BHXH, cũng không có tham vọng mô tả chi tiết, đầy đủ về hệ thống ASXH, BHXH ở Việt Nam, chỉ hy vọng phác thảo những nét chính trong bức tranh toàn cục về hệ thống đó ở Việt Nam mà thôi.

HỆ THỐNG BẢO HIỂM XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
Ở nước ta, ngay sau khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhà nước đã ban hành nhiều sắc lệnh nhằm thực hiện BHXH:

• Sắc lệnh số 54/SL ngày 1/11/1945 ấn định những điều kiện cho công chức về hưu;

• Sắc lệnh 105/SL ngày 14/6/1946 ấn định việc cấp hưu bổng cho công chức;

• Sắc lệnh 76/SL ngày 20/5/1950 ấn định cụ thể hơn các chế độ trợ cấp hưu trí, thai sản, chăm sóc y tế, tai nạn, tiền tuất đối với công chức;

• Sắc lệnh 29/SL ngày 12/3/1947 và Sắc lệnh 77/SL ngày 22/5/1950 ấn định các chế độ trợ cấp ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, hưu trí, tử tuất đối với công nhân sản xuất.

Những văn bản trên cho thấy nhà nước ta đã sớm có nhận thức và sớm thực hiện BHXH theo hình thức hiện đại so với nhiều nước trên thế giới và khu vực, sớm chứng tỏ là một nhà nước tiên tiến của giai cấp công nhân và người lao động.

Tuy nhiên, phải đến năm 1961, chế độ BHXH đối với công nhân, viên chức nhà nước mới thực sự thực hiện trên cơ sở thành lập Quiõ BHXH thống nhất toàn quốc (riêng thời kỳ 61-75: toàn miền Bắc) sau khi Chính phủ ban hành Điều lệ tạm thời về các chế độ BHXH kèm theo Nghị định số 218/CP ngày 27/11/1961 với 6 loại trợ cấp (ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, mất sức lao động, hưu trí và tử tuất). Quiõ BHXH, lúc này, là quiõ độc lập thuộc ngân sách nhà nước (NSNN) nhưng nguồn thu chủ yếu từ sự tài trợ của NSNN, tiếp đến là sự đóng góp từ các cơ quan và xí nghiệp quốc doanh theo % trên tổng quiõ lương (từ 1962 đến 1987: 4,7%, từ 1987 đến 1993: 15%) còn công nhân và viên chức không cần đóng phí BHXH. Việc quản lý BHXH được giao cho Bộ lao động, Thương binh và Xã hội và Tổng công đoàn Việt Nam (nay là Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam) đảm trách. Đối với khu vực ngoài quốc doanh, Điều lệ BHXH đối với xã viên hợp tác xã các tổ hợp sản xuất tiểu thủ công nghiệp cũng được ban hành (Quyết định 292/BCH-LĐ ngày 15/2/82 của LHX trung ương) nhưng chỉ được thực hiện trong thời gian ngắn ngủi, từ năm 1982 đến năm 1989.

Kể từ sau Đại hội VII của Đảng công cuộc đổi mới đất nước đi vào chiều sâu, trong đó việc đổi mới BHXH để phù hợp với điều kiện kinh tế -xã hội mới là một yêu cầu bức bách nhằm thực hiện các chính sách xã hội. Việc đổi mới được đánh dấu bằng việc tách với một bộ phận cấu thành của BHXH - chế độ chăm sóc y tế khi ốm đau cho người lao động thành một quiõ độc lập: Bảo hiểm y tế (Nghị định 299/HĐBT) ngày 15-8-1992 ban hành Điều lệ Bảo hiểm y tế) với việc qui định không chỉ người sử dụng lao động mà cả người lao động cũng phải tham gia đóng phí. Tiếp theo đó, ngày 22 tháng 6 năm 1993, Chính phủ lại ban hành Nghị định 43/CP qui định tạm thời chế độ BHXH mở đầu cho cuộc cải cách sâu rộng, toàn diện BHXH chằm vào mục đích xóa sự bao cấp của NSNN đối với BHXH, mở rộng diện bắt buộc không chỉ đối với công nhân, viên chức nhà nước như trước đây mà đối với tất cả người lao động hưởng lương, qui định lại nguồn thu chi, cơ cấu nguồn thu dùng cho mỗi loại chế độ…

Việc cải cách thực sự đi vào thực tiễn khi hàng loạt các văn bản pháp qui được ban hành từ năm 1995:

• Nghị định 12/CP ngày 26/01/1995 của Chính phủ về việc ban hành Điều lệ BHXH;

• Nghị định số 19/CP ngày 16/02/1995 của Chính phủ về việc thành lập BHXH Việt Nam;

• Quyết định số 606/ Ttg ngày 26/09/1995 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Qui chế tổ chức và hoạt động của BHXH Việt Nam;

• Nghị định số 93/1998/NĐ – CP ngày 12/11/1998 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Điều lệ BHXH (ban hành kèm theo Nghị định số 12/CP ngày 26/01/1995 của Chính phủ) Như đã nêu trên, việc áp dụng BHXH trên của quốc gia khác nhau thường cùng rất khác nhau về nội dung thực hiện tùy thuộc vào nhu cầu bức bách của riêng từng nơi trong việc đảm bảo cuộc sống của người lao động, ngoài ra, còn tùy thuộc vào khả năng tài chính và khả năng quản lí có thể đáp ứng. Có nước quan tâm thực hiện các chế độ đảm bảo cho các rủi ro dễ xảy ra trước mắt như chế độ trợ cấp ốm đau, tai nạn lao động, thai sản, các nước khác lại quan tâm đến các chế độ đảm bảo cho tuổi già, tuổi hưu trí, cho cái chết. Tuy nhiên, xu hướng chung là theo đà phát triển kinh tế-xã hội, phù hợp với đặc điểm của từng nơi, bảo hiểm sẽ mở rộng dần về số lượng và nội dung thực hiện của từng chế độ. Hiện nay nội dung thực hiện BHXH ở Việt Nam theo qui định tại chương XII Bộ LUậT lao động (được Quốc hội thông qua ngày 23/06/1994) bao gồm 5 chế độ sau: Chế độ ốm đau; Chế độ trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; Chế độ trợ cấp thai sản; Chế độ hưu trí; Chế độ tiền tử. Ngoài ra, người lao động còn được hưởng chế độ chăm sóc y tế (khám và chữa bệnh) theo Điều lệ bảo hiểm y tế. Và đặc biệt là kể từ ngày 21/03/2001, người lao động tham gia BHXH còn được hưởng chế độ trợ cấp nghỉ dưỡng sức (Quyết định số 37/2001/QĐ–TTg của Thủ tướng Chính phủ).

Việc thực hiện BHXH được tiến hành theo 2 hình thức: bảo hiểm bắt buộc và tự nguyện áp dụng cho 2 nhóm đối tượng khác nhau: người lao động làm công ăn lương và nhóm người lao động tự do (không có người sử dụng lao động ổn định). Như vậy, hiện nay căn cứ vào những gì đang diễn ra ở Việt Nam thì BHXH là một chế định pháp lý nhằm bảo vệ người lao động bằng cách thông qua việc tập trung nguồn tài chính được huy động từ người lao động, người sử dụng lao động, cộng với sự hỗ trợ của nhà nước, thực hiện việc trợ cấp vật chất, góp phần ổn định đời sống cho người tham gia BHXH và gia đình họ trong các trường hợp người lao động tham gia BHXH bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động theo luật định hoặc chết làm họ hoặc gia đình mất hoặc giảm thu nhập bất ngờ.

Ở nước ta, mặc dù đến những năm gần đây, nội dung các chế độ và phương thức quản lí thực hiện mới được đổi mới theo xu thế hiện đại, phù hợp với nền kinh tế thị trường đang được xây dựng, nhưng nếu tính từ 1945 đến nay, chúng ta đã áp dụng hầu hết các chế độ trợ cấp đã nêu ở trên chứng tỏ nội dung cơ bản của BHXH đã được nhận thức và dược áp dụng ở Việt Nam.

HỆ THỐNG AN SINH XÃ HỘI VIỆT NAM
Ngoài việc sớm thực hiện các chế độ trợ cấp thuộc cơ chế BHXH, nước ta cũng đã sớm thực hiện nhiều cơ chế khác thuộc hệ thống ASXH.

Cứu trợ xã hội

Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thường xuyên có thiên tai (bão tố, lũ lụt, …), hơn nữa, liên miên trải qua chiến tranh chống xâm lược, vì vậy một bộ phận không nhỏ người dân luôn sống trong tình trạng nghèo túng, khó khăn. Tinh thần tương thân tương ái của dân tộc Việt Nam sớm nảy nở và phát huy cao độ.

Năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã phá kho thóc bị Nhật chiếm đóng, chia cho người người, ngăn chặn nạn đói đã làm hơn 2 triệu người chết. Sau khi thành lập Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hồ Chủ tịch đã xác định rõ phải chống 3 loại giặc, trong đó có giặc đói, phát động nhường cơm sẻ áo, lập “hũ gạo tiết kiệm” trợ giúp những người nghèo khó. Trong cải cách ruộng đất, người nghèo, tàn tật, neo đơn được chia ruộng, giảm tô. Tháng 11/1954, Hội đồng chính phủ (HĐCP) lập Ban Cứu tế xã hội ở trung ương và địa phương. Tháng 8/1965, HĐCP ban hành Thông tư 157/CP về cứu trợ đột xuất; tháng 11/1966, ban hành Thông tư 202/CP về chính sách đối với người già không nơi nương tựa, trẻ mồ côi, người tàn tật. Tháng 9/1985, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định 236/HĐBT qui định lại chế độ cứu trợ thường xuyên và chế độ nuôi dưỡng các đối tượng cứu trợ xã hội ở các cơ sở tập trung.

