Hiển thị các bài đăng có nhãn công tác xã hội. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn công tác xã hội. Hiển thị tất cả bài đăng

12 tháng 5, 2009

Công tác xã hội: Không chỉ là chuyện nghề!


Những vấn đề về an sinh xã hội
Công tác xã hội: Không chỉ là chuyện nghề!

Theo thống kê của Bộ LĐ-TB&XH, hiện nay toàn quốc có tới gần 5,5 triệu người khuyết tật, hơn 1,4 triệu trẻ em có hoàn cảnh khó khăn cần sự giúp đỡ của cộng đồng.
Ngoài ra, cũng có gần 7,5 triệu người cao tuổi, trong đó nhiều người có nhu cầu được chăm sóc cả về sức khỏe lẫn tinh thần. Để giúp đỡ những đối tượng đặc biệt này, không chỉ có người thân, các y, bác sỹ mà cần có một lực lượng những người làm công tác xã hội. Song thực tế, Việt Nam hiện còn quá ít, nếu không muốn nói là chưa có!
Công tác xã hội, hiểu đúng nghĩa chính là toàn bộ những trợ giúp xã hội, đặc biệt là những trợ giúp nhân đạo, từ thiện. Sự chăm sóc, trợ giúp này mang tính chuyên biệt, dành cho những người không được hoặc đang hưởng sự chăm sóc thiếu đầy đủ như người khuyết tật, người già cô đơn không nơi nương tựa, trẻ em mồ côi, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn.
Nói về các hoạt động công tác xã hội, Bộ trưởng Bộ LĐ-TB&XH Nguyễn Thị Kim Ngân cho rằng, hoạt động công tác xã hội ở nhiều quốc gia trên thế giới đã xuất hiện và dần mang tính chuyên nghiệp hóa từ hàng thế kỷ nay. Các hoạt động công tác xã hội ở nhiều quốc gia đã được hình thành từ cuối thế kỷ XIX với các hoạt động chăm sóc nhân đạo đối với người nghèo. Ở Việt Nam, công tác xã hội cũng đã hình thành và phát triển từ nhiều năm nay và có vai trò quan trọng trong các hoạt động xã hội như chăm sóc, phục hồi chức năng các đối tượng nghiện ma túy, mại dâm, nhiễm HIV, phụ nữ và trẻ em bị buôn bán và lạm dụng tình dục, vi phạm pháp luật... Thực tế hiện nay, nhiều tổ chức từ thiện tự nguyện vẫn hoạt động công tác xã hội thông qua các chương trình vận động, quyên góp và hỗ trợ người nghèo, người hoạn nạn. Đặc biệt, thời gian gần đây, với các chính sách quan tâm tới người có công với cách mạng, nhiều điều dưỡng viên đã và đang chăm sóc các đối tượng chính sách, người già cô đơn không nơi nương tựa. Mặc dù được trả lương nhưng thực chất, họ đang hoạt động công tác xã hội với các công việc cụ thể. Ngoài nhiệm vụ chăm sóc, họ còn có các hoạt động khác như tham vấn, chăm sóc về tâm lý, tình cảm.
Ở nước ta, việc hình thành một đội ngũ những người làm công tác xã hội để làm những việc chuyên biệt đang dần trở thành một đòi hỏi cần thiết của nhiều người cao tuổi, nhiều gia đình neo người. Theo dự báo của Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc - UNICEF, đến năm 2010, Việt Nam sẽ cần khoảng 15.000 cán bộ công tác xã hội được đào tạo bài bản và khoảng 50.000 cộng tác viên cấp xã, phường. Và để đạt được tỉ lệ 1 cán bộ công tác xã hội chuyên nghiệp/10.000 người dân, trong 5 năm tới, Việt Nam cần khoảng 8.500 người làm việc trong các cơ quan nhà nước và khoảng 25.000 cán bộ công tác xã hội bán chuyên nghiệp.
Để chuẩn bị cho xu hướng phát triển các hoạt động công tác xã hội, trợ giúp cộng đồng, năm 2004, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã cấp mã ngành đào tạo cho Trường Đại học LĐ-TB&XH. Và mới đây, Bộ LĐ-TB&XH đã xây dựng đề án phát triển nghề công tác xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội trong tương lai gần. Việc hình thành nghề công tác xã hội không chỉ là chuyện nghề, mà còn nhằm thực hiện các chính sách an sinh xã hội, trợ giúp người già, người khuyết tật và trẻ mồ côi ổn định về tâm lý, tình cảm.
(Theo báo HNM)
http://www.cpv.org.vn

7 tháng 2, 2009

Công tác xã hội cần phát triển như một nghề chuyên nghiệp


(VnMedia) - Đã đến lúc nước ta đẩy mạnh công tác xã hội như một nghề chuyên nghiệp, nếu không nguy cơ mất “cân đối” giữa phát triển kinh tế và xã hội sẽ diễn ra. Phát triển nghề CTXH sẽ hỗ trợ quá trình phát triển kinh tế - xã hội bền vững, đảm bảo tăng trưởng kinh tế luôn đi đôi với phát triển xã hội và công bằng xã hội.

Đó là khẳng định của ông Nguyễn Trọng Đàm, Cục trưởng Cục Bảo trợ Xã hội. Theo ông Đàm, công tác xã hội có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, bảo vệ quyền con người, nhân phẩm, giá trị con người, công bằng và bình đẳng xã hội. Thúc đẩy một xã hội hài hoà vì hạnh phúc của tất cả các cá nhân trong xã hội.

Mục đích chung của công tác xã hội là hỗ trợ cho an sinh xã hội bằng cách giúp đỡ những người không thể tự đạt được an sinh như người tâm thần sa sút, lang thang kiếm sống, tàn tật, già cả cô đơn, nhiễm HIV/AIDS vi phạm luật pháp, phạm tội, mại dâm, nghiện ma tuý, nghiện rượu, cờ bạc; các gia đình ly hôn, ly thân, mâu thuẫn trong gia đình, bạo lực, lạm dụng, sao nhãng chăm sóc trẻ em, hoàn cảnh gia đình éo le không bình thường và cộng đồng yếu kém, nghèo, có đông đối tượng xã hội.

Công tác xã hội cũng quan tâm đến cả đối tượng có nguy cơ nảy sinh các vấn đề xã hội. Trong phạm vi rộng hơn, công tác xã hội còn chú trọng đến môi trường xã hội trong đó bao gồm cả việc tác động đến cơ chế chính sách có ảnh hưởng đến con người và cộng đồng.

Công tác xã hội chưa cao, thiếu tính bền vững

Hiện nay, cả nước có trên 30 trường đại học đào tạo cử nhân công tác xã hội, đang đào tạo khoảng 2000 sinh viên hệ cử nhân công tác xã hội. Tuy nhiên công tác đào tạo nghề xã hội còn nhiều bất cập như: chưa có chương trình đào tạo chuẩn, chưa có chức danh tiêu chuẩn nghề,...

Theo báo cáo của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, tính đến năm 2007, Việt Nam có khoảng 7,5 triệu người cao tuổi, trong đó có khoảng 200 nghìn người già cô đơn, 5, 3 triệu người tàn tật trong đó có khoảng 300 nghìn người tàn tật nặng không có khả năng tự phục vụ và khả năng lao động; trên 1,4 triệu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và khoảng 2,7 triệu hộ nghèo.

Trong số các đối tượng xã hội nêu trên có khoảng 1,3 triệu người thuộc diện khó khăn cần trợ cấp xã hội, bằng khoảng 1,52% dân số; 3006 xã tỷ lệ nghèo trên 25% và 61 huyện tỷ lệ nghèo trên 50% và hàng nghìn xã có vấn đề xã hội (tệ nạn xã hội, môi trường sống ô nhiễm, nghèo khổ...); hàng triệu cá nhân, gia đình, nhóm xã hội nảy sinh các vấn đề xã hội (ly thân, ly hôn, bạo lực trong gia đình, thiếu quan tâm đến con cái, căng thẳng vì nghèo khổ, xâm hại tình dục, bỏ nhà đi lang thang, tệ nạn cờ bạc, nghiện hút, trộm cắp, tội phạm, HIV/AIDS bị cộng đồng xa lánh...).

Nhưng tất cả các đối tượng nêu trên chỉ nhận được sự trợ giúp của đội ngũ nhân viên công tác xã hội “nghiệp dư” (khoảng 20 nghìn người). Đây là những người làm việc theo kinh nghiệm, chưa được đào tạo kỹ năng khoa học cần thiết về công tác xã hội. Do vậy, hiệu quả giải quyết các vấn đề xã hội, vấn đề của cá nhân, gia đình, nhóm xã hội và cộng đồng dân cư không cao, thiếu tính bền vững.

Phát triển công tác xã hội thành một nghề có mã nghề

Công tác xã hội ở Việt Nam đang trong quá trình hình thành, phát triển. Nếu so sánh tính chuyên nghiệp của công tác xã hội của nước ta với các nước phát triển và ngay cả những nước trong khu vực, chúng ta còn một khoảng cách khá lớn về nhận thức, về mặt thể chế chính sách, về tài chính, về mạng lưới tổ chức cung cấp dịch vụ và mạng lưới nhân viên công tác xã hội và việc đào tạo nhân viên công tác xã hội.

Chính vì vậy để phát triển nghề công tác xã hội ở nước ta và đưa khoa học công tác xã hội vào giải quyết và ngăn ngừa các vấn đề của cá nhân, gia đình, nhóm xã hội, cộng đồng dân cư và của xã hội, chúng ta cần nhìn nhận đúng thực trạng của công tác xã hội ở nước ta hiện nay và đưa ra định hướng phát triển nghề này. Cần phải có lộ trình cho việc phát triển công tác xã hội, phải có mục tiêu trước mắt, mục tiêu lâu dài và các giải pháp thực hiện mục tiêu phù hợp với những điều kiện của Việt Nam.

Ông Nguyễn Trọng Đàm cho biết, trước mắt chúng ta cần nghiên cứu, xây dựng đề án phát triển công tác xã hội ở Việt Nam từ nay đến năm 2015. Theo đó, phát triển công tác xã hội thành một nghề nghiệp có mã nghề với các qui định chức danh tiêu chuẩn cụ thể, với thang bảng lương cho từng vị trí làm việc và phù hợp với trình độ đào tạo về công tác xã hội. Việc tuyển dụng, bố trí nhân viên có trình độ đào tạo nghiệp vụ công tác xã hội phải theo qui định và yêu cầu thực tiễn tay nghề của mỗi vị trí công việc.