Từ khi thực hiện đổi mới kinh tế theo cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nhà nước ta càng quan tâm thực hiện các chính sách cứu trợ, bảo trợ xã hội đối với những người nghèo khó, tàn tật. Cụ thể, nhiều văn bản được ban hành và triển khai thực hiện, đặc biệt là từ năm 1995 đến nay:

• Chính sách cứu trợ đối với trẻ mồ côi, người già không nơi nương tựa: bao gồm trợ cấp thường xuyên và trợ cấp đột xuất;

• Chính sách đối với người nghèo, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số: Thành lập Ngân hàng phục vụ người nghèo, Thành lập tổ chức trợ giúp pháp lý cho người nghèo, quan tâm đến người lao động nghèo trong quá trình chuyển đổi DNNN thành công ti cổ phần, Thành lập Ban chủ nhiệm chương trình mục tiêu XĐGN, Thành lập Ban chỉ đạo thực hiện chương trình phát triển kinh tế – xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa;

• Chính sách đối với người tàn tật: Ban hành pháp lệnh người tàn tật, Khuyến khích thành lập và hỗ trợ Hội bảo trợ người tàn tật (Hội người mù,…);

• Chính sách đối với nạn nhân chất độc da cam: Thành lập quiõ bảo trợ nạn nhân chất độc da cam, …

• Chính sách cứu trợ xã hội đối với công chức nhà nuớc, người hưởng lương trong lực lượng vũ trang qua hình thức trợ cấp khó khăn đột xuất và thường xuyên.

Bên cạnh việc hàng năm bỏ ra nhiều tỷ đồng NSNN từ cấp trung ương đến địa phương để trợ cấp khó khăn, làm công tác cứu trợ, bảo trợ người nghèo, khó khăn, tàn tật, nhà nuớc đã tạo cơ chế để mở rộng sự trợ giúp từ cộng đồng: ban hành qui chế tổ chức và hoạt động của quiõ xã hội, quiõ từ thiện, phát động phong trào tình nguyện (Nhà tình thương, Vì đàn em, …) đã thu hút được sự đóng góp của rất nhiều người từ tiền của đến công sức. Đặc biệt trong thời gian gần đây, nguồn nhân tài vật lực đóng góp cho cứu trợ xã hội không chỉ được đóng góp từ trong nước mà còn đến từ kiều bào Việt Nam ở nước ngoài và cả kiều bào nước ngoài.

Chăm sóc y tế

Ở nước ta, việc chăm sóc y tế được thực hiện theo cách khác nhau qua ba giai đoạn:

• Giai đoạn từ năm 1961 đến 1992: Điều lệ tạm thời về các chế độ BHXH năm 1961 coi việc chăm sóc y tế cùng với chế độ trợ cấp ốm đau là một chế độ quan trọng hàng đầu của BHXH. Cụ thể như sau:

- Đảm bảo chăm sóc y tế cho công nhân, viên chức nhà nước;

- Đảm bảo cho cả trường hợp ốm đau, tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp, mang thai và sinh đẻ;

- Thực hiện chăm sóc y tế miễn phí tức toàn bộ do nhà nước đài thọ (cung cấp dịch vụ khám, điều trị, tiền thuốc men, bồi dưỡng, phí tổn tàu xe đi lại khám – chữa bệnh, …). Tuy nhiên, có sự phân biệt nơi khám và điều trị theo nhóm mức lương, nhóm cán bộ, công nhân, nhân viên.

• Giai đoạn từ năm 1992 đến 2002: Ngày 15/08/1992, Nghị định 299/ HĐBT ban hành Điều lệ Bảo hiểm y tế và chính thức tách Bảo hiểm y tế ra hệ thống BHXH đặt dưới sự quản lý của Bộ Y tế. Hệ thống cơ quan bảo hiểm y tế được thành lập từ trung ương đến địa phương. Các nét chính của chế độ chăm sóc y tế giai đoạn này là:

- Đảm bảo chăm sóc y tế theo chế độ bắt buộc không chỉ đối với công nhân, viên chức nhà nước mà còn mở rộng ra đối với mọi người lao động ăn lương;

- Đảm bảo chăm sóc y tế trong trường hợp người lao động tham gia bảo hiểm y tế bị ốm đau, thai sản, không đảm bảo chăm sóc y tế trong trường hợp tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp (Điều này là điểm khác so với giai đoạn trước và khác với Công ước 102) , không đảm bảo chăm sóc y tế đối với những bệnh xã hội , bệnh tật bẩm sinh, điều dưỡng, an dưỡng, chỉnh hình, phục hồi chức năng, tạo hình thẩm mỹ, làm chân giả – tay giả – mắt giả, dịch vụ kế hoạch hóa gia đình, dịch vụ bảo vệ sức khỏe đặc biệt, dịch vụ y tế tự chọn, khám chữa bệnh ở nước ngoài, tai nạn chiến tranh, thiên tai;

- Nguồn tài chính đảm bảo cho chăm sóc y tế được huy động từ người lao động (1% tiền lương) và người sử dụng lao động (2% quiõ lương) không có sự hỗ trợ của nhà nước. Mặc dù cơ quan bảo hiểm y tế trực thuộc Bộ Y tế nhưng việc chăm sóc y tế vẫn theo mô hình gián tiếp qua việc ký hợp đồng khám chữa bệnh giữa Bảo hiểm y tế và cơ sở y tế.

• Giai đoạn hiện nay: Bắt đầu thực hiện chủ trương chuyển Bảo hiểm y tế sang quản lý chung với BHXH vì các lý do sau:

- Đối tượng quản lý của BHXH và Bảo hiểm y tế là tương đồng (loại áp dụng chế độ bắt buộc), việc sát nhập làm cho việc quản lý thuận lợi hơn, vừa tiết kiệm, vừa đảm bảo phục vụ tốt hơn cho người được bảo hiểm;

- Dù trước đây, Bảo hiểm y tế trực thuộc Bộ Y tế nhưng việc chăm sóc y tế vẫn là theo mô hình gián tiếp. Về lâu dài, dù muốn chắc chắn nước ta cũng chưa có thể áp dụng mô hình trực tiếp chăm sóc y tế, nên việc chuyển về BHXH một mặt, vẫn giữ nguyên mô hình gián tiếp; mặt khác, vai trò, trách nhiệm một người quản lý quiõ tiền sẽ dễ phát huy hơn trong việc tổ chức thu – chi, giám sát việc cung cấp dịch vụ chăm sóc y tế của cơ sở y tế, đầu tư và phát triển quiõ, …

Ưu đãi xã hội

Cơ chế ưu đãi xã hội là nét riêng có trong hệ thống ASXH Việt Nam. Cơ chế này nhằm đảm bảo cho 2 nhóm người chủ yếu như sau:

Nhóm những người đã có công sức đóng góp cho vận mệnh của đất nước, công cuộc cách mạng của dân tộc bao gồm: những người đã gắn bó cả cuộc đời của mình với sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp của cộng đồng; những người gặp rủi ro trong quá trình hoạt động cho sư nghiệp chung của cộng đồng. Phần lớn những người thuộc nhóm này thường bị suy giảm, mất khả năng lao động, khả năng cầu tiến trong điều kiện cạnh tranh của thị trường trong khi sự đóng góp của họ là vô giá (tính mạng, thân thể, gia sản, …). Việc ưu đãi đặc biệt những người này so với những người lao động bình thường kể cả những người lao động bất hạnh khác là phù hợp với truyền thống lâu đời của dân tộc: uống nước nhớ nguồn. Các chính sách đãi ngộ nhóm người này gồm có:

• Chính sách ưu đãi đối với thương binh, bệnh binh, những người tham gia kháng chiến và con đẻ của họ bị nhiễm chất độc da cam;

• Chính sách ưu đãi đối với gia đình liệt sỹ, gia đình có công giúp đỡ Cách mạng.

Sau khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp, năm 1946, Hồ Chủ tịch đã kêu gọi thành lập Hội Binh sĩ bị thương, khởi xướng phong trào “Mùa đông binh sĩ”, luôn quan tâm thăm hỏi, động viên thương binh, gia đình liệt sĩ, … Sắc lệnh 20/SL ngày 18/02/1947 ban hành chính sách đối với thương binh, gia đình liệt sĩ qui định những khoản BHXH đặc biệt như: hưu bổng, thương tật, tử tuất. Sắc lệnh 77/SL ngày 22/05/1950 đều có những chính sách bảo đảm cho công nhân viên ngành quân giới bị thương được hưởng quyền lợi giống như quân nhân và quyền lợi ưu tiên như đối với thương binh. Tháng 05/1954, Ủy ban kháng chiến hành chính Nam bộ có văn bản qui định cho nhân viên, cán bộ dân chính, công an dân quân hoặc thường dân tham gia dân công, tham gia chiến đấu mà bị thương thì cũng coi là thương binh.

Sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, chính sách ưu đãi đối với người có công được tiếp tục bổ sung, đổi mới: xác định khái niệm thương binh và người hưởng chính sách như thương binh, qui định chế độ trợ cấp thương tật, chế độ đối với thương binh ở trại, chế độ miễn, giảm tiền tàu xe, ưu tiên sắp xếp việc làm, xác định khái niệm “liệt sĩ”thay cho “tử sĩ”, trợ cấp tử tuất cho gia đình liệt sĩ, chính sách trợ giúp thương binh, gia đình liệt sĩ trong hoạt động hợp tác xã nông nghiệp. Nghị định 161/CP ngày 30/10/1964 của Chính phủ ban hành Điều lệ tạm thời về chế độ đãi ngộ đối với quân nhân, thanh niên xung phong, quân dân du kích, tự vệ, quân nhân dự bị, sửa đổi chế độ phụ cấp thương tật, trợ cấp tử tuất. Chính sách ưu đãi đối với người có công tiếp tục được mở rộng trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ đối với mọi đối tượng trực tiếp tham gia chiến đấu hoặc phục vụ chiến đấu mà bị thương tật, hy sinh như: thanh niên xung phong, dân công thời chiến, lực lượng vận tải nhân dân, lao động nghĩa vụ, cán bộ y tế xã, hợp tác xã, khối phố, …

Sau giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, rồi cuộc chiến biên giới phía Bắc, biên giới Tây Nam, chiến tranh tình nguyện ở Campuchia xảy ra, công việc xác định liệt sỹ, tìm kiếm, qui tập hài cốt, xây dựng nghĩa trang liệt sỹ, xác nhận thương binh, thống nhất chính sách đối với người có công và gia đình có công được làm hàng ngày, hàng giờ liên tục từ đó đến nay. Ngoài những chính sách hỗ trợ trực tiếp (trợ cấp), trong thời kỳ này, nhà nước ta cũng đã qui định nhiều chính sách ưu tiên trong các hoạt động kinh tế đối với người và gia đình có công. Năm 1994, Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sỹ và gia đình liệt sỹ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng và Pháp lệnh qui định danh hiệu danh dự nhà nước Bà Mẹ Việt Nam anh hùng được công bố đã hoàn thiện chính sách ưu đãi xã hội về nhiều mặt đối với người có công với cách mạng.

Nhóm những người đã và sẽ cung cấp sức lao động quiù báu cho nền kinh tế-xã hội bao gồm những người già đã có quá trình làm việc, lao động lâu năm, cống hiến sức lao động cho xã hội, những bà mẹ có công sinh nở, nuôi nấng con trẻ và trẻ em – nguồn sức lao động cho sự phát triển kinh tế-xã hội trong tương lai lâu dài. Các chính sách đãi ngộ nhóm người này ở Việt Nam gồm có:

• Chính sách đối với người cao tuổi (Pháp lệnh người cao tuổi);

• Chính sách đối với bà mẹ và trẻ em.

Nguồn tài chính để tạo quiõ ưu đãi xã hội đối với những người này trước tiên là NSNN, tiếp đó là sự đóng góp của toàn cộng đồng đầy tính nhân văn qua các phong trào, hoạt động “đền ơn đáp nghĩa”, phong trào tình nguyện đã và đang diễn dưới nhiều hình thức da dạng và hiệu quả, thiết thực ở khắp mọi miền đất nước.

Dịch vụ xã hội

Dịch vụ xã hội và trợ cấp (bằng tiền) ASXH (trợ cấp BHXH, bảo hiểm y tế, ưu đãi xã hội, …) là 2 mặt của cùng một hành động bảo vệ an toàn cho xã hội nói chung và cho người lao động nói riêng. Sẽ không thể có hiệu quả tích cực dù tiền trợ cấp có cao đến đâu mà dịch vụ nghèo nàn không đáp ứng nhu cầu của người lao động. Dịch vụ xã hội có thể bao gồm những dịch vụ y tế, phòng ngừa y tế (vệ sinh phòng dịch, y tế dự phòng, …), phòng ngừa tai nạn, dịch vụ đối với người tàn tật (phục hồi chức năng, cung cấp bộ phận giả, …), dịch vụ kế hoạch hóa gia đình, thực hiện tái thích ứng nghề, … Tùy thuộc vào sự phát triển của kinh tế cũng như nhu cầu của xã hội trong từng thời kỳ mà dịch vụ xã hội phát triển ở những loại nào nhưng hầu như quốc gia nào cũng quan tâm đến việc cung cấp dịch vụ y tế để đảm bảo cho rủi ro ốm đau lên hàng đầu.

Việc tổ chức và phát triển hệ thống dịch vụ xã hội trước tiên phải dựa vào sự đầu tư từ NSNN đặc biệt cho cơ sở hạ tầng kỹ thuật và đào tạo cán bộ y tế. Tuy nhiên, nhà nước có thể thu hồi khoản đầu tư này khi sử dụng mạng lưới chăm sóc y tế không chỉ cho những người lao động được bảo hiểm y tế, BHXH trợ cấp mà còn còn cung cấp dịch vụ cho rộng rãi người dân trong cộng đồng.

Ở Việt Nam, ngay từ khi thành lập nước đến nay, nhà nước ta đã có nhiều quan tâm đến nhiều nội dung dịch vụ xã hội: tổ chức mạng lưới y tế đến thôn xã, đào tạo cán bộ y tế, thực hiện y tế dự phòng phòng chống bệnh bướu cổ, AIDS, các dịch bệnh truyền nhiễm, thực hiện một thời gian dài cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh miễn phí, thực hiện hệ thống trường dạy nghề để tái thích ứng nghề cho người lao động nói chung, người lao động thương tật nói riêng. Hiện nay, từ khi đổi mới kinh tế, nhà nước ta có chính sách khuyến khích phát triển hệ thống dịch vụ xã hội bằng các nguồn lực đa dạng của xã hội, điều này, một mặt làm cho cơ sở vật chất dịch vụ xã hội ngày càng tốt hơn, mặt khác, nhà nước có thể tập trung nguồn lực của mình để chăm sóc tốt hơn cho các đối tượng ưu đãi xã hội và BHXH.


Các khoản đảm bảo khác được cung cấp bởi người sử dụng lao động

a. Trợ cấp thôi việc và trợ cấp mất việc

Trợ cấp thôi việc là khoản tiền của người sử dụng lao động trả cho người lao động thuộc quyền quản lý khi người lao động thôi việc theo các truờng hợp đã có qui định của pháp luật như: mãn hạn hợp đồng, người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng một các hợp pháp, người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng không phải vì lý do nguời lao động phạm lỗi nặng bị sa thải. Trợ cấp mất việc là trợ cấp cho người lao động bị thôi việc do doanh nghiệp thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ khiến cho người lao động chưa đến hạn hoặc chưa đến lúc chấm dứt hợp đồng đã bị mất việc một cách bị động. Trợ cấp mất việc vừa bao hàm ý nghĩa là trợ cấp thôi việc vừa có ý nghĩa là một khoản bồi thường, bù đắp thiệt thòi cho người lao động do người sử dụng lao động dơn phương đình chỉ hợp đồng.

Việc thực hiện 2 chế độ trợ cấp này thường được áp dụng chung trong giai đoạn trước 1994 và sau đó mới tách ra riêng biệt từ khi có Luật Lao động.

• Giai đoạn 1945 – 1954: Ngày 01/10/1945, Bộ Lao động ban hành văn bản bắt buộc các xưởng kỹ nghệ, các nhà thương mại phải báo trước một tháng trước khi sa thải công nhân và ấn định tiền phụ cấp cho công nhân bị sa thải. Năm 1947, Chủ tịch Hồ chí Minh ký sắc lệnh 29/SL ngày 12/03/1947 qui định chủ sử dụng lao động phải trả “phụ cấp thâm niên” cho công nhân khi bị thải hồi không phải vì tự ý xin thôi việc để ra làm việc ở một sở khác hay để ra làm ăn kinh doanh riêng. Ngày 20/05/1950 và ngày 22/05/1950, chính phủ ban hành 2 sắc lệnh số 76/SL và 77/SL qui định trợ cấp thôi việc vì thiếu sức khoẻ đối với người lao động trong lĩnh vực nhà nước.

• Giai đoạn 1955 – 1985: Thông tư 88/TTg ngày 01/10/1964 của Thủ tướng Chính phủ qui định áp dụng trợ cấp thôi việc chung của các trường hợp do cơ quan, xí nghiệp kiện toàn tổ chức, giảm nhẹ biên chế hoặc giải thể, cả trường hợp do công nhân, viên chức nhà nước tự xin thôi việc vì hoàn cảnh gia đình khó khăn đặc biệt, vì hưởng úng các cuộc vận động lớn của nhà nước đi khai hoang, đi xây dựng kinh tế miền núi,… hoặc vì có nguyện vọng riêng nhưng phù hợp với nhu cầu giảm nhẹ biên chế của cơ quan, xí nghiệp. Mức trợ cấp được qui định phân biệt đối với người làm việc trước và sau ngày 20/07/1954. Đối với người làm việc trước 20/07/1954, cứ mỗi năm làm việc được trợ cấp bằng nửa tháng lương kể cả trợ cấp thường xuyên và trợ cấp con. Đối với người làm sau ngày 20/07/1954, mức trợ cấp được tính như trên nhưng có khống chế mức tối đa và tối thiểu: tối đa bằng 5 tháng lương và tối thiểu bằng nửa tháng lương (và phụ cấp). Ngoài ra, người được trợ cấp thôi việc còn được trợ cấp thêm một lần bằng từ nửa tháng lương đến ba tháng lương (kể cả phụ cấp) nhưng không vượt quá số tiền đã làm việc, được trợ cấp thêm tiền tàu xe, cước phí hành lý, tiền ăn dọc đường cho bản thân và gia đình về đến trú quán, được tiếp tục cấp phiếu gạo như khi đang làm việc, …

• Giai đoạn 1985 – 1994:

- Quyết định số 217/HĐBT ngày 14/11/1987 về đổi mới kế hoạch và hạch toán kinh doanh đối với các xí nghiệp quốc doanh và thông tư số 1-LĐTBXH-TT ngày 09/01/1988 hướng dẫn thực hiện Nghị định 217 qui định là người lao động (trong biên chế hoặc làm việc theo hợp đồng lao động) bị nghỉ việc do thu hẹp sản xuất, giải thể xí nghiệp được trợ cấp một tháng lương kể cả phụ cấp và bù giá. Còn đối với người lao động thôi việc do vi phạm kỷ luật nhưng chưa đến mức bị thi hành kỷ luật buộc thôi việc, hoặc đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì cứ mỗi năm công tác được trợ cấp nửa tháng lương kể cả phụ cấp và bù giá.