Theo ông Đàm, việc đẩy mạnh tuyển dụng nhân viên công tác xã hội chuyên nghiệp trong nhiều lĩnh vực, trước mắt đặc biệt chú ý tới việc bố trí, sử dụng nhân viên trong ngành Lao đông Thương binh và Xã hội, sau đó là các lĩnh vực liên quan như giáo dục, y tế, tòa án,...

Thứ trưởng Bộ Lao động Thương binh và Xã Hội Lê Bạch Hồng: Ở nước ta hiện nay, công tác xã hội vẫn còn được coi là một nghề khá mới mẻ, nhận thức xã hội về công tác xã hội còn nhiều hạn chế, chưa coi nghề này là một nghề chuyên nghiệp cũng chưa có hệ thống mã nghề, thang, bảng lương…. Do vậy, Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội có thể lắng nghe những ý kiến đóng góp của các bộ, ngành hữu quan cũng như của các chuyên gia, nhà nghiên cứu khoa học về lĩnh vực công tác xã hội để hoàn thiện Đề án phát triển nghề công tác xã hội. Thứ trưởng Lê Bạch Hồng cũng đề nghị đào tạo, nâng cấp đội ngũ cán bộ làm công tác xã hội hiện có, tạo sự liên kết, liên thông với các ngành, lĩnh vực khác cần có sự tham gia của công tác xã hội….

Bà Lê Hồng Loan, Trưởng Phòng Bảo vệ chăm sóc Trẻ em thuộc UNICEF: Nghề công tác xã hội ở Việt Nam là rất cần thiết do những biến đổi nhanh chóng về kinh tế xã hội và những tác động của quá trình đổi mới, dẫn đến những vấn đề và nhu cầu xã hội bắt nguồn từ những thay đổi trong mối quan hệ gia đình và cộng đồng, tác động của quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa và hiện đại hóa, sự chênh lệch và phát triển kinh tế không đồng đều giữa các vùng miền, di cư từ nông thôn ra đô thị. Thêm vào đó là sự gia tăng của số lượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, số lượng người già và người khuyết tật, vấn đề HIV/AIDS, tệ nạn xã hội ... Tất cả những vấn đề đó đòi hỏi cần phải có một đội ngũ cán bộ xã hội chuyên nghiệp để giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa con người và con người, góp phần tích cực vào sự phát triển phúc lợi của một xã hội hiện đại.

Bà Loan cũng khuyến nghị, trong thời gian trước mắt, việc đào tạo nguồn nhân lực công tác xã hội cần tập trung vào các lĩnh vực như bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, bảo trợ xã hội, người tàn tật và người cao tuổi, phòng chống tệ nạn xã hội và phát triển xã hội. Trong giai đoạn trung hạn, nhân viên xã hội cần được các bệnh viện và phòng khám tuyển dụng, có sự kết hợp cả các nhân viên xã hội chuyên trách và bán chuyên trách.

Ông Nguyễn Trọng Đàm, Cục trưởng Cục Bảo trợ Xã hội: Hiện nay, Bộ đang phối hợp với UNECEF xúc tiến chương trình xây dựng đề án nghề công tác xã hội, làm thế nào để chúng ta có đội ngũ cán bộ, nhân viên rộng khắp ở các địa phương cơ sở, như vậy mới có thể tiếp cận được với các đối tượng để đưa ra các chính sách hoạt động phù hợp.

Theo UNICEF: Để đạt được tỷ lệ 1 cán sự xã hội chuyên nghiệp/10.000 người dân, Việt Nam sẽ cần đội ngũ khoảng 8500 người trong các cơ quan Nhà nước trong vòng 5 năm tới, còn trong 10 năm nữa cần tăng lên 15.000 người; số lượng cán bộ bán chuyên nghiệp trong 5 năm tới là khoảng 25,000; và sẽ tăng lên 50.000 người trong 10 năm; cùng với đó là khoảng 150.000 cộng tác viên cấp xã. Thách thức của Việt Nam hiện nay là trong một thời gian ngắn có thể đào tạo được một đội ngũ cán bộ như vậy để đáp ứng được yêu cầu hay không?
Nguồn: VnMedia.vn

22 tháng 12, 2008

Làm thế nào sử dụng nguồn nhân lực qua đào tạo công tác xã hội ở Việt Nam hiệu quả


Làm thế nào sử dụng nguồn nhân lực qua đào tạo công tác xã hội ở Việt Nam hiệu quả
Viết bởi TS Nguyễn Hải Hữu
Thứ tư, 17 Tháng 12 2008 04:59
Công tác xã hội đã được rất nhiều nước trên thế giới công nhận là một nghề chuyên nghiệp, đội ngũ những người làm công tác xã hội trên thế giới được đào tạo rất cơ bản và đã hoạt động rất hiệu quả, góp phần to lớn vào việc xây dựng xã hội đồng thuận, lành mạnh, công bằng, vì hạnh phúc của con người.
Hiệp hội những người làm công tác xã hội thế giới đã được thành lập cách đây 82 năm, Hiệp hội đã trở thành điểm tựa tin cậy và vững chắc cho tất cả những người làm công tác xã hội trên phạm vi toàn thế giới, vì Hiệp hội chính là người bảo vệ, là người chia sẻ thông tin và nâng cao năng lực cho những người làm công tác xã hội. Song song với Hiệp hội những người làm công tác xã hội trên thế giới là Hiệp hội các trường đào tạo nhân viên công tác xã hội (Việt Nam thường gọi là cán bộ công tác xã hội), Hiệp hội này cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng chương trình đào tạo, chia sẻ kinh kinh nghiệm về đào tạo đội ngũ cán bộ công tác xã hội.

Công tác xã hội được công nhận là một nghề chuyên nghiệp ở một quốc gia là một quá trình,khi mà nó hội tụ đủ bốn yếu tố sau đây: Một là công tác xã hội được thừa nhận là một ngành đào tạo ở hệ thống các trường Đại học, Cao đẳng và Trung cấp chuyên nghiệp và có mã ngành đào tạo, Bộ giáo dục là cơ quan có thẩm quyền quyết định vấn đề này. Hai là phải ban hành được khung tiêu chuẩn nghiệp vụ chức danh cơ bản cán bộ công tác xã hội, Bộ Nội vụ chủ trì phối hợp cùng Bộ chuyên ngành là Bộ Lao động Thương binh và Xã hội ban hành khung tiêu chuẩn này. Ba là các Bộ, cơ quan chuyên ngành, trong đó Bộ Lao động Thương binh và Xã hội là cơ quan chủ chốt cần phải xác định rõ vị trí làm việc của các cán bộ xã hội trong phạm vi của ngành ở cấp trung ương đến cấp địa phương, cơ sở và ban hành tiêu chuẩn nghiệp vụ cụ thể cho các vị trí công tác của cán bộ công tác xã hội. Bộ tiêu chuẩn nghiệp vụ cụ thể này có thể phải làm trong nhiều năm, nhưng ít nhất Bộ Lao động Thương binh và Xã hội phải xác định được một số vị trí làm việc của cán bộ công tác xã hội và có tiêu chuẩn nghiệp vụ cụ thể. Thứ tư là Bộ Nội vụ phối hợp cùng Bộ Lao động Thương binh và xã hội cần xác định và hướng dẫn việc áp dụng hệ thống thang bảng lương hiện có cho đội ngũ cán bộ công tác xã hội phù hợp với vị trí công tác và trình độ đào tạo. Ngoài ra phải xây dựng được mạng lưới tổ chức cung cấp dịch vụ công tác xã hội những người trực tiếp sử dụng các cán bộ công tác xã hội đã qua đào tạo. Xây dựng Hiệp hội các nhà làm công tác xã hội và Hiệp hội các trường đào tạo công tác xã hội.Với mong muốn sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực qua đào tạo ngành công tác xã hội, trong những năm qua Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đã phối hợp chặt chẽ với các Bộ ngành liên quan, đặc biệt là Bộ Nội vụ, Bộ giáo dục, với sự hợp tác của Quỹ nhi đồng liên hợp quốc tại Việt Nam (UNICEF Việt Nam) đã triển khai các chiến dịch truyền thông và xây dựng đề án phát triển nghề công tác xã hội ở Việt Nam. Hy vọng trong một khoảng thời gian không xa Đề án này sẽ được các Bộ ngành thống nhất và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Khi đề án được phê duyệt, các bộ ngành sẽ tiếp tục xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý và tạo môi trường xã hội thuận lợi cho việc đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực công tác xã hội một cách hiệu quả hơn.

Tuy công tác xã hội chưa được công nhận là một nghề chuyên nghiệp ở nước ta, nhưng từ nhiều năm trước đây khi đất nước ta chưa thống nhất, ở Miền Nam đã có một số trường đào tạo ngành công tác xã hội, đây cũng là lớp người đầu tiên được đào tạo cơ bản và hiện nay lớp người này đã bước vào độ tuổi 70-80 tuổi; từ năm 2000 tới nay nước ta cũng đã có hàng trăm người được đào tạo cơ bản về công tác xã hội ở bậc đại học và thạc sỹ ở nước ngoài. Đây là nguồn nhân lực quý báu làm nòng cốt cho việc phát triển nguồn nhân lực trong hiện tại.

Từ năm 2004, Bộ giáo dục và Đào tạo đã ban hành mã đào tạo ngành công tác xã hội trong hệ thống giáo dục Đại học, Cao đẳng và Trung cấp chuyên nghiệp, đây là điểm khởi đầu thuận lợi cho việc phát triển nguồn nhân lực về công tác xã hội trong hiện tại và tương lai. Để đón đầu và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về dịch vụ công tác xã hội ở nước ta, hiện nay đã có trên 30 trường đại học, cao đẳng tham gia đào tạo ngành công tác xã hội, ước tính hàng năm có ít nhất 1.200 người tốt nghiệp Đại học và Cao đẳng ngành công tác xã hội và hàng trăm người tốt nghiệp trung cấp ngành công tác xã hội. Câu hỏi đặt ra là số sinh viên tốt nghiệp này ra trường đi về đâu, họ sẽ làm gì cho phù hợp với chuyên ngành được đào tạo?