- Ngày 29/12/1987, Quyết định số 227/HĐBT của Hội đồng bộ trưởng về sắp xếp lại tổ chức, tinh giản biên chế các khu vực hành chính sự nghiệp qui định những cán bộ, công nhân, viên chức tự nguyện xin thôi việc để về sản xuất ở gia đình hoặc tự kiếm việc làm thì được trợ cấp cứ mỗi năm công tác trong cơ quan nhà nước bằng một tháng lương và các khoản trợ cấp, phụ cấp nếu có.

- Ngày 09/10/1989, Quyết định số 176/HĐBT về sắp xếp lại lao động trong các đơn vị kinh tế quốc doanh qui định trợ cấp thôi việc trả cho những lao động ra làm việc ở khu vực ngoài quốc doanh cứ mỗi năm công tác liên tục được trợ cấp một tháng lương cơ bản công với phụ cấp nếu có và tối thiểu là 3 tháng do đơn vị trả. Nhà nước chỉ hỗ trợ đối với những đơn vị khó khăn nhưng tối đa chỉ ½ khoản trợ cấp. Đây là khoản trợ cấp một lần và trả trực tiếp cho người lao động, nhưng nếu nguồn chi trả và tiền mặt khó khăn thì có thể thỏa thuận trả rải ra một số lần.

- Ngày 12/04/1991, Hội đồng bộ trưởng ban hành Quyết định số 111/HĐBT về một số chính sách trong việc sắp xếp lại biên chế trong các cơ quan hành chính sự nghiệp qui định rằng những người thôi việc chuyển hẳn ra ngoài biên chế nhà nước thì mỗi năm công tác được trả một tháng lương và phụ cấp, tối thiểu là 3 tháng.

- Ngày 30/08/1990, Hội đồng nhà nước ban hành Pháp lệnh Hợp đồng lao động để điều chỉnh mối quan hệ lao động giữa người lao động làm công ăn lương và người sử dụng lao động trong đó có qui định về trợ cấp thôi việc cho người lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động, Nghị định 165/HĐBT ngày 12/05/1992 qui định chi tiết thi hành Pháp lệnh trên đã ấn định mức trợ cấp thôi việc bằng ½ tháng tiền công hoặc tiền lương và phụ cấp lương (nếu có) cho mỗi năm làm việc đối với trường hợp đương nhiên chấm dứt hợp đồng lao động, hoặïc một trong hai bên đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái với qui định của Pháp lệnh Hợp đồng lao động. Còn trong trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động do người lao động ốm đau, thương tật đã điều trị 6 tháng liền không khỏi hoặc người sử dụng lao động chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động là phụ nữ có thai đang nghỉ đẻ theo chế độ, đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, người lao động đang ốm đau, bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, người lao động đang nghỉ chế độ hàng năm, nghỉ phép thì người lao động được hưởng mức trợ cấp gấp rưỡi mức trên (tức ¾ tháng lương). Nếu người lao động từ 45 tuổi trở lên đối với nam, 40 tuổi đối với nữ đã làm liên tục 5 năm liên tục với người sử dụng lao động thì người lao động còn được trợ cấp thêm ít nhất 2 tháng tiền công hoặc tiền lương, phụ cấp lương. Đối với việc chấm dứt hợp đồng lao động theo một công việc nhất định, theo mùa vụ có hạn từ 3 tháng đến dưới 1 năm thì được trợ cấp 1 tháng tiền công hoặc tiền lương và phụ cấp lương (nếu có). Trợ cấp thôi việc được trả trực tiếp cho người lao động một lần. Ngoài khoản trợ cấp nói trên, người lao động làm việc trên 1 năm còn được cấp tiền tàu xe, cước phí hành lý, tiền ăn dọc đường cho bản thân về đến nơi cư trú theo chế độ hiện hành. • Giai đoạn 1994 đến nay: Chế độ trợ cấp thôi việc và mất việc được phân biệt rõ ràng

- Luật Lao động và sau đó là Nghị định 198/CP ngày 31/12/1994 qui định người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc cho người lao động theo mức cứ mỗi năm làm việc thường xuyên trong doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức từ một năm trở lên là ½ tháng lương cộng với phụ cấp lương nếu có khi chấm dứt hợp đồng lao động. Nếu người sử dụng lao động là doanh nghiệp thì trợ cấp thôi việc được hạch toán vào giá thành, chi phí lưu thông, còn nếu là tổ chức cá nhân không là doanh nghiệp thì phải tự tìm nguồn trang trải.

- Luật Lao động qui định rõ người sử dụng lao động phải lập quiõ dự phòng về trợ cấp mất việc làm; khi phải cho người lao động thôi việc do phải thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ thì phải trả trợ cấp mất việc làm, cứ một năm làm việc trả một tháng lương, nhưng thấp nhất cũng bằng 2 tháng lương. Việc lập quiõ dự phòng về trợ cấp mất việc làm của doanh nghiệp bằng cách trích trong lợi nhuận ròng. Đối với địa phương, ngành có quá nhiều người mất việc làm do thay đổi cơ cấu và công nghệ mới có thể có sự hỗ trợ tài chính từ phía nhà nước.

b. Sự đảm bảo của người sử dụng lao động đối với người lao động tàn tật

Đây có thể xem là một loại chế độ cứu trợ xã hội đối với người lao động tàn tật, chỉ có điều là nhà nước không trực tiếp thực hiện mà qui định buộc người sử dụng lao động phải thực hiện. Luật Lao động có mục riêng về lao động là người tàn tật có qui định các doanh nghiệp phải nhận một tỷ lệ lao động là người tàn tật so với tổng số lao động để làm việc ở vị trí thích hợp, nếu không nhận thì phải nộp một khoản tiền góp vào quiõ tạo việc làm cho người tàn tật, qui định các chế độ ưu đãi giảm, miễn thuế cho những doanh nghiệp dành riêng cho người tàn tật hoặc nhận số lao động là người tàn tật vào làm việc cao hơn tỷ lệ qui định.

c. Sự đảm bảo của người sử dụng lao động đối với lao động bị tai nạn lao động

Trong phần chăm sóc xã hội, chúng ta thấy chế độ chăm sóc y tế ở Việt Nam thông qua bảo hiểm y tế đối với người lao động không bao gồm trường hợp người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp (khác với công uớc 102 – ILO). Tuy nhiên, Luật Lao động có qui định người sử dụng lao động phải chịu toàn bộ chi phí y tế từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị xong cho người bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp.


[sửa] MỘT SỐ NHẬN ĐỊNH VỀ HỆ THỐNG AN SINH XÃ HỘI VÀ BẢO HIỂM XÃ HỘI VIỆT NAM
1. Hệ thống ASXH mà đặc biệt là cơ chế BHXH đã hình thành rất sớm ở Việt Nam ngay từ những ngày đầu thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Điều này đã khẳng định tầm nhìn của những người lãnh đạo và chính sách xã hội của nhà nước ta – nhà nước của giai cấp công – nông, của những người lao động.

2. Về nội dung thực hiện, xét từ năm 1945 đến nay, ở nước ta gần như thực hiện đầy đủ các chế độ cần có của cơ chế BHXH và rất nhiều cơ chế khác của ASXH mà các quốc gia khác trên thế giới đang thực hiện, hơn nữa, cơ chế ưu đãi xã hội được chú trọng thực hiện thể hiện nét riêng có, sáng tạo trong hệ thống ASXH của Việt Nam. Hiện nay, hệ thống này tương đối phức tạp bao gồm: BHXH, cứu trợ xã hội, ưu đãi xã hội, chăm sóc xã hội, dịch vụ xã hội và các đảm bảo khác cung cấp bởi người sử dụng lao động (xem sơ đồ ở cuối bài).

3. Do ảnh hưởng của chiến tranh liên miên, kinh tế – xã hội không ổn định, thay đổi qua nhiều thời kỳ dẫn đến tình trạng nội dung các chế độ đảm bảo của BHXH nói riêng, ASXH nói chung có tính ổn định không cao, đôi lúc chạy theo việc giải quyết nhu cầu xã hội trước mắt, chứ không được xây dựng có hệ thống, lâu dài.

4. Do cơ chế quản lý kinh tế – xã hội theo kiểu tập trung bao cấp nên một thời gian dài, cũng như các vấn đề khác, BHXH, ASXH với rất nhiều chế độ đều gần như được bao cấp miễn phí từ nhà nước, cơ chế huy động từ nhiều phía vốn có và vốn là thế mạnh của hệ thống này không được vận dụng. Điều này, một mặt, là gánh nặêng cho NSNN trong điều kiện xây dựng và phát triển kinh tế thời chiến, khủng hoảng kinh tế kéo dài, một mặt, không thể đáp ứng nhu cầu đảm bảo tốt cho các đối tượng được đảm bảo trong xã hội, nếu có chỉ trong một nhóm nhỏ, thời gian ngắn rồi không có điều kiện tiếp tục duy trì.

5. Một thời gian dài, cũng do đặc điểm cơ chế quản lý kinh tế-xã hội, chế độ đảm bảo của BHXH và ASXH chỉ mới chăm lo cho công nhân – viên chức nhà nước, lực lượng vũ trang, người có đóng góp cho cách mạng chứ chưa thực sự mở rộng đảm bảo cho mọi người lao động trong xã hội.

6. Hiện nay, hệ thống ASXH nói chung, hệ thống BHXH nói riêng ở Việt Nam đã bắt đầu thực hiện công cuộc đổi mới và đang đứng trước một đói hỏi bức bách là phải nhanh chóng hoàn thiện các chế độ đảm bảo (số lượng, nội dung đảm bảo, nguồn huy động,…), nhằm đảm bảo tốt cho mọi người lao động (hưởng lương và cả tự do, công chức nhà nước lẫn hợp đồng lao động với mọi chủ sử dụng lao động khác) trong một điều kiện mới (kinh tế thị trường, phát triển khu vực kinh tế tư nhân, hội nhập quốc tế).

7. Việc tổ chức quản lý tài chính và nghiệp vụ đối với các cơ chế của ASXH trong thời gian qua thay đổi nhiều lần (BHXH), phân tán manh mún và không hợp lý (bảo hiểm y tế), nhập nhằng, chưa xác định rõ ràng (ưu đãi xã hội), hoặc quản lý chưa chặt chẽ (cứu trợ xã hội) cũng đặt ra một yêu cầu hoàn thiện để thích ứng cho giai đoạn mới.

Tài liệu tham khảo
--------------------------------------------------------------------------------

1. Đàm Bích Hiên, Trợ cấp thôi việc theo pháp luật lao động Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà nội – 2000; 2. Trần Quang Hùng, Mạc Văn Tiến, Đổi mới chính sách BHXH đối với người lao động, NXB Chính trị quốc gia, Hà nội – 1998; 3. Nguyễn Tiến Hùng, Các chế độ BHXH – các vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam (Chuyên đề NCS), TP. HCM – 2001; 4. Nguyễn Văn Phần, Đặng Đức San, Tìm hiểu chế độ BHXH mới, NXB thành phố Hồ Chí Minh, TPHCM – 1995 5. Các văn bản pháp luật về Chính sách hỗ trợ đối với người nghèo và bảo trợ, cứu trợ xã hội, NXB Chính trị quốc gia, Hà nội – 2001; 6. Pháp lệnh người cao tuổi, NXB Chính trị quốc gia, Hà nội – 2000; 7. Những qui định pháp luật về Chế độ BHXH hiện hành, NXB Lao động, Hà nội – 2002.

Lấy từ “http://vi.wikipedia.org/wiki/

10 tháng 6, 2008

Khôi phục sau thiên tai dựa vào cộng đồng


Khôi phục sau thiên tai dựa vào cộng đồng

TSUNAMI - Khôi phục sau thiên tai dựa vào cộng đồng

1. Vì sao việc hồi phục dựa vào người dân là rất quan trọng ?

2. Công cụ, thể chế và tiến trình nào để tạo điều kiện cho người dân và cộng đồng bị ảnh hưởng được quản lý trực tiếp tiến trình khôi phục?
3. Làm thế nào để thiết lập mối liên kết, mạng lưới và kênh liên lạc giữa các cộng đồng bị ảnh hưởng?

1. Vì sao việc hồi phục dựa vào người dân là rất quan trọng ?
Giúp tăng quyền lực cho người dân, nâng cao tính nhân bản và nhấn mạnh nhân quyền. Phương thức này giúp xây dựng lòng tự tin và loại bỏ mặc cảm bị tàn phế là những cảm giác thường có ngay sau khi thiên tai xảy ra. Tiến trình này cũng nhằm giúp loại trừ các khủng hoảng về tinh thần, các bi thảm hóa và sự trầm cảm trong các thành viên cộng đồng bởi vì nó thúc đẩy người dân tích cực cùng nhau làm việc để hồi phục.

Giúp giải quyết đúng các nhu cầu thực sự của các cộng đồng bị ảnh hưởng
- Chính người dân mới thực sự hiểu rõ các vấn đề của mình, họ biết rõ điều gì họ cần hay không cần và hơn ai hết họ chính là người giải quyết tốt nhất các vấn đề khó khăn.

Đảm bảo các hỗ trợ sẽ đến tận tay những ai thực sự cần nhất và giúp xúc tác ở một mức độ nhất định cho sự công bằng. Khi người dân làm chủ tiến trình cứu trợ và khôi phục, nó tạo sự công khai hóa nhằm giảm thiểu sự tham nhũng (« không phải tất cả những ai đến giúp bạn sau thảm họa đều có ý định tốt ! »)

Tạo điều kiện làm cho tiến trình khôi phục nhanh hơn, rẻ hơn, công bằng và hiệu quả hơn. Như vậy tiến trình trở nên bền vững hơn. Nó tạo ra sự tin cậy và trách nhiệm. Các cơ quan nhà nước thường chậm trễ trong việc giải quyết hậu quả sau thiên tai, còn các nhân tố bên ngoài thường lợi dụng cơ hội.

Đó không chỉ là vấn đề xây dựng nhà ở mà còn là việc tái dựng con người và các cộng đồng
- Mục đích của phương thức tái định cư lấy dân làm chủ không chỉ nhằm vào việc xây dựng lại các căn nhà đổ nát mà còn chú trọng việc trao quyền lực cho cộng đồng và xây dựng con người.

Giúp cho người dân địa phương trở thành những chủ nhân của tiến trình khôi phục của chính họ. Trong các khu vực bị ảnh hưởng của thiên tai nơi có các ngôi nhà được xây dựng lại nhưng không có sự tham gia của cộng đồng, các nạn nhân thường tiếp tục lưu lại trong các khu tạm cư hay trong các căn nhà tạm bợ, chứ không chịu vào các căn nhà mới do các nhà thầu xây dựng, bởi họ cảm thấy xa lạ.

Giúp giảm bớt sự phân biệt xã hội trong các cộng đồng bị ảnh hưởng. Bằng cách khuyến khích sự tham gia của tất cảc các thành viên của cộng đồng thuộc các tầng lớp xã hội khác nhau. Điều đó đảm bảo các nhóm dễ bị tổn thương và yếm thế nhất trong cộng đồng (chẳng hạn phụ nữ, trẻ em, người già, tầng lớp thấp kém, dân tộc thiểu số) đều được tham gia. Các nhu cầu của họ được đem ra cùng thảo luận và có được sự quan tâm và giúp đỡ công bằng. Ở Ấn Độ, việc xây dựng lại sau động đất tại Maharashtra và Gujarat và trận sóng thần tại Tamil Nadu, hệ thống đẳng cấp xã hội trở nên ít cứng nhắc hơn sau thiên tai (tại một số khu vực). Tuy nhiên trong một số địa phương vấn đề đẳng cấp xã hội vẫn còn tồn tại và người của một đẳng cấp không muốn chung sống trong cùng một cộng đồng với những người của đẳng cấp khác.

Trận động đất năm 1993 ở Ấn Độ, người dân trở thành vô gia cư. Vì vậy tiến trình khôi phục được bắt đầu bằng việc hỗ trợ tiền để xây dựng lại các ngôi nhà mới. Tuy nhiên, sau khi phát hiện ra rằng những người đàn ông đã nướng số tiền này vào các canh bạc, chính quyền liền thay đổi chính sách về quyền sở hữu nhà cho phép phụ nữ hay các nhóm phụ nữ cùng tham gia. Sự thay đổi này đã giải quyết đúng vấn đề. Điều này cũng đã giúp thay đổi vị trí truyền thống giữa nam và nữ, qua đó người phụ nữ đóng vai trò tích cực và chủ động hơn trong việc ra quyết định.

Các kinh nghiệm trước đây trong xây dựng / tái xây dựng nhà ở cho thấy rằng các căn nhà mới thường do người đàn ông đứng tên. Điều này đã được thay đổi và các căn nhà được khôi phục hiện nay có sự đồng sở hữu cùng đứng tên của cả nam và nữ.

Phương thức mới giúp những nạn nhân sống sót vượt qua cơn chấn động và những đau buồn trầm cảm, giúp họ trở nên tích cực, năng động, cùng nhau làm việc và trở thành nhân tố đầu tiên trong tiến trình quản lý, lập kế hoạch, thực hiện việc cứu trợ và khôi phục tái ổn định cuộc sống. Một khi bạn làm việc cùng nhau trong nhóm, vấn đề cá nhân trở nên nhỏ bé.

Xây dựng quyền lực chung của cộng đông bằng nhiều hình thức khác nhau
Khuyến khích tinh thần làm chủ cho nhóm, tinh thần đoàn kết và tính an toàn. Thông qua việc khuyến khích người dân tham gia vào toàn bộ tiến trình cứu trợ và khôi phục, giúp củng cố sự tự tin vào khả năng của chính họ trong việc quản lý sự phát triển về lâu dài. Nó cũng giúp tăng năng lực và kỹ năng của người dân trở nên mạch lạc, tinh thông và hiểu biết rõ hơn trong việc thương thuyết những gì họ cần. Đó chính là sự tăng quyền lực.

Củng cố các kỹ năng quản lý tập thể của cộng đồng bởi cộng đồng được xem là thể chế quản lý chính trong tiến trình cứu trợ - vì vậy phương hướng khôi phục và công việc tiến hành đều do người dân quyết định và thực hiện. Nó phản ảnh đúng nhu cầu và vấn đề của người dân.