Trong lúc công tác xã hội chưa được công nhận là một nghề chuyên nghiệp ở nước ta thì việc sử dụng nguồn nhân lực này như thế nào cho hiệu quả. Đây là bài toán dành cho các cơ quan quản lý và các trường Đại học, Cao đẳng trực tiếp tham gia đào tạo chuyên ngành công tác xã hội. Theo thống kê của Hiệp hội những người làm công tác xã hội thế giới cho thấy ở các quốc gia phát triển như Anh, Mỹ, Đức, Thuỵ Điển, Pháp, Nhật Bản.v.v… cứ 2000-3000 dân có một cán bộ công tác xã hội chuyên nghiệp (được đào tạo cơ bản chuyên ngành công tác xã hội ở trình độ Đại học, Cao đẳng), và khoảng 1000 dân có một cán bộ công tác xã hội bán chuyên nghiệp (đào tạo ở trình độ trung cấp, sơ cấp) về ngành công tác xã hội. Đây được coi là một trong những tiêu chí quan trọng đánh giá mức độ phát triển về công tác xã hội ở một quốc gia. Ỏ nước ta số cán bộ được đào tạo cơ bản ở trình độ Đại học, Cao đẳng chưa nhiều; số cán bộ, nhân viên trực tiếp làm việc ở các cơ sở bảo trợ xã hội, số lao động tự do trực tiếp chăm sóc người già ở các gia đình, bệnh viện theo dạng thuế mướn tạm thời cũng lên tới gần chục nghìn người; số cộng tác viên làm công tác dân số và bảo vệ chăm sóc trẻ em ở các thôn, bản lên tới 162 nghìn người.Trừ số cán bộ được đào tạo ở trình độ Đại học, cao đẳng, số còn lại hầu hết chưa qua đào tạo cơ bản, họ chỉ được tham gia các lớp tập huấn ngắn hạn nâng cao kỹ năng và hiểu biết về công tác xã hội.Vì vậy hầu hết những người này vẫn làm việc bằng kinh nghiệm mà họ học hỏi, tích luỹ được từ trong thực tiễn và bằng sự hiểu biết ít ỏi về công tác xã hội cộng với khả năng cảm nhận về nghề nghiệp, dẫn đến hiệu quả công tác xã hội còn nhiều hạn chế.

Nhu cầu về dịch công tác xã hội ở nước ta ngày một nhiều do kinh tế phát triển ngày càng nhanh và do tác động của quá trình hội nhập; Do vậy, trong khi công tác xã hội chưa được công nhận là một nghề chuyên nghiệp, các Bộ ngành liên quan cần tạo ra cơ chế phù hợp để sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực đã qua đào tạo ở trình độ đại học và cao đẳng. Việc làm trước tiên là cần xác định rõ vị trí làm việc và tiêu chuẩn hoá một số chức danh cán bộ làm công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em, cán bộ làm công tác bảo trợ xã hội thuộc khối cơ quan nhà nước từ trung ương đến cấp tỉnh, huyện, xã; một số chức danh ở các cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội, một số tổ chức đoàn thể xã hội, một số tổ chức phi chính phủ có liên quan đến cung cấp dịch vụ công tác xã hội phải đạt trình độ đào tạo Đại học hoặc Cao đẳng về công tác xã hội. Số nhân viên trực tiếp chăm sóc trẻ em, người già, người khuyết tật ở các cơ sở bảo trợ xã hội, các bệnh viện hoặc hành nghề tự do chăm sóc người già, trẻ em, người khuyết tật ở gia đình phải có trình độ trung cấp, sơ cấp về công tác xã hội hoặc ít nhất cũng phải có chứng chỉ nghề (tương tương trình độ sơ cấp). Thứ hai là ưu tiên tuyển dụng những người được đào tạo cơ bản có trình độ đại học, cao đẳng về công tác xã hội vào các cơ quan quản lý nhà nước ở các cấp, các ngành, các cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội, để họ có cơ hội sử dụng những kiến thức đã học vào thực tế công tác. Thứ ba tạo khung khổ pháp lý để phát triển các tổ chức cung cấp dịch vụ công tác xã hội kể cả khu vực nhà nước và khu vực tư nhân, qua đó thu hút được những người qua đào tạo cơ bản về công tác xã hội vào làm việc, khắc phục tình trạng học một nghề ra làm việc nghề khác không liên quan tới chuyên ngành mà họ được đào tạo, hạn chế tình trạng lãng phí nguồn nhân lực quý giá này.Thư tư là tạo hành lang pháp lý cho việc hành nghề tự do cung cấp dịch vụ công tác xã hội với tư cách là nhà tham vấn, tác nhân phát triển cộng đồng, nhà nghiên cứu khoa học để sử dụng số cán bộ được đào tạo cơ bản này thật sự hiệu quả. Thứ năm là tổ chức các chiến dịch truyền thông nâng cao nhận thức của người dân, cộng đồng xã hội về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của công tác xã hội và dịch vụ công tác xã hội thông qua đó để “kích cầu” sử dụng dịch vụ công tác xã hội. Thứ sáu là các Bộ ngành liên quan cần nhanh chóng nghiên cứu ban hành một số văn bản quy phạm pháp luật để tạo hành lang pháp lý và môi trường xã hội thuận lợi cho việc sử dụng nguồn nhân lực đã qua đào tạo cơ bản về công tác xã hội, đồng thời khẩn trương hoàn thiện đề án phát triển nghề công tác xã hội ở nước ta trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt để đi vào thực hiện.

Trong bối cảnh nghề công tác xã hội ở nước ta vẫn là vấn đề mới mẻ, chưa có sự hiểu biết sâu sắc, thì cần học hỏi kinh nghiệm của các nước để làm theo, không nên quá cầu toàn trong việc chuẩn bị Đề án dẫn đến làm chận tiến trình phát triển nghề công tác xã hội ở nước ta và dẫn đến việc sử dụng lãng phí nguồn nhân lực qua đào tạo cơ bản ngành công tác xã hội ở bậc đại học và cao đẳng. Thứ bẩy là cần làm tốt công tác dự báo “cung- cầu” nguồn nhân lực về công tác xã hội để có kế hoạch đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực này một cách hiệu quả nhất, tiết kiệm chi phí đào tạo cho người học và nhà nước. Hy vọng rằng với những biện pháp cấp bách nêu trên sẽ nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà quản lý, các nhà nghiên cứu, các cơ sở đào tạo và các ban sinh viên đã và đang theo học chuyên ngành công tác xã hội.

(theo Kỷ yếu Ngày Công tác xã hội năm 2008, Đại học Lao động-Xã hội)
Theo vnsocialwork.net