Khuyến khích sự tham gia của phụ nữ và vị trí của họ trở thành các lãnh đạo thật sự cần thiết và đầy đủ trong tiến trình hồi phục, thậm chí ngay cả ở những nơi mà trước khi có thiên tai vai trò của phụ nữ là có giới hạn và bị bó hẹp. Ví dụ tại Ấn Độ, sự tham gia của người phụ nữ hầu hết bị giới hạn trong nhà và họ không được tham gia vào việc ra quyết định của cộng đồng. Thế nhưng sau trận sóng thần và động đất, người phụ nữ đã tham gia nhiều hơn các ý kiến của họ được xem xét. Ở Thái Lan, người phụ nữ là đối tác bình đẳng bên cạnh nam giới trong việc giúp đỡ sau khi có thiên tai như trôi đất, ngập lụt và sóng thần. Họ giúp thực hiện các điều nghiên khảo sát, dọn dẹp và nấu nướng.

Củng cố các mối quan hệ xã hội và các hoạt động tập thể. Các thiên tai có thể là một cơ hội để tái dựng lại xã hội và hệ thống hóa lại các mối quan hệ xã hội bất bình đẳng trong cộng đồng cũng như trong các thể chế rộng lớn hơn.

Tăng cường sức mạnh kinh tế của người dân bằng cách tạo điều kiện để họ nhận diện nhu cầu kinh tế của mình, phát triển các phương thức sinh sống nhằm gây dựng lại các công việc và hoạt động kinh tế bị mất ; thu phục lại nguồn thu nhập cũng như tính tự lực.

Bảo tồn các tục lệ, phong tục, văn hóa và tập quán sinh sông của cộng đồng: Các cộng đồng nghèo có nền văn hóa sinh sống và người dân có « tài sản kiến thức hiểu biết » làm thế nào để tồn tại. Họ có chung một niềm tin, một lịch sử và sự thống nhất. Nếu thiếu những điều này, họ đã không thể tồn tại được ! Các hoạt động phát triển sau thiên tai không nên được xem như một phương tiện nhằm thay đổi cộng đồng tiến tới một cuộc sống mới. Người dân có thể bảo trì tinh thần, sự hiểu biết địa phương và văn hóa của các cộng đồng bị ảnh hưởng trong suốt quá trình hồi phục theo những cách thức mà người bên ngoài không thể làm được.

Đây là cơ hội để tháo gỡ những vấn đề sâu xa và mang tính hệ thống của sự nghèo đói. Các vấn đề này thường bị ẩn giấu phía bên dưới, nó ám ảnh và xói mòn các cộng đồng nghèo trong nhiều năm nhưng không thể giải quyết – chẳng hạn như vấn đề quyền sử dụng đất không rõ ràng. Các vấn đề này thường chính phủ đã không thể giải quyết với kiểu hệ thống quan liêu, trì trệ của mình. Nhưng thiên tai đã làm cho chúng trở nên khẩn cấp và công khai.

Do yêu cầu đòi hỏi của địa lý - Ảnh hưởng của thiên tai thường lan rộng và vì vậy điều cần thiết là tất cả những nơi bị ảnh hưởng đều được tham gia ngay từ ban đầu. Chẳng hạn, ở Philippines, đất nước của 7000 đảo và có nhiều kinh nghiệm với trung bình 19 cơn bão hàng năm. Để đối phó với rất nhiều thiên tai như vậy đòi hỏi có sự tham gia của người dân địa phương – một mình các chính quyền không thể đương đầu được.

2. Công cụ, thể chế và tiến trình nào để tạo điều kiện cho người dân và cộng đồng bị ảnh hưởng được quản lý trực tiếp tiến trình khôi phục?

“ Các bạn còn rất thiếu thôn, nhưng các bạn lại cho nhau rất nhiều. Các bạn luôn sẵn sang giúp đỡ lẫn nhau. Chúng tôi giàu có hơn các bạn, nhưng chúng tôi không thể giúp đỡ lẫn nhau như vậy, chúng tôi dường như chỉ tranh giành lẫn nhau! Vậy thì làm thê& nào các bạn khuyến khích người dân, tổ chức họ và giúp họ cùng nhau làm việc như một nhóm?”

1. KHỞI ĐỘNG ngay lập tức và bắt đầu rất nhiều các công việc nhằm giải quyết các nhu cầu tức thời và cả lâu dài, đặc biệt những nhu cầu giúp người dân cùng ngồi lại với nhau.
Bắt đầu bằng những việc nhỏ nhằm tạo ra sự năng động trong cộng đồng. Một thành công nhỏ chẳng hạn làm sạch một đoạn kênh có thể giúp tạo ra sự tự tin. Thành quả đạt được có thể cùng chia xẻ với những nhóm khác và từ những hoạt động nhỏ có thể giúp tập hợp mọi người cùng nhau.

Bắt đầu bằng những gì có thể làm được. Có rất nhiều điều không thể thực hiện ngay đầu tiên, và có rất nhiều nhu cầu không thể giải quyết, vô số sự hỗn loạn…Tuy nhiên điều quan trọng là hãy làm những gì mà có thể bắt đầu xây dựng niềm tin tưởng vào sự thay đổi và xây dựng tinh thần tập thể và lòng tự tin chung, từng bước một.

Công việc tái xây dựng nên do chính người dân cộng đồng thực hiện càng nhiều càng tốt. Nên loại bỏ các nhà thầu, hãy để cho cộng đồng chịu trách nhiệm về vấn đề nhà ở của họ, điều này thường dẫn đến việc cải thiện các mối quan hệ xã hội giữa các thành viên của cộng đồng. Tạo cơ hội cho tất cả mọi người trong cộng đồng tham gia vào tiến trình. Tổ chức nhiếu và rất nhiều các chuyến tham quan trao đổi kinh nghiệm địa phương, các hội thảo : môi tuần! Nhằm quan sát những gì người khác đang thực hiện và chia xẻ những gì mình đang làm. Các chuyến tham quan địa phương giữa các cộng đồng bị ảnh hưởng không tốn chi phí nào cả mà vẫn có thể thúc đẩy tình đoàn kết xã hội, nhân rộng các ý tưởng và xây dựng mang lưới. Tham quan trao đổi giữa các thành phố hay giữa các quốc gia cũng rất có ích, nhưng bởi vì thường tốn kém hơn nên không thể tổ chức một cách thường xuyên.

Có rất nhiều các sự kiện được tổ chức lớn nhằm tập hợp người dân, tạo ra sự phấn khích, làm cho mỗi bước tiến bộ nhỏ trở thành một bước đánh dấu lớn của cả cộng đồng để mời các quan chức, các đối tác đến viếng thăm, làm cho việc thương thuyết của bạn trở thành vấn đề quan tâm chung, gây ra tiếng vang ủng hộ thay vì chống lại. Tổ chức các sự kiện lớn cho bất kỳ mỗi bước hoạt động đánh dấu (căn nhà đầu tiên hoàn thành; trình bày kế hoạch cộng đồng; động thô cho căn nhà dầu tiên; chuyến viếng thăm của các quan chứchay các nhóm khác; ngày sinh của Nữ Hoàng v.v…) Mời mọi người và đây là cơ hội để kêu gọi những người thiếu quan tâm.
Cố gắng phát triển tất cả các loại hoạt động hồi sinh trên mọi mặt của cộng đồng – cả về vật chất, kinh tế, văn hóa và xã hội – qua đó việc tái định cư sau thiên tai trở nên quen thuộc gần gũi và bền vững.

Cung cấp các huấn luyện kỹ năng cần thiết chẳng hạn nghề mộc tạo điều kiện cho phụ nữ tích cực hơn trong việc tái xây dựng, hay giáo dục, máy móc giúp người dân tìm được việc làm ngay tại cộng đông.
Khuyến khích các hiểu biết địa phương và áp dụng vào tiến trình khôi phục chẳng hạn trong việc xây dựng kiểu nhà truyền thống, thuốc dân tộc, các câu chuyện truyền thuyết v.v… Sử dụng tiến trình giải quyết vấn đề như một cách nhằm thúc đẩy các kiến thức hiểu biết địa phương. Từ đó người dân có thể học hỏi và lưu truyền các kiến thức về thiên tai cho thế hệ sau. Giống như ở các vùng phía bắc của Thái Lan, người dân đã sử dụng các vật liệu có sẵn hay các vật liệu còn sót lại sau thiên tai để xây dựng lại các căn nhà.

Thành lập nhiều nhóm khác nhau trong cộng đồng như nhóm thanh niên, nhóm phụ nữ, nhóm người cao tuổi, nhóm thợ thuyền, nhóm môi trường, nhóm nhà ở tạm, nhóm quản lý các khoản cứu trọ, nhóm nấu ăn v.v… để tạo điều kiện cho tất cả mọi người của cộng đồng đều có thể tham gia giúp đỡ, đóng góp các kỹ năng và ý kiến của mình vào tiến trình. THiết lập một trung tâm cộng đồng hay một trung tâm truyền thông đóng vai trò như một “cầu nối” lien kết các nhóm và các bên tham gia; đồng thời là nơi thúc đẩy sự trao đổi bàn luận.

Thành lập các nhóm tiết kiệm cộng đồng là một cách đơn giản để tổ chức người dân và thúc đẩy họ cùng nhau làm việc.

Văn hóa: Sử dụng vốn văn hóa và xã hội tồn tại trong cộng đồng như một cách để tập hợp người dân và khuyến khích sức mạnh chung của cộng đồng.