10 tháng 12, 2008

Định hướng phát triển CTXH chuyên nghiệp ở Việt Nam


Định hướng phát triển CTXH chuyên nghiệp ở Việt Nam
Viết bởi Lê Bạch Hồng (Bộ LĐTB,XH)
Công tác xã hội có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, bảo vệ quyền con người, nhân phẩm, giá trị con người, công bằng và bình đẳng xã hội. Thúc đẩy xây dựng một xã hội hài hoà vì hạnh phúc của tất cả các cá nhân trong xã hội.Có nhiều khái niệm về công tác xã hội (CTXH), nhưng theo Hiệp hội công tác xã hội thế giới thì công tác xã hội là hoạt động chuyên nghiệp nhằm tạo ra sự phát triển của xã hội thông qua sự tham gia vào quá trình giải quyết các vấn đề xã hội, tăng cường năng lực và giải phóng tiềm năng của mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng. Công tác xã hội giúp cho con người phát triển đầy đủ, hài hoà và đem lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho mọi người dân.
Mục đích chung của công tác xã hội là hỗ trợ cho an sinh xã hội bằng cách giúp đỡ những người không thể tự đạt được an sinh như người tâm thần sa sút, lang thang kiếm sống, tàn tật, già cả cô đơn, nhiễm HIV/AIDS vi phạm luật pháp, phạm tội, mại dâm, nghiện ma tuý, nghiện rượu, cờ bạc; các gia đình ly hôn, ly thân, mâu thuẫn trong gia đình, bạo lực, lạm dụng, sao nhãng chăm sóc trẻ em, hoàn cảnh gia đình éo le không bình thường và cộng đồng yếu kém, nghèo, có đông đối tượng xã hội. Công tác xã hội cũng quan tâm đến cả đối tượng có nguy cơ nảy sinh các vấn đề xã hội. Trong phạm vi rộng hơn, công tác xã hội còn chú trọng đến môi trường xã hội trong đó bao gồm cả việc tác động đến cơ chế chính sách có ảnh hưởng đến con người và cộng đồng.
Lịch sử của công tác xã hội bắt nguồn từ những xã hội cổ xưa. Hiệp ư­ớc do Công tư­ớc Ôlêc (nước Nga) ký kết với người Hy Lạp năm 911 là văn bản đầu tiên đề cập về sự quan tâm của Nhà nư­ớc đối với những công dân cần được trợ giúp của mình. Năm 1601, Đạo luật Elizabeth của Anh được ban hành nhằm vào sự giúp đỡ việc làm cho người nghèo, chăm sóc người già, người tàn tật và trẻ em mồ côi.
Cho đến đầu thế kỷ XIX, các hoạt động mang hình thái công tác xã hội đã được các tình nguyện viên ở Mỹ giúp đỡ chăm sóc sức khoẻ cho người nghèo, đặc biệt là giúp những nô lệ vừa được giải phóng nhanh chóng hoà nhập vào cộng đồng xã hội.
Giai đoạn 1850 - 1865, những hoạt động khởi nguồn của công tác xã hội được thực hiện bởi Uỷ ban từ thiện quốc gia, Uỷ ban từ thiện cộng đồng ở các nước phương Tây. Thời kỳ này hoạt động của các uỷ ban đều hướng tới mục đích: xây dựng những thiết chế nhằm duy trì trật tự, ổn định xã hội.
Năm 1946 được xác định là mốc đánh dấu công tác xã hội trở thành một nghề chuyên nghiệp trên thế giới. Đó là năm ra đời của Liên đoàn những nhà hoạt động công tác xã hội quốc tế và Hiệp hội các trường đào tạo nhân viên công tác xã hội bậc đại học và sau đại học. Năm 2006, Liên đoàn đã long trọng tổ chức lễ kỷ niệm 60 ngày thành lập và hội thảo khoa học về xu hướng toàn cầu về phát triển công tác xã hội như một nghề chuyên nghiệp.
Hiện nay ở các nước phát triển như Anh, Mỹ, Đức, Thuỵ Điển, Nhật Bản, cứ 1000-2000 dân có một cử nhân công tác xã hội được đào tạo ở trình độ đại học và 2-3 nhân viên công tác xã hội bán chuyên nghiệp. Cán bộ, nhân viên công tác xã hội có thể làm việc trong các cơ quan Nhà nước về an sinh xã hội, công tác xã hội ở cấp quốc gia, vùng, tỉnh, huyện và cấp xã; các trung tâm công tác xã hội cấp quận, huyện; các tổ chức phi Chính phủ và tư nhân cung cấp dịch vụ về công tác xã hội; các trường học phổ thông và các trường đại học; các trung tâm y tế cộng đồng, các bệnh viện, các toà án, các nhà tù và cơ sở giam giữ, các trường giáo dưỡng.
Trên 60 năm qua, thế giới đã chứng kiến vai trò và hiệu quả to lớn của công tác xã hội. Nó không những trực tiếp giải quyết những vấn đề xã hội không mong muốn nảy sinh đối với các cá nhân, gia đình, nhóm xã hội, cộng đồng dân cư, mà còn giảm bớt sự bất bình đẳng và phân tầng xã hội trong quá trình phát triển kinh tế- xã hội; góp phần giữ vững ổn định xã hội, tạo sự đồng thuận và phát triển bền vững vì hạnh phúc của tất cả các thành viên trong xã hội.
Qua việc tìm hiểu một số mô hình và một số đặc trưng của công tác xã hội của các nước trong khu vực và trên thế giới, chúng ta có thể đưa ra một số nhận xét sau:
Thứ nhất, công tác xã hội được công nhận là một nghề ở nhiều nước trên thế giới từ 60 năm trước đây và tuỳ điều kiện hoàn cảnh của mỗi nước mà công tác xã hội có những sắc thái riêng nhưng vẫn tuân thủ những nguyên tắc và chuẩn mực chung.
Thứ hai, công tác xã hội phát triển cùng với sự phát triển của kinh tế-xã hội để khắc phục những mặt trái nảy sinh trong quá trình phát triển; hướng tới một nền an sinh cho toàn dân, công bằng và dân chủ trong toàn xã hội.
Thứ ba, công tác xã hội luôn được các nước quan tâm phát triển và ứng xử như một khoa học với phương pháp tiếp cận, kỹ năng nghề nghiệp và quy điều đạo đức riêng. Từ lâu, nhiều nước trên thế giới đã có trường đại học về công tác xã hội, chính vì vậy mà hoạt động công tác xã hội ngày càng hiệu quả hơn.
Thứ tư, công tác xã hội chú trọng đến phát triển nguồn nhân lực và thể chế chính sách, thể chế tổ chức. Qua đó tiếng nói của cán bộ nhân viên xã hội như là một kênh thông tin giúp lãnh đạo các cấp hoạch định các chính sách xã hội, đưa ra các dự báo về các vấn đề xã hội mới nảy sinh, kịp thời điều chỉnh các chính sách xã hội phù hợp. Nhờ đó, có được một xã hội ổn định, các công dân có đầy đủ các cơ hội để phát huy tiềm năng của mình, góp phần thực hiện mục tiêu xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Ở Việt Nam, tính đến năm 2007, có khoảng 7,5 triệu người cao tuổi, trong đó có khoảng 200 nghìn người già cô đơn; 5,3 triệu người tàn tật trong đó có khoảng 300 nghìn người tàn tật nặng không còn khả năng tự phục vụ và khả năng lao động; trên 1,4 triệu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và khoảng 2,7 triệu hộ nghèo. Trong số các đối tượng xã hội nêu trên có khoảng 1,3 triệu người thuộc diện khó khăn cần trợ cấp xã hội, bằng khoảng 1,52% dân số; 3006 xã tỷ lệ nghèo trên 25% và 61 huyện tỷ lệ nghèo trên 50% và hàng nghìn xã có vấn đề xã hội (tệ nạn xã hội, môi trường sống ô nhiễm, nghèo khổ…); hàng triệu cá nhân, gia đình, nhóm xã hội nảy sinh các vấn đề xã hội (ly thân, ly hôn, bạo lực trong gia đình, thiếu quan tâm đến con cái, căng thẳng vì nghèo khổ, xâm hại tình dục, bỏ nhà đi lang thang, tệ cờ bạc, nghiện hút, trộm cắp, tội phạm, HIV/AIDS bị cộng đồng xa lánh…). Tuy nhiên, tất cả các đối tượng nêu trên chỉ nhận được sự trợ giúp của đội ngũ nhân viên công tác xã hội “nghiệp dư”(khoảng 20 nghìn người). Những người làm việc theo kinh nghiệm, chưa được đào tạo kỹ năng khoa học cần thiết về công tác xã hội. Do vậy, hiệu quả giải quyết các vấn đề xã hội, vấn đề của cá nhân, gia đình, nhóm xã hội và cộng đồng dân cư không cao, thiếu tính bền vững. Hiện nay, cả nước có trên 30 trường đại học đào tạo cử nhân công tác xã hội, đang đào tạo khoảng 2000 sinh viên hệ cử nhân CTXH. Tuy nhiên công tác đào tạo nghề công tác xã hội còn nhiều bất cập như: chưa có chương trình đào tạo chuẩn, chưa có chức danh tiêu chuẩn nghề…
Nhận xét một cách tổng quát: Công tác xã hội ở Việt Nam đang trong quá trình hình thành, phát triển. Nếu so sánh tính chuyên nghiệp của công tác xã hội ở nước ta với các n­ước phát triển và ngay cả những nước trong khu vực, chúng ta còn một khoảng cách khá lớn, đó là:
Thứ nhất, về nhận thức: Các ngành, các cấp và người dân chưa biết nhiều đến ngành công tác xã hội, đến cán bộ (nhân viên) công tác xã hội, ch­ưa nhận dạng được họ là ai, làm việc gì và ở đâu. Vai trò, nhiệm vụ công tác xã hội là gì, sự khác biệt giữa công tác xã hội với các ngành nghề liên quan khác.
Thứ hai, về mặt thể chế chính sách: Chưa có chiến lược về phát triển CTXH, cơ sở pháp lý cho sự phát triển nghề CTXH ch­ưa đ­ựơc hình thành một cách có hệ thống, cho đến nay mới có quyết định của Bộ Giáo dục và Đào tạo về chương trình khung đào tạo chuyên ngành CTXH và cho phép một số tr­ường đại học mở ngành đào tạo cử nhân CTXH. Việc xác định các vị trí làm việc cho nhân viên công tác xã hội trong các cơ quan quản lý Nhà nước, các tổ chức cung cấp dịch vụ, kể cả các NGO và các tổ chức đoàn thể có tham gia hoạt động công tác xã hội chưa được xác định. Tiêu chuẩn chức danh nghề CTXH ở các cấp, các loại hình công việc chưa được xác định; thang, bảng lương cho các chức danh cụ thể về công tác xã hội cũng chưa có.
Về cơ chế tài chính, Nhà nước chưa có cơ chế mua dịch vụ về CTXH để cung cấp cho các đối tượng xã hội yếu thế, chưa có cơ chế cung cấp tài chính cho các NGO để hoạt động công tác xã hội thông qua các hợp đồng. Bên cạnh đó vấn đề xã hội hoá việc huy động nguồn lực toàn xã hội để trợ giúp và cung cấp các dịch vụ xã hội cho người dân có vấn đề xã hội cũng chưa quản lý có hiệu quả, về lâu dài sẽ ảnh hưởng đến sự huy động nguồn lực toàn xã hội.
Thứ ba, về mạng lưới tổ chức cung cấp dịch vụ và mạng lưới nhân viên CTXH: Hệ thống các tổ chức liên quan đến cung cấp các dịch vụ về công tác xã hội thuộc ngành Lao động-Thương binh và Xã hội cũng chưa được hình thành đầy đủ theo 4 cấp theo đúng nghĩa của nó, lực lượng cán bộ lại quá mỏng và cũng thiếu tính chuyên nghiệp; các hoạt động hiện tại mang nặng tính quản lý Nhà nước hơn là chỉ đạo, hướng dẫn, hỗ trợ cung cấp dịch vụ công cho các đối tượng có vấn đề xã hội, nhằm giúp họ tự giải quyết các vấn đề xã hội nảy sinh.
Mạng l­ưới cán bộ (nhân viên) CTXH của Việt Nam ch­ưa đ­ược thiết lập cơ bản và hệ thống. Mặc dù có đội ngũ cán bộ văn hoá - xã hội ở cấp xã, phường, thị trấn, cán bộ trong các trung tâm bảo trợ xã hội, cán bộ hoạt động trong hệ thống hội chữ thập đỏ và các tổ chức NGO (khoảng 20.000 người) cung cấp dịch vụ cho người già, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, người khuyết tật v.v. nhưng họ chỉ là những nhân viên công tác xã hội nghiệp dư, chưa được đào tạo chuyên ngành CTXH.
Thứ t­ư, việc đào tạo nhân viên công tác xã hội: Mới dừng lại ở giai đoạn ban đầu, kinh nghiệm đào tạo còn ít. Đội ngũ giảng viên thiếu, nhiều trường ch­ưa có giáo viên đ­ược đào tạo cơ bản. Việc đào tạo chỉ có hiệu quả và chất lượng khi Nhà nước có một hệ thống tổng thể về công tác xã hội đó là thể chế chính sách, thể chế tổ chức và đội ngũ giảng viên CTXH chuyên nghiệp.
Định hướng phát triển CTXH ở Việt Nam
Để phát triển nghề công tác xã hội ở nước ta và đưa khoa học công tác xã hội vào giải quyết và ngăn ngừa các vấn đề của cá nhân, gia đình, nhóm xã hội, cộng đồng dân cư và của xã hội, chúng ta cần nhìn nhận đúng thực trạng công tác xã hội ở nước ta hiện nay và đưa ra định hướng phát triển ngành nghề này. Một mặt đáp ứng được nhu cầu của xã hội, mặt khác phù hợp với xu hướng phát triển của quốc tế. Lộ trình phát triển công tác xã hội sẽ thực hiện từng bước, có mục tiêu trước mắt, mục tiêu lâu dài và các giải pháp thực hiện mục tiêu phù hợp với những điều kiện của Việt Nam. Trước mắt chúng ta cần nghiên cứu, xây dựng Đề án phát triển nghề CTXH ở Việt Nam từ nay đến năm 2015, trong đó tập trung vào giải quyết một số vấn đề sau:
1. Nâng cao nhận thức về CTXH chuyên nghiệp ở Việt Nam, phổ biến tuyên truyền rộng rãi về vai trò, vị trí của CTXH chuyên nghiệp trong việc can thiệp giải quyết các vấn đề của các đối tượng và xã hội. Việc nhận thức này phải được tiến hành ở các cấp, các ngành và tới mọi người dân.
2. Xây dựng cơ chế, chính sách đẩy mạnh xã hội hoá việc huy động nguồn lực toàn xã hội để trợ giúp và cung cấp các dịch vụ xã hội cho người dân yếu thế, giảm tải cho ngân sách Nhà nước. Bên cạnh đó, cần xây dựng cơ chế tài chính Nhà nước mua dịch vụ của các cơ sở cung cấp dịch vụ về CTXH để cung cấp cho các đối tượng xã hội yếu thế, cung cấp tài chính cho các NGO thông qua các hợp đồng với chính quyền địa phương.
3. Phát triển CTXH trở thành một ngành nghề chuyên nghiệp có mã nghề với các qui định chức danh tiêu chuẩn cụ thể, với thang bảng lương cho từng vị trí làm việc và phù hợp với trình độ đào tạo về CTXH. Việc tuyển dụng bố trí nhân viên có trình độ đào tạo nghiệp vụ công tác xã hội phải theo qui định và yêu cầu thực tiễn tay nghề của mỗi vị trí công việc.
4. Đẩy mạnh việc tuyển dụng nhân viên CTXH chuyên nghiệp trong nhiều lĩnh vực, trước mắt đặc biệt chú ý tới việc bố trí, sử dụng nhân viên trong ngành Lao động-Thương binh và Xã hội, sau đó là các lĩnh vực liên quan như giáo dục, y tế, toà án v.v; Xây dựng hệ thống các tổ chức cung cấp dịch vụ xã hội tại mỗi cộng đồng dân cư, có các nhân viên xã hội chuyên nghiệp cung cấp các dịch vụ an sinh xã hội đảm bảo cho việc can thiệp các vấn đề xã hội kịp thời và hiệu quả, qua đó thúc đẩy thêm việc triển khai, thực hiện các chính sách xã hội.
5. Thúc đẩy đào tạo CTXH chuyên nghiệp ở nhiều trường đại học, xây dựng chương trình đào tạo CTXH ở nhiều trình độ, sơ cấp, trung cấp, đại học và sau đại học để đáp ứng nhu cầu đa dạng về nguồn nhân lực của xã hội. Tăng cường đào tạo giảng viên CTXH, nâng cao chất lượng đào tạo thông qua đổi mới phương pháp đào tạo, chú ý tới thực hành, thực tập trong đào tạo.
Đã đến lúc nước ta đẩy mạnh phát triển công tác xã hội như một nghề chuyên nghiệp, nếu không nguy cơ mất “cân đối” giữa phát triển kinh tế và xã hội sẽ diễn ra. Phát triển nghề CTXH sẽ hỗ trợ cho quá trình phát triển kinh tế-xã hội bền vững, đảm bảo tăng trưởng kinh tế luôn đi đôi với phát triển xã hội và công bằng xã hội./.