2. Xây dựng mạng lưới và các mối liên kết trong cộng đồng và giữa các cộng đồng bị ảnh hưởng, cũng như với các tổ chức cộng đồng hiện hữu tại các khu vực có thiên tai: Các tổ chức cộng đồng riêng lẻ và rời rạc cần được nối kết lại thông qua các mạng lưới và liên đoàn.
Bắt đầu bằng giới hạn nhỏ cho với những người hiểu và mở rộng dần giai đoạn sau bao gôm khu vực rộng hơn và nhiều nhóm hơn. Không nhất thiết lôi kéo tất cả vào cùng một lúc ban đầu! Đây là cách xây dựng sức mạnh cộng đồng.
Nối kết các cộng đồng nhằm tăng sức mạnh thương thuyết chung – cộng đồng riêng lẻ sẽ không thể có sức mạnh. Một khi họ nối kết với nhau trong một vấn đề chung và cùng một cuộc tranh đấu, họ có thể cùng nhau đàm phán, thương thuyết và tranh đấu cho những gì tất cả họ đều cần. Mạng lưới cộng đồng làm tăng thêm quyền lực cho cộng đồng, nó đem lại quyền lực cho một số đông và ảnh hưởng trên quy mô lớn trở thành thể chế.
Cùng làm việc chung là một cách nhằm chia xẻ các gánh nặng, cùng vượt qua các cản ngại và chia xẻ các phần thưởng. Nối kết nhau lại trong một mạng lưới là một cách xây dựng tinh thần đạo đức việc giúp đỡ lẫn nhau. Tạo ra sự đa dạng giữa các nhóm và tôn trọng sự khác biệt về tình trạng và các ưu tiên của người dân trong bối cảnh của thiên tai – không nên cố gắng kiểm soát tất cả mọi người hay bắt buộc họ phải cùng làm theo một cách.
Cố gắng tìm ra các vấn đề chung, các quan tâm chung. Tìm cách để xây dựng các ưu tiên chung với sự đồng ý của tât cả các nhóm khác nhau để từ đó cùng nhau thực hiện. Cần làm rõ đối tượng và phương hướng chung.
Chia xẻ kinh nghiệm, các bài học và các điển hình thực hiện tôt giữa các cộng đồng bị ảnh hưởng cũng tạo cơ hội để người dân quản lý tiến trình khôi phục. Nó giúp cho các cộng đồng nơi chưa thực hiện tiến trình dựa vào người dân nhìn lại phương thức và các vấn đề của họ.

3. Chú trọng vào các vấn đề chung, phương hướng chung chứ không phải là những khác biệt.
Cố gắng tôn trọng sự khác biệt và tính đa dạng của người dân trong cộng đồng, giữa các nhóm trong mạng lưới. Cố gắng giảm thiểu các mâu thuẫn. Kế hoạch và hợp tác ở những nơi có thể và buông thả (nhưng vẫn giữ mối lien kết, chia xẻ và liên hệ!) nơi nào chưa sẵn sang.
Cố gắng thiết lập sự thống nhất chung và cùng một phương hướng trên nền tảng của niềm tin và văn hóa chung của cộng đồng cũng như tôn giáo và những vấn đề khác giúp tập hợp người dân lại cùng nhau. Không nhất thiết chỉ chú trọng đến các vấn đề - những điều chung chẳng hạn văn hóa cũng có thể là yếu tố rất hiệu quả để tập hợp người dân và xây dựng tập thể sau thiên tai.
4. Hiểu rõ về cộng đồng của mình! Thông tin:
Cần nắm và duy trì các thông tin chi tiết về cộng đồng của bạn. Điều quan trọng là ngay khi bắt đầu của thiên tai bạn cần lập tức tập hợp các tài liệu về cộng đồng. Các thông tin này sẽ giúp xúc tác các cuộc thảo luận, tiến trình lập kế hoạch và giúp quyết định các nhu câu của cộng đồng. Các điều nghiên do cộng đồng thực hiện nên bắt đầu tiến hành ngay và tiếp tục trong suốt quá trình khôi phục. Quansát tình trạng và thu thập các nhu cầu của các cộng đồng khác nhau trên cơ sở thông tin thực sự của cộng đồng.
Hiểu biết về cộng đồng của chính mình: người dân bị ảnh hưởng cần có các thông tin cơ bản về cộng đồng của chính họ và cần hiểu rõ sức mạnh và tiềm năng của các cộng đồng này.
Vì vậy các thông tin này chính là cơ sở để bạn tái xây dựng và lập kế hoạch hồi sinh cộng đồng. Các thông tin này cũng trở thành công cụ trong việc đàm phán của bạn với chính phủ và các cơ quan có liên quan khác. Vì sao? Bởi vì, các thông tin mà bạn có là tốt hơn và chính xác hơn nhiếu những gì mà họ có.
Khảo sát về mặt xã hội: Việc nghiên cứu nhằm hiểu rõ các nhucầu thực sự và ưu tiên của người dân sau thiên tai bằng một cuộc điều nghiên là hết sức cần thiết. Không chỉ có các nhu cầu về mặt vật chất sau thiên tai, cần hiểu rõ các nhu câu thiết yếu về xã hội của người dân.
Thông tin luôn có sẵn và tiếp cận dễ dàng. Đảm bảo tất cả các cộng đồng đều có thể tiếp cận được thông tin, vì vậy cần phải xem xét vấn đề ngôn ngữ và phương tiện truyền thông. Không phải ai cũng có TV hay điện thoại, vì vậy cần có một hệ thống nhằm trao đồi và chia xẻ thông tin nhanh chóng trong cộng đồng, đặc biệt là các thông báo đầu tiên về thiên tai.
5. Làm cho các kinh phí cứu trợ trực tiếp đến cộng đồng bị ảnh hưởng:
Hầu hết các kinh phí tài trợ dành cho các nạn nhân thiên tai thường không đến tới tay người có nhu cầu thực sự - nó dung để trang trải các chi phí quản lý, nó bị sử dụng sai lệch, bị chậm trễ và bị tham nhũng.
Hầu hết các cứu trợ thiên tai được gửi qua chính phủ (cũng chính là một thiên tai!) và chính phủ sử dụng hệ thống cổ hủ của mình để phân phát khoản cứu trợ này – hệ thống này thường chậm chạp, cứng nhắc, hạn hẹp và quan liêu và hầu như không thể làm việc nôi trong một khủng hoảng thiên tai trầm trọng. Vì vậy, làm cho các cứu trợ trực tiếp đến tay cộng đồng bị ảnh hưởng là hết sức cần thiết. Hoặc là nếu phải thông qua chính phủ, thì chính phủ cần tìm cách tránh các hệ thống quan liêu cổ hủ và phân phát cứu trợ nhanh chóng và trực tiếp đến các cộng đồng bị ảnh hưởng.
Các khoản tiền hỗ trợ nên giao cho cộng đồng quản lý trực tiếp. Một khi các kinh phí hỗ trợ giao trực tiếp cho các cộng đồng, người dân sẽ tự thiết kế, lập kế hoạch và xây dựng.
Các tổ chức phi chính phủ (PCP) đóng vai trò xúc tác quan trọng trong bối cảnh thiên tai – nhưng họ không nên trở thành là kênh chuyển giao kinh phí cứu trợ cho các cộng đồng bị ảnh hưởng, hoặc là kẻ trung gian chuyển giao kinh phí với một giả định là chính phủ đang trong cơn khủng hoảng!
Các tổ chức PCP nên thúc đẩy các nhu cầu thực sự của người dân đến các nhà tài trợ, không nên ngược lại đẩy các kế hoạch và mục tiêu của nhà tài trợ xuống đầu người dân thường. Các tổ chức PCP có thể giúp nối kết trực tiếp giữa các nhà tài trợ và các cộng đồng hay các mạng lưới cộng đồng, chính họ sẽ xác định nhu cầu của mình.
Người dân cần có đủ sức mạnh để nói không với các nhà tài trợ nếu như họ không tự thay đôi để làm phù hợp với các kế hoạch của cộng đồng cũng như các nhu cầu do chính người dân đặt ra.
Các tổ chức cộng đồng, chứ không phải các cá nhân , cần thiết lập các đề xuất cho các nhu cầu và phương cách cùng nhau đối phó với các tổ chức cứu trợ bên ngoài. Mặt khác, đối với các nhà tài trợ không nên cố gắng cứu trợ trức tiếp đến từng cá nhân và làm chia rẽ cộng đồng. Chuyển giao một khoản tiền lớn và hỗ trợ kinh phí cho quỹ tín dụng quay vòng được xem là một cách để huy động người dân ngồi lại cùng nhau (thay vì chia rẽ họ như cách thường làm hỗ trợ cá nhân); giúp họ cùng nhau làm việc và ra quyết định để làm thế nào sử dụng nguồn quỹ chung. Hơn nữa quỹ quay vòng làm cho nguồn quỹ hạn hẹp được tái sử dụng và bền vững. Cộng tự đồng quản lý các nguồn quỹ phúc lợi cũng giúp tập hợp người dân và tạo cho họ cơ hội cùng nhau ra quyết định về việc giúp đỡ các thành viên bị tổn thương nhất trong cộng đồng.