(Theo Trường ĐHLĐXH)

24 tháng 11, 2008

Vai trò của CTXH chuyên nghiệp


Vai trò của CTXH chuyên nghiệp
Viết bởi TS Đàm Hữu Đắc
Thứ sáu, 21 Tháng 11 2008 01:07
Sau hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Việt Nam đã có những thay đổi tích cực và quan trọng trên nhiều lĩnh vực. Nền kinh tế - xã hội đang phát triển theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Mức sống của nhân dân ngày càng được nâng cao. Quan điểm xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta là tăng trưởng kinh tế phải tiến hành đồng thời với tiến bộ và công bằng xã hội. Song song với tăng trưởng kinh tế phải tập trung cho giảm nghèo, trợ giúp các đối tượng yếu thế. Hệ thống luật pháp, chính sách về an sinh xã hội đã được hình thành và từng bước hoàn thiện. Tính từ năm 1989 đến nay đã có trên 10 Bộ luật, luật; 7 Pháp lệnh và nhiều Nghị định, Quyết định, Chỉ thị, Thông tư và các văn bản chỉ đạo khác trực tiếp hoặc có nội dung quy định khung pháp lý, chính sách xã hội ở Việt Nam; trợ giúp các đối tượng, góp phần ổn định xã hội.
Các chính sách ngày càng toàn diện hơn, bao trùm các nhu cầu cơ bản của đối tượng: về nuôi dưỡng, giáo dục, chăm sóc sức khoẻ, phục hồi chức năng, hướng nghiệp, dạy nghề. Đối tượng trợ giúp từng bước được mở rộng, mức trợ cấp ngày càng cao hơn, cơ hội tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản ngày càng tốt hơn. Đặc biệt các chính sách mới ngày càng mang tính hội nhập, phát huy truyền thống văn hoá, nhân văn của dân tộc và mang tính xã hội hoá, không ỷ lại vào nhà nước; Hệ thống tổ chức bộ máy và đội ngũ nhân viên làm CTXH trong lĩnh vực an sinh xã hội ngày càng được mở rộng. Đó là những người làm việc trong các lĩnh vực chăm sóc và bảo vệ trẻ em, trợ giúp người khuyết tật, trợ giúp các cá nhân, gia đình tan vỡ, phòng chống tệ nạn ma tuý, mại dâm, chăm sóc bệnh nhân tâm thần, chăm sóc - trợ giúp người nhiễm và ảnh hưởng bởi HIV/AIDS, giảm nghèo và trợ giúp người già; Chương trình đạo tạo bậc cử nhân CTXH cũng đang được bắt đầu ở khoảng 30 trường đại học.

Tuy nhiên, những vấn đề xã hội bức xúc như: tình trạng đói nghèo, tệ nạn ma tuý, đại dịch HIV/AIDS, gia đình tan vỡ, trẻ em bị sao nhãng và bị xâm hại không có có chiều hướng giảm; Tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát thực thi chính sách còn nhiều bất cập; Tỉ lệ đối tượng được hưởng chính sách còn thấp (mới được trên 50%); Cán bộ làm công tác xã hội còn thiếu và chưa được đào tạo bài bản cả ở khâu hoạch định chính sách cũng như khâu tác nghiệp cụ thể, nhất là cán bộ làm việc trực tiếp với đối tượng. Đặc biệt đội ngũ những người làm CTXH chưa hiểu và chưa được đào tạo về CTXH nên làm việc chưa theo phương pháp khoa học của chuyên ngành CTXH; hệ thống tổ chức bộ máy cung cấp dịch vụ công tác xã hội chuyên nghiệp ở cộng đồng gần như chưa có ở tất cả các địa phương. Điều này đã ảnh hưởng tới hiệu quả của các chính sách xã hội trong tình hình mới với phương châm trợ giúp “Cho cần câu chứ không cho xâu cá”. Tình hình sẽ rất khó được cải thiện trừ khi nước ta ngành công tác xã hội chuyên nghiệp.

Trong khi Việt Nam chưa có ngành công tác xã hội chuyên nghiệp thì công tác xã hội đã được xem là một nghề mang tính chuyên nghiệp ở nhiều quốc gia từ gần thế kỷ nay. Sự có mặt của Hiệp hội Công tác xã hội Quốc tế khởi sự từ năm 1926 với hàng chục ngàn thành viên là cán bộ xã hội được đào tạo chuyên nghiệp của 78 nước trên thế giới và Hiệp hội các trường đào tạo công tác xã hội thế giới với sự tham gia của 80 quốc gia là một minh chứng cho lịch sử lâu đời của loaị hình nghề nghiệp này. Tại nhiều nước, các dịch vụ xã hội đã trở nên chuyên nghiệp hóa nhờ có sự tham gia đông đảo của đội ngũ cán bộ xã hội được đào tạo ở các trình độ cử nhân, thạc sỹ và tiến sỹ. Chất lượng của các chính sách, chương trình hay dịch vụ an sinh xã hội ở đây được phản ánh bởi tính phòng ngừa cao đối với các vấn đề xã hội. Tính chuyên nghiệp của công tác xã hội được thể hiện rất rõ nét trong huy động nguồn lực, phát huy tiềm năng của mỗi cá nhân, gia đình, cộng đồng và của cả các quốc gia. Do vậy, hoạt động này không chỉ tạo ra sự phát triển bền vững mà còn góp phần đáng kể cho việc giảm tải ngân sách nhà nước trong giải quyết các vấn đề lao động, việc làm và các vấn đề an sinh xã hội khác. Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, các nước không chỉ đề cập tới sự liên kết toàn cầu của các lĩnh vực kinh doanh, thương mại mà của cả hoạt động xã hội. Tại Hội nghị Quốc tế về công tác xã hội vào tháng 10 năm 2004 vừa qua được tổ chức ở Australia, vấn đề toàn cầu hóa trong các hoạt động công tác xã hội trên thế giới là một trong những chủ đề chính đựơc đưa ra thảo luận, tăng cường hiệu quả.

Theo Hiệp hội công tác xã hội thế giới, nghề công tác xã hội chuyên nghiệp là những hoạt động nhằm tạo ra sự phát triển của xã hội thông qua việc tham gia vào quá trình giải quyết các vấn đề xã hội, tăng cường năng lực và giải phóng tiềm năng của mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng. Công tác xã hội giúp cho con người phát triển đầy đủ, hài hoà và đem lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho mọi người dân. Công tác xã hội có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, bảo vệ quyền con người, nhân phẩm, giá trị con người, công bằng và bình đẳng xã hội; thúc đẩy xây dựng một xã hội hài hoà vì hạnh phúc của tất cả mọi người. Sau đây là những vai trò và nhiệm vụ mà nhân viên công tác xã hội đảm nhận trong từng loại hình dịch vụ cụ thể của nhân viên công tác xã hội tại nhiều nước trên thế giới:

Trong lĩnh vực bảo vệ trẻ em cần sự bảo vệ đặc biệt: nhân viên công tác xã hội đánh giá tình hình của đối tượng trẻ em đang nghi ngờ là bị lạm dụng hoặc sao nhãng, bao gồm cả chính bản thân các em và tiềm năng của các mối quan hệ gia đình. Với phương châm vì sự an toàn của trẻ em là điều quan trọng nhất nên trong một số trường hợp người nhân viên công tác xã hội sẽ thu xếp dịch vụ chăm sóc thay thế cho trẻ (Còn gọi là dịch vụ chăm sóc ngoài gia đình). Nhân viên công tác xã hội cũng có thể can thiệp vào đời sống của gia đình và cộng đồng, sử dụng các phương pháp như tham vấn, liệu pháp gia đình và giáo dục về mặt xã hội để giúp họ hiểu được nhu cầu của con em mình và nâng cao kỹ năng làm cha mẹ và tăng cường khả năng ứng phó.

Đối với các gia đình có vấn đề, mâu thuẫn, khủng hoảng: nhân viên công tác xã hội giúp đỡ các gia đình đánh giá các mối quan hệ không phù hợp và nâng cao khả năng để giải quyết các vấn đề của gia đình thông qua việc sử dụng các phương pháp như tham vấn, làm việc với gia đình hoặc liệu pháp gia đình. Trong những tình huống phải can thiệp là bạo lực trong gia đình, nhân viên công tác xã hội xác định mục tiêu là để từng thành viên của gia đình, và toàn thể gia đình có thể sống cùng nhau một cách an toàn, hòa thuận, giải quyết các bất hòa và xử lý các vấn đề của gia đình.

Lĩnh vực tư pháp người chưa thành niên: nhân viên công tác xã hội được quyền hạn trong việc cung cấp cho trẻ sự hỗ trợ về tâm lí xã hội cho trẻ em và người chưa thành niên trước tòa án, cho dự trẻ là nhân chứng, nạn nhân hay bị cáo. Họ có thể đi cùng với trẻ em hoặc người chưa thành niên thay cho cha mẹ và người giám hộ. Các nhân viên công tác xã hội cũng góp phần giáo dục định hướng, hỗ trợ tâm lý xã hội cho trẻ em và người chưa thành niên phạm tội phục hồi nhân phẩm sau khi ra khỏi trường giáo dưỡng hoặc tìm việc làm cho các em.

Trong các trường phổ thông, cao đẳng và đại học: Các vấn đề trong cuộc sống gia đình hoặc trong trường phổ thông, trường cao đẳng, đại học có thể ảnh hưởng đến khả năng học tập của học sinh, sinh viên. nhân viên công tác xã hội sẽ tiến hành giáo dục và tham vấn cho những học sinh, sinh viên gặp phải những vấn đề trong học tập. Nếu học sinh, sinh viên gặp phải các vấn đề trong gia đình thì nhân viên công tác xã hội sẽ sử dụng phương pháp làm việc với gia đình. nhân viên công tác xã hội cũng có thể phối hợp với giáo viên để tham vấn cho giáo viên xây dựng môi trường học tập thuận lợi cho những học sinh, sinh viên có vấn đề, giải quyết các bất hòa giữa các nhóm học sinh, sinh viên.

Lĩnh vực sức khỏe, bao gồm cả sức khỏe tâm thần (tại các bệnh viện và phòng khám): nhân viên công tác xã hội hỗ trợ về mặt tâm lí xã hội cho các bệnh nhân và gia đình trong việc đối mặt với các tác động của bệnh tật và sự ốm đau, bao gồm việc đánh giá các khía cạnh xã hội đóng góp cho bác sĩ quá trình chuẩn đoán và điều trị bệnh; cung cấp hỗ trợ tâm lý xã hội cho quá trình hồi phục của bệnh nhân và và thu xếp những dịch vụ hỗ trợ điều trị bệnh (nếu có sẵn những dịch vụ đó).

Bảo trợ xã hội cho người già cô đơn: nhân viên công tác xã hội đánh giá nhu cầu về khía cạnh xã hội của người già cô đơn để mang lại cho họ những hỗ trợ về mặt tâm lí xã hội và các dịch vụ chăm sóc (nếu sẵn có những dịch vụ đó). Đồng thời nhân viên công tác xã hội cũng đóng vai trò là cán bộ quản lý trường hợp để điều phối dịch vụ cho người già cô đơn, giám sát những thay đổi trong nhu cầu của họ để tìm kiếm dịch vụ cần đáp ứng. Nhân viên công tác xã hội cũng đảm nhận vai trò quản lý chăm sóc tập trung tại các trung tâm bảo trợ xã hội và cùng hợp tác với các trung tâm để cung cấp những hỗ trợ tâm lý xã hội cho những cá nhân cần loại hình hỗ trợ này.

Bảo trợ xã hội cho người tàn tật: nhân viên công tác xã hội đánh giá nhu cầu về khía cạnh xã hội của của người tàn tật. Đồng thời, họ cũng đóng vai trò là người quản lý trường hợp, hỗ trợ người tàn tật tiếp cận những dịch vụ phù hợp và duy trì tiếp cận một loạt các dịch vụ phối hợp tốt nhất. Trong trường hợp cần thiết, nhân viên công tác xã hội cũng cung cấp hỗ trợ tâm lý xã hội cho người tàn tật và gia đình của họ.

Phát triển cộng đồng tại các khu phố, cụm dân cư: nhân viên công tác xã hội giúp đỡ khu phố, cụm dân cư nhận dạng các vấn đề trong cộng đồng của mình và hỗ trợ họ tìm những nguồn lực cần thiết để giải quyết vấn đề của khu phố, cụm dân cư của mình. Những nguồn lực này có thể là cơ sở vật chất ví dụ như địa điểm cho thanh niên giao lưu. Nhân viên công tác xã hội cũng có thể giúp đỡ cộng đồng bày tỏ ý kiến về các vấn đề phát triển và truyền tải những vấn đề này đến các cấp chính quyền và những nhà hoạch định chính sách có liên quan.

Nghiên cứu xã hội và hoạch định chính sách xã hội: nhân viên công tác xã hội tiến hành nghiên cứu các vấn đề xã hội có tác động đến xã hội. Họ cũng hỗ trợ chính quyền xây dựng và thực hiện các chính sách và chương trình an sinh xã hội, ví dụ như đóng vai trò là tham mưu chính sách và cán bộ quản lý chương trình tại các cơ quan nhà nước.

Một vai trò nữa của công tác xã hội là góp phần giải quyết tệ nạn xã hội: Sự cung cấp các dịch vụ công tác xã hội nhằm hỗ trợ các trung tâm cai nghiện, trung tâm phục hồi nhân phẩm cho gái mại dâm và những người vi phạm pháp luật cũng như các trung tâm chăm sóc và hỗ trợ cho những người bị nhiễm HIV/AIDS, những phụ nữ bị buôn bán qua biên giới trở về hoà nhập cộng đồng. Đó là tất cả các lĩnh vực mà nhân viên xã hội phối hợp với các ngành và các tổ chức chính quyền để có thể đáp ứng được các nhu cầu của cá nhân hay tạo những sự thay đổi về môi trường xã hội mà đã làm gia tăng những vấn đề trong cộng đồng. Như trong công việc bảo trợ xã hội, tham vấn, công tác xã hội cá nhân và nhóm, phối hợp lập kế hoạch chương trình, quản trị và nghiên cứu là các phương pháp mà nhà nhân viên công tác xã hội có thể sử dụng trong những trường hợp này.

Nhân viên công tác xã hội cũng có vai trò quan trọng trong quá trình đô thị hoá ở nông thôn nhằm hỗ trợ cộng đồng đáp ứng các nhu cầu trong nền kinh tế hiện đại. Do tác động của đói nghèo và sự chuyển biến của nền kinh tế được diễn ra tại thành phố, các vùng nông thôn. Nhân viên công tác xã hội có thể đóng vai trò trong việc phối hợp với các chuyên gia phát triển kinh tế và các nhà làm công tác quy hoạch đô thị để đáp ứng nhu cầu của về nhà ở, việc làm cho người nghèo, người yếu thế trong xã hội.

Tóm lại, mọi xã hội văn minh và tiến bộ đều cần có các chính sách và kế hoạch cụ thể để phát huy các nguồn lực cho phát triển và tìm các phương thức đa dạng để bảo vệ và chăm sóc một cách có hiệu quả những đối tượng yếu thế như người tàn tật, người già, trẻ em, người dân tộc thiểu số, v.v. Trước những biến đổi hết sức to lớn của quá trình toàn cầu hoá đang diễn ra như vũ bão, cũng như đối mặt với thách thức khắc nghiệt của thiên nhiên diễn ra trong những năm đầu của thiên niên kỷ mới như dịch bệnh, động đất, sóng thần, bão lũ. Công tác xã hội ở nước ta đang đứng trước những thách thức rất to lớn, đó là:

- Đáp ứng được bản chất thay đổi của rủi ro và dễ bị tổn thương như là kết quả của thương mại hoá toàn cầu và thị trường lao động toàn cầu ngày càng phát triển.

- Giảm bớt và giảm nhẹ sự bất bình đẳng quốc tế và quốc gia.

- Duy trì ý trí và năng lực của các chính sách công để cung cấp các nguồn lực cho công tác xã hội và cải thiện hiệu quả những can thiệp của nhà nước trong điều kiện có hạn về nguồn lực.

Trong bối cảnh đó với đặc thù là một nước nghèo, lại trải qua những năm tháng dài chiến tranh nên đời sống nhân dân chưa cao, còn nhiều hộ gia đình nghèo khổ, gia đình đơn thân, ly tán. Mặt khác những tác động tiêu cực của cơ chế thị trường và xu thế toàn cầu hoá làm cho số đối tượng yếu thế cần trợ giúp của nước ta cao, đang tác động mạnh mẽ đến công tác xã hội. Để phát triển công tác xã hội chuyên nghiệp đáp ứng yêu cầu trong thời gian trước mắt và lâu dài theo chúng tôi cần tập trung vào một số công việc chủ yếu sau:

Một là: Cần phối hợp để tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách. Tiến tới luật hoá các lĩnh vực của an sinh xã hội.

Hai là: Kiện toàn đội ngũ nhân viên, mạng lưới cung cấp dịch vụ công tác xã hội ở tất cả các cấp, từ Trung ương đến các địa phương, cơ sở.

Ba là: Đào tạo nâng cao trình độ của nhân viên làm công tác xã hội để có đủ năng lực thực hiện và hội nhập với quốc tế.

Muốn vậy, trước hết chúng ta cần nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của công tác xã hội. Khẳng định công tác xã hội là một nghề chuyên môn với những chức danh nghiệp vụ ở từng cấp bậc từ thấp tới cao. Cần phải đào tạo nhân viên công tác xã hội chuyên nghiệp có trình độ từ trung cấp đến đại học, thạc sỹ và tiến sỹ và xây dựng chương trình đào tạo cho từng cấp học tương ứng. Có như vậy mới đáp ứng đuợc yêu cầu của tiến trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước cũng như quá trình hội nhập quốc tế.

Hiện nay, sau một thời gian nỗ lực của các Bộ, Ban ngành liên quan như Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội cùng một số trường đại học, cao đẳng trên cả nước, tháng 11 năm 2004 mã đào tạo ngành Công tác xã hội đã đựơc chính thức phê duyệt. Từ chỗ trong 2004 cả nước mới chỉ có 1-2 trường đào tạo loại hình cán bộ này, nay chúng ta đã có tới trên 30 trường Đại học và Cao đẳng xin phép triển khai đào tạo công tác xã hội. Điều này đánh dấu một bước phát triển về ngành công tác xã hội, mở đường cho việc chuyên môn hóa các cán bộ làm việc trong lĩnh vực an sinh xã hội ở nước ta.

Tuy nhiên, một vấn đề cấp bách cần được giải quyết như một bước tiếp theo đó là việc xây dựng và phê chuẩn hệ thống chức danh tiêu chuẩn nghề nghiệp đối với các nhân viên công tác xã hội. Đây là cơ sở cho việc bố trí, sử dụng nhân viên công tác xã hội sau đào tạo – một điều không thể thiếu được trong quá trình chuyên nghiệp hóa nghề công tác xã hội ở nước ta hiện nay.