6. Các cộng đồng cần thiết lập kế hoạch của chính họ

Các cộng đồng bị ảnh hưởng cần phải tiến hành thiết lập các kế hoạch tái phát triển cho cộng đồng và những gì bị thiệt hại - các kế hoạch bao gồm tất cả các lĩnh vực trong cuộc sống của họ - về tài chính, cách thức kiếm sống, sức khỏe, đất đai, nhà ở v.v….Một khi người dân hiểu rõ điều gì họ muốn các kế hoạch này trở thành một công cụ để dàm phán với người ngoài nhằm đạt được các nguồn và sự hỗ trợ. Các tổ chức hỗ trợ bên ngoài cũng có các kế hoạch làm việc rêing của họ, kế hoạch và chiến lược phát triển của cộng đồng giúp thay đổi kế hoạch này và làm nó phù hợp hơn với những nhu cầu thực sự của người dân, chứ không phải là sự phát triển theo thời trang. Các cộng đồng cũng cần thiết lập kế hoạch tái định cư, nhà ở và cơ sở hạ tầng đã bị thiệt hại sau thiên tai. Họ cần có một kế hoạch thật rõ rang, dựa vào đó các kiến trúc sư có thể hỗ trợ bằng phác thảo bao gồm sơ đồ khu định cư và các kiến trúc hâ tầng được chi tiết hóa. Các kế hoạch này phải phản ánh được cách sống của người dân. Không nên là những ý kiến của một ai đó về những điều họ cần.

7. Các cộng đồng bị ảnh hưởng đóng vai trò chính trong việc điều phôi các cứu trợ.
Cần có sự đối thoại cởi mở và mang tính bền vững trong tình hình thiên tai: nhằm tập hợp tất cả các nhóm khác biệt để cùng gặp gỡ và thảo luận một cách thường xuyên. Đây là cách để thúc đẩy công khai hóa mọi công việc, mọi kế hoạch, mọi vấn đề, tất cả các chính sách và ngân sách để mọi người cùng biết. Đây cũng là cách để chia xẻ và học hỏi lẫn nhau, ngay cả khi họ không cùng nhau thực hiện. Việc điều phối các tổ chức cứu trợ gặp nhiều khó khăn, nhưng cộng đồng có thể làm được việc này bởi vì họ là “người ở cuối đường hầm”.

8. Thương thuyết với chính phủ và các tổ chức khác về các kế hoạch tái ổn định cuộc sống
Thiết lập các quan hệ đồng minh: Nối kết với nhiều các tổ chức khác nhau, tạo mặt bằng để các tổ chức trung ương và địa phương hiện hữu cùng được tham gia – các quan chức nhà nước tại địa phương, các vị chủ tịch thành phố, quận và các quan chức nhà nước cấp trung ương, quốc gia; cũng như các văn phòng chính phủ quan trọng, các tổ chức PCP, nhà trí thức, kiến trúc sư v.v…Bạn có thể làm được việc này bằng cách mời họ trong các dịp lễ hội, cắt băng và các sự kiện nổi bật, hoặc cũng có thể kêu gọi sự tham gia của họ trực tiếp trong tiến trình xây dựng. Đây là cách thiết lập các cầu nối với các tiềm năng hỗ trợ. Không phải tât cả các quan chức chính phủ đều xấu. Chúng ta không nên phủ định hóa chính phủ hoàn toàn. Chắc chắn một vài cá nhân chúng ta có thể hợp tác và cùng làm việc.
Bảo vệ các đề xuất của mình: Để tiến tới việc thương thuyết với chính phủ và các cơ quan liên quan cần có các bản kế hoạch chuẩn bị kỹ càng với cách trình bày đẹp và các thông tin của chính bạn. Đừng bao giờ trông đợi các cơ quan chính phủ xuống làm việc cùng bạn cùng với các kế hoạch tệ hại, nó chẳng dính dáng gì đến những gì bạn đang cần, ở đó bạn sẽ trở thành ngừơi “nói vuốt đuôi”! Khi người dân lần đầu tiên được khuyến khích và huy động, cùng với tất cả những công việc mà họ đã chuẩn bị, các đề xuất sẵn sàng để cùng thương thuyết, đó chính là cách thúc đẩy chính phủ thực hiện theo các quy định của chính họ.

Hãy kiên trì: Rất nhiều các vấn đề mà cộng đồng phải đối phó sau thiên tai không thể giải quyết ngay lập tức – các vấn đề chẳng hạn sự an toàn về quyền sở hữu đất, phục hồi phương kế sinh nhai v.v…Cộng đồng cần xây dựng sức mạnh, sự tự tin, sự kiên nhân và có tầm nhìn lâu dài để luôn cùng nhau làm việc, không đầu hang!
Các chính sách được xây dựng theo phương thức “ từ dưới lên”, không nên áp đặt “từ trên xuống”: Sức mạnh của cộng đồng nên làm cho tiên trình phját triển đi trực tiếp từ người dân đến cấp ra chính sách.

3. Làm thế nào để thiết lập mối liên kết, mạng lưới và kênh liên lạc giữa các cộng đồng bị ảnh hưởng?

1. Tham quan và trao đổi là một công cụ giúp người dân tin tưởng vào sự thay đổi:
Cần tổ chức nhiều và rất nhiều sự trao đổi giữa các cộng đồng bị ảnh hưởng sau thiên tai trong cùng thành phố, cùng phường, quận, tỉnh, quốc gia và vùng v.v… Người dân cần được thấy tận mắt về khả năng có thể thay đổi, cần thấy các hoạt động cụ thể mà những người khác đang thực hiện để chứng minh cho sự thay đổi và rằng người dân có thể chuyển đổi cuộc sống và khu định cư của mình một cách cụ thể. Tham quanvà trao đổi có thể xem là nhân tố mạnh mẽ tạo ra sự thay đổi thái độ và là nguồn lực hiệu nghiệm cho sự cảm hứng.

2. Người dân cần có một số nguồn vốn của chính họ do chính họ quản lý và kiểm soát. Thông thường các nguồn tiền luôn nằm trong tay của người khác: các cơ quan nhà nước, các tổ chức cứu trợ, tổ chức PCP v.v…Nhưng nếu cộng đồng có một khoản kinh phí nằm trong sự kiểm soát của chính họ và nằm trong tay họ, họ có thể xây dựng ccá kế hoạch và thực hiện đúng với nhu cầu của mình, không cần phải chờ đợi sự cho phép của người khác!
3. Sử dụng các vấn đề chung để xây dựng các mối quan hệ và mối liên kết giữa người dân với nhau và giữa các cộng đồng bị ảnh hưởng: Cố gắng tập hợp người dân có cùng các vấn đề để cùng nhau lập các đề xuất và huy động người dân có cùng sự quan tâm và tranh đấu. Thiên tai có thể là một lực lượng mạnh mẽ làm cho ngừoi dân riêng rẽ được tập hợp dưới một hình thức thống nhất mới khi mà họ bất chợt phải cùng đối phó với rất nhiều vấn đề lớn mà nó không thể giải quyết được một cách đơn lẻ.
4. Tìm kiếm nhóm lãnh đạo nòng cốt và phát hiện các nhà lãnh đạo mới bằng cách bắt đầu với nhiều loại hình hoạt động khác nhau, tạo điều kiện cho những nhà lãnh đạo mới xuất hiện và thiết lập một sự ủng hộ mới cũng như cơ hội mới cho sự tham gia.
5. Cần sớm tạo ra một số các kết quả thực thụ, cụ thể không chỉ nói suông! Bạn cần phải làm hay cải thiện một điều gì đó một cách cụ thể có thể sờ mó được, chẳng hạn nhà ở. Thành quả đầu tiên này – ngay cả khi nó rất nhỏ - cũng có thể là yếu tố mạnh chứng tỏ rằng người dan có thể trở thành người chủ của sự phát triển. Cần phải là điều gì đó thực sự và nhìn thấy được. Nhằm gây cảm hứng cho bước kế tiếp, tạo ra sự tự tin và thúc đẩy tiến độ. Nhằm xây dựng các mạng lưới hay tổ chức tại chính cộng đồng của bạn bằng việc bắt đầu với một hoạt động nhỏ. Dùng hoạt động nhỏ này để tổ chức người dân.
6. Bạn không nhất thiết phải thành lập các ủy ban hay tổ chức mới, bạn có thể sử dụng các tổ chức có sẵn và xây dựng lên: Sử dụng các nhóm tự nhiên hiện hữu của cộng đồng chẳng hạn nhóm phụ nữ, nhóm phụ huynh v.v…
7. Bắt đầu với những ai có chung một vấn đề và những người có chủ định thực sự và mạnh mẽ. Sử dụng điều này như một thể chế nhằm tập hợp người dân. Sau đó chia xẻ kinh nghiệm của bạn cho các cộng đồng hay làng khác.
Phục hồi là giai đoạn khó khăn nhất khi mà đa số các cộng đồng phải tự lo liệu vì vậy cần đề ra các chiến lược, xác định các rủi ro và các vấn đề. Xem xét làm thế nào đưa các vấn đề này nối kết vào các mạng lưới hiện hữu. Điều này làm cho các vấn đề trở nên khẩn cấp hơn hoặc giúp họ nhận thức ra vấn đề.

8. Ví dụ của SETU (tổ chức thành lập tại Kutch sau trận động đất Gujarat)
Xây dựng mạng lưới ở nhiều cấp độ khác nhau, địa phương, quốc gia, vùng, quốc tế v.v.. và nối kết các cấp độ lại với nhau. Xây dựng một trung tam thông tin hay trung tâm nguồn cộng đồng sẽ tạo điều kiện cho người dân xác định, nối kết và sử dung các “chuyên gia” cộng đông. Phổ biến các thông tin và kiến thức bản địa cũng rất cần thiết. Sử dụng kỹ thuật thông tin như những kênh truyền thông (để nối kết với các quan chức cao cấp nhà nước) như việc quay phim hội nghị v.v…

nguồn : ACHR