Công tác xã hội đã chứng minh được tính cần thiết của mình trong việc góp phần giải quyết các vấn đề con người và xã hội. Mặt khác, nguyên lý, giá trị, các nguyên tắc và phương pháp của công tác xã hội đang ngày càng được chấp nhận trong nhiều khía cạnh của công tác phát triển. Chất lượng và mức độ đào tạo nhân viên công tác xã hội đang ngày càng phát triển.

Phát triển ngành công tác xã hội theo hướng chuyên nghiệp là đòi hỏi khách quan của công cuộc đổi mới đất nước.

(Nguồn: Trường ĐH LĐXH)

11 tháng 11, 2008

Kỷ niệm Ngày Công tác xã hội thế giới với chủ đề " Đào tạo và phát triển công tác xã hội ở Việt Nam: Cơ hội và thách thức"


Kỷ niệm Ngày Công tác xã hội thế giới với chủ đề " Đào tạo và phát triển công tác xã hội ở Việt Nam: Cơ hội và thách thức". (10/11/2008)
Sáng 10/11/2008, tại Trường Đại học Lao động- Xã hội, Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội phối hợp cùng Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF ) và Tổ chức Save the Children ( Thuỵ Điển) tổ chức Lễ kỷ niệm Ngày Công tác xã hội thế giới ( 10.11) lần thứ XI với chủ đề: " Đào tạo và phát triển công tác xã hội ở Việt Nam: Thách thức và triển vọng". Tham dự, có Bộ trưởng Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội Nguyễn Thị Kim Ngân, Chủ nhiệm Uỷ ban các Vấn đề Xã hội của Quốc hội Trương Thị Mai, Thứ trưởng Thường trực Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội Huỳnh Thị Nhân, Chủ tịch Hiệp hội các trường đào tạo công tác xã hội thế giới, GS. Yuen- Tsang Woon Ki, Angelina, Quyền Trưởng đại diện UNICEF Việt Nam Rajen Sharma; đại diện các bộ, ngành liên quan cùng đông đảo cán bộ, giảng viên, nhà nghiên cứu và sinh viên đến từ các cơ quan, tổ chức trong và ngoài nước, các trường đào tạo về công tác xã hội và các trung tâm bảo trợ xã hội trong cả nước.

Phát biểu tại lễ kỷ niệm, Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Ngân đã đánh giá, công tác xã hội là hoạt động mang tính chuyên nghiệp ở nhiều quốc gia trên thế giới từ gần thế kỷ nay. Tính chuyên nghiệp của công tác xã hội được thể hiện rất rõ trong huy động nguồn lực, tiềm năng của mỗi cá nhân, gia đình, cộng đồng vào giải quyết các vấn đề lao động, việc làm và đặc biệt là các vấn đề an sinh xã hội, qua đó góp phần nâng cao đời sống con người, giảm tải ngân sách Nhà nước trong giải quyết các vấn đề xã hội và hướng đến một xã hội công bằng, văn minh và dân chủ. Là một nước đang phát triển và phải đối mặt với nhiều thách thức, Việt Nam cũng đã sớm nhận thấy tầm quan trọng của công tác xã hội chuyên nghiệp trong quá trình phát triển. Do vậy, trong thời gian qua, chúng ta cũng đã nỗ lực phát huy nội lực và hội nhập, học hỏi kinh nghiệm từ bạn bè quốc tế vào giải quyết các vấn đề xã hội như trợ giúp người già, người khuyết tật, giải quyết vấn đề thất nghiệp, bình đẳng giới, nghèo đói, chăm sóc, bảo vệ trẻ em...và để giải quyết các vấn đề nói trên, ngoài việc mã ngành đào tạo công tác xã hội ra đời vào tháng 10/2004, hiện nay Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội đang chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành hữu quan xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ Đề án phát triển nghề công tác xã hội nhằm chuyên môn hoá hoạt động nghề này ở Việt Nam cũng như đào tạo đội ngũ cán bộ xã hội có chuyên môn, đạo đức, tác phong nghề nghiệp. "Việc phát triển công tác xã hội và đào tạo công tác xã hội chuyên nghiệp ở Việt Nam sẽ góp phần thực hiện tốt hơn các chính sách an sinh xã hội được ban hành", và "Một xã hội được xem là phát triển khi xã hội đó có được nền kinh tế tăng trưởng, môi trường chính trị ổn định và một nền an sinh xã hội bền vững"- Bộ trưởng kết luận và khẳng định, đây cũng chính là lý do hôm nay, chúng ta có mặt tại Lễ kỷ niệm này.
Sau các bài phát biểu và trình bày của Chủ tịch Hiệp hội các trường đào tạo công tác xã hội thế giới, GS. Yuen- Tsang Woon Ki, Angelina và Quyền Trưởng đại diện UNICEF tại Việt Nam Rajen Sharma, các đại biểu tham dự đã được xem một số hình ảnh, phóng sự về các hoạt động công tác xã hội ở Việt Nam và phần Toạ đàm về đào tạo và phát triển công tác xã hội với sự tham gia, trao đổi của các chuyên gia, nhà quản lý, giảng viên, cán bộ xã hội hàng đầu ở nước ta hiện nay.
Theo dự kiến, bên lề buổi lễ, trong hai ngày tiếp theo 11 và 12/11, tại Trường Đại học Lao động- Xã hội sẽ tiếp tục diễn ra một số Hội thảo khoa học, Triển lãm giới thiệu các khoa, bộ môn có đào tạo công tác xã hội, và một số hoạt động của sinh viên nhà trường và các trường có đào tạo chuyên ngành công tác xã hội cả nước./.
Tuấn Cường
Theo Molisa.net

11 tháng 9, 2008

Tiếp tục hoàn thiện dự thảo Đề án phát triển nghề công tác xã hội


Tiếp tục hoàn thiện dự thảo Đề án phát triển nghề công tác xã hội (09/09/2008)
Ngay sau hội thảo tại Hải Phòng, sáng 9/9/2008, tại Thành phố Hồ Chí Minh, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội phối hợp với Quỹ Nhi Đồng Liên hợp Quốc (UNICEF) tổ chức Hội thảo “Đề án phát triển nghề công tác xã hội”. Tham dự, có Thứ trưởng Lê Bạch Hồng, đại diện lãnh đạo Bộ Giáo dục và Đào tạo, UNICEF tại Việt Nam, Cục Bảo trợ Xã hội, các Sở Lao động – Thương binh và Xã hội các tỉnh, thành phía Nam cùng các nhà khoa học, nhà nghiên cứu đến từ các trường đại học trong và ngoài nước.

Phát biểu khai mạc Hội thảo, Thứ trưởng Lê Bạch Hồng nhấn mạnh: Hội thảo lần này nhằm lấy ý kiến đóng góp để xây dựng và ban hành khuôn khổ pháp lý để phát triển nghề công tác xã hội; củng cố phát triển mạng lưới tổ chức cung cấp các dịch vụ công tác xã hội và mạng lưới cán bộ nhân viên công tác xã hội. Trong giai đoạn đầu từ năm 2009 – 2015, sẽ áp dụng nghiên cứu, thử nghiệm; giai đoạn 2013 – 2015 sẽ đúc kết và nhân rộng trên phạm vi toàn quốc. Đồng thời phát triển chương trình, nội dung đào tạo các bậc từ trung cấp, cao đẳng, đại học và nâng cao năng lực đội ngũ giảng viên công tác xã hội.
Theo Thứ trưởng Lê Bạch Hồng, hiện nay nghề công tác xã hội trên thế giới đã phát triển từ lâu, song đối với Việt Nam còn mới mẻ. Trong xu thế toàn cầu hóa, việc đẩy mạnh phát triển nghề công tác xã hội là một yêu cầu tất yếu, bởi nó đóng một vai trò rất quan trọng trong lĩnh vực bảo trợ xã hội liên quan đến công tác chăm sóc trẻ em, người già cô đơn không nơi nương tựa, người khuyết tật, thương binh và người trưởng thành dễ bị tổ thương. Trong lĩnh vực này, công tác xã hội bao gồm: các hoạt động tham vấn, làm việc với cá nhân, quản lý ca, làm việc nhóm, vận động xã hội và có vai trò quan trọng đối với hoạt động nghiên cứu và xây dựng chính sách xã hội. Ngoài ra, công tác xã hội còn đóng vai trò quan trọng đối với việc phục hồi và chăm sóc cho những người nghiện ma túy, những người hành nghề mại dâm, người bị nhiễm HIV, phụ nữ và trẻ em bị buôn bán và lạm dụng tình dục, những người vi phạm pháp luật. Công tác xã hội còn cung cấp các dịch vụ quan trọng trong xã hội như: tham vấn, tư vấn, nghiên cứu, đào tạo nhân viên công tác xã hội.
Còn theo Giáo sư Richard Hugman, trường Đại học New South Wales, Chuyên gia tư vấn của UNICEF tại Việt Nam: Nghề công tác xã hội đã thúc đẩy sự phát triển xã hội, giải quyết các vấn đề trong mối quan hệ, việc tạo khả năng và giải phóng con người nhằm thúc đẩy phúc lợi. Công tác xã hội là một nghề thực hành ở mức độ cao dựa trên các phương pháp và nguyên tắc đặc biệt với mục đích nhằm hỗ trợ các cá nhân, các nhóm, cộng đồng giải quyết các vấn đề xã hội. Giáo sư Richard Hugman cũng đã đưa ra một dẫn chứng về vai trò và trách nhiệm của công tác xã hội chuyên nghiệp với mục đích cung cấp những kiến thức cơ bản cho việc phát triển nghề này tại Việt Nam.
Bà Lê Hồng Loan, Trưởng phòng Bảo vệ trẻ em UNICEF cho rằng: Công tác xã hội trên thế giới đều dựa trên một định nghĩa giống nhau, mục tiêu cơ bản và những giá trị chung. Tuy nhiên, mỗi quốc gia lại có hướng tiếp cận của riêng mình, hướng tiếp cận này phản ánh trình độ/giai đoạn phát triển, nguồn lực và văn hóa của quốc gia. Điển hình như ở Mỹ, Úc, và Scandinavia thì nhấn mạnh sự tương tác với cá nhân trong một điều kiện một hệ thống phúc lợi xã hội đã phát triển ở trình độ cao. Còn ở các quốc gia khác, ví dụ như Philippines, Papua New Guinea, các quốc gia Đông và Nam Phi thì trọng tâm là sự phát triển xã hội… Còn công tác xã hội ở Việt Nam hiện nay còn thiếu các điều kiện về pháp lý để ghi nhận tính chuyên nghiệp. Việc giảng dạy và đào tạo chuyên ngành công tác xã hội đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt từ năm 2004, trong đó có khoảng 2000 người đã được đào tạo, song nó chưa đáp ứng được nhu cầu của xã hội hiện nay. Do đó, việc chuyên môn hóa công tác xã hội là rất quan trọng vì nó tạo điều kiện cho các kiến thức khoa học và việc giáo dục có hệ thống lĩnh vực này nhằm giải quyết các vấn đề xã hội ngày càng phức tạp ở nước ta hiện nay, góp phần tích cực vào sự phát triển phúc lợi của một xã hội hiện đại. Chính vì thế, việc xây dựng và hình thành khung pháp lý nghề công tác xã hội có tính chuyên nghiệp là hết sức cần thiết để đáp ứng như cầu trong xã hội hiện đại ngày nay.
Tại hội thảo, các đại biểu còn được nghe nhiều tham luân và những ý kiến đóng góp chân thành của các đại biểu đến từ các Bộ, ban ngành, các Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, các nhà khoa học, nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. /.
Hoàng Cảnh - Thu Hà
From Molisa

9 tháng 9, 2008

Hội thảo về “Đề án phát triển nghề công tác xã hội ở Việt Nam”


Hội thảo về “Đề án phát triển nghề công tác xã hội ở Việt Nam” (05/09/2008)
Trong 2 ngày 4 và 5/9/2008, tại Đồ Sơn (Hải Phòng) đã diễn ra Hội thảo “Đề án phát triển nghề công tác xã hội ở Việt Nam” giai đoạn 2009 – 2015 do Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội phối hợp với UNICEF tổ chức. Tới dự Hội thảo có Thứ trưởng Lê Bạch Hồng; Giáo sư Rechart Hugman, Nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Công tác xã hội (CTXH) New South Well; ông Nguyễn Hải Hữu - Cục trưởng Cục Bảo trợ xã hội; bà Lê Hồng Loan - Trưởng phòng bảo vệ trẻ em thuộc UNICEF tại Việt Nam cùng lãnh đạo, đại diện các bộ, ngành, địa phương có liên quan.

Nghề CTXH ở Việt Nam đang được xếp vào giai đoạn đầu của quá trình phát triển, mặc dù từ hơn nửa thế kỷ qua đã có các hoạt động trợ giúp xã hội. Tính chuyên nghiệp của CTXH ở nước ta so với các nước phát triển còn một khoảng cách khá lớn, thể hiện trên tất cả các mặt: Nhận thức, thể chế, mạng lưới tổ chức hoạt động, chiến lược phát triển và vấn đề đào tạo. Bên cạnh đó, xuất phát từ nhu cầu của xã hội, sự phân hóa giàu nghèo, các tệ nạn xã hội nảy sinh, nhu cầu của các gia đình có vấn đề xã hội và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, nhu cầu của một số thành viên trong xã hội cần sự bảo trợ của Nhà nước, nhu cầu hỗ trợ tâm lý cho bệnh nhân trong bệnh viện… Vì vậy, đề án phát triển nghề CTXH trong giai đoạn hiện nay là hoàn toàn cần thiết nhằm nâng cao nhận thức về CTXH, tạo khuôn khổ pháp lý để chuyên nghiệp hóa nghề này, thiết lập mạng lưới các tổ chức sử dụng nhân viên CTXH và mạng lưới nhân viên CTXH tại các tổ chức thuộc các cơ quan hành chính, các trung tâm CTXH, các cơ sở bảo trợ xã hội, các tổ chức thuộc khu vực tư nhân…
Từ tầm quan trọng và ý nghĩa của việc cần thiết phải phát triển CTXH như một nghề chuyên nghiệp, Thủ tướng Chính phủ đã có ý kiến chỉ đạo tại Công văn số 1817/VPCP-VX ngày 6/4/2006 giao cho Bộ LĐTBXH chủ trì và phối hợp với các Bộ ngành liên quan xây dựng đề án “Phát triển nghề CTXH ở Việt Nam”.
Phát biểu khai mạc hội thảo, Thứ trưởng Lê Bạch Hồng nhấn mạnh: Trong những năm qua, cùng với sự phát triển kinh tế, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến việc phát triển CTXH. Các vấn đề an sinh xã hội được đặt lên nhiệm vụ hàng đầu. Để thực hiện điều này, Việt Nam đã có hàng ngàn cán bộ làm trong lĩnh vực này ở tất cả các cấp, tuy nhiên, số được đào tạo bài bản, chính quy rất ít. Nguyên nhân chính là do chúng ta chưa có văn bản pháp quy về nghề CTXH. Trong thực tế, nghề này tồn tại nhưng trong các văn bản pháp luật của Nhà nước và trong hệ thống giáo dục đào tạo chưa có. Chức danh nghề, tiêu chuẩn đào tạo, các dịch vụ CTXH… còn có nhiều ý kiến khác nhau. Vì vậy, khung đề án đang được xây dựng, hoàn thiện và tiếp tục thảo luận các vấn đề: Khái niệm, vai trò, nhiệm vụ, chức năng và cấu trúc của nghề CTXH chuyên nghiệp cũng như phạm vi của đề án v.v… để tổng hợp ý kiến của các chuyên gia và xin ý kiến của các Bộ, ngành có liên quan, trình Chính phủ ban hành hàng loạt vấn đề liên quan về khung pháp lý đối với nghề CTXH.
Theo bà Nguyễn Hồng Loan, Trưởng phòng Bảo vệ trẻ em của UNICEF: “Sự phát triển của ngành CTXH có vai trò đặc biệt quan trọng trong lĩnh vực bảo trợ xã hội, đặc biệt là đối tượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, người già không nơi nương tựa, người khuyết tật, yếu thế trong xã hội. Trong các lĩnh vực này, cán bộ làm CTXH tham gia vào các hoạt động như: tham vấn, làm việc cá nhân, làm việc nhóm, vận động xã hội và họ đóng vai trò hết sức quan trọng trong chính sách nghiên cứu và hoạch định chính sách xã hội. CTXH có vai trò quan trọng đối với việc phục hồi và chăm sóc cho những người nghiện ma túy, mại dâm, HIV/AIDS, phụ nữ và trẻ em bị buôn bán… Đồng thời, CTXH cũng có thể cung cấp các dịch vụ cho các cá nhân có vấn đề về sức khỏe tâm thần tại trường học, bệnh viện…”
Tại hội thảo, các chuyên gia đã tập trung thảo luận, cho ý kiến về các vấn đề: Phạm vi của đề án, vai trò, nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ làm CTXH, hệ thống dịch vụ CTXH, nhu cầu của xã hội đối với nghề này… nhằm hoàn thiện Đề án, hướng tới mục tiêu tổng thể: Phát triển CTXH chuyên nghiệp ở Việt Nam từ nay đến năm 2015, góp phần phát triển hệ thống an sinh xã hội, giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa con người với nhau, hạn chế phát sinh các vấn đề xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của các đối tượng xã hội, hướng tới một xã hội lành mạnh, công bằng và hạnh phúc cho mọi người.
Khung đề án đang được hoàn thiện, xin ý kiến các Bộ, ngành liên quan và trình lên Chính phủ vào đầu năm 2009.
PV
Theo Molisa.gov

27 tháng 8, 2008

NHỮNG BƯỚC NGOẶT TRONG LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI TẠI MỸ


NHỮNG BƯỚC NGOẶT TRONG LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI TẠI MỸ
ThS. Trần Đình Tuấn
Từ thời cổ đại tới đầu thế kỷ 17.
Có lẽ loài người đã bắt đầu giúp đỡ người khác ngay từ khi họ xuất hiện trên trái đất này. Xu hướng giúp người nghèo, ốm đau, yếu đuối và người già dường như là tính cách bẩm sinh của con người và được tất cả các tôn giáo khuyến khích. Trong Phật giáo, cứu độ chúng sinh là điều đầu tiên trong 6 tiêu chuẩn hoàn thiện giúp con người thoát khỏi bể khổ. Dựa vào kinh Cựu Ước, nguồn gốc của đạo Thiên chúa, đạo Hồi và đạo Do thái, sách Thánh (Talmud) của người Do thái đã mô tả trách nhiệm của người giàu và quyền của người nghèo khi làm phúc. Nó cũng mô tả chi tiết việc hình thành và quản lý quỹ từ thiện. Câu chuyện về chúa Samaritan trong kinh tân ước (Luke, chương 10, từ câu 25-27) là một trong số rất nhiều điều răn dạy về lòng từ thiện của đạo Thiên chúa. Có thể nói rằng truyền thống hoạt động từ thiện tích cực của đạo Thiên chúa đã hình thành nền tảng cho hoạt động xã hội hiện đại tại Âu-Mỹ và trên thế giới. Thuế bố thí cho người nghèo, Al-Zakat, là một trong 5 trụ cột của Hồi giáo(2) quy định rằng những tín đồ Hồi giáo khi nào đạt mức thu nhập hàng năm tối thiểu tương đương với 87.48 g vàng phải đóng góp 2.5% thu nhập của mình cho hoạt động từ thiện. Cột trụ này quan trọng tới mức ở Arap Xeut Bộ thuế và Zakat được thành lập để kiểm soát hoạt động từ thiện bắt buộc. Trong văn hóa Việt Nam, có câu thành ngữ về từ thiện là “Dù xây chín bậc phù đồ, không bằng làm phúc cứu cho một người”
Khi xã hội loài người phát triển hơn với sự ra đời của quốc gia, chính phủ được thành lập và hoạt động từ thiện công cũng xuất hiện. Ví dụ: hai nghìn năm trước công nguyên, vua Hammurabi của Babylon (hiện giờ là Irac) có luật bảo vệ góa phụ, trẻ mồ côi và người yếu đuối. Tại Việt Nam, khi xảy ra thảm họa tự nhiên như lũ lụt, mất mùa hoặc đói kém, nhà vua luôn mở kho gạo dự trữ phân phát cho mọi người. Thậm chí cả những ông vua tồi như Lý Cao Tông (1176 – 1210) cũng có hoạt động từ thiện này. Các vị vua được tôn kính như Lý Thành Tông (1054 – 1072) còn cảm thấy thương xót cho những người tù tội và cho phép họ “được ăn hai bữa một ngày và cung cấp chăn và chiếu cói).(3)
Ở Châu Âu, vào thế kỉ thứ 6, tu viện Thiên chúa giáo trở thành trung tâm của hoạt động cứu trợ, đặc biệt tại những vùng nông thôn. Trong suốt thời gian đó, quyền sở hữu đất đai thuộc về vua, quý tộc và nhà thờ. Một phần lợi nhuận thu được từ đất đai và đóng góp của các con chiên đi lễ được dùng để cứu giúp người nghèo trong cộng đồng. Suốt thời kỳ Trung Cổ (4) cũng đã có mạng lưới các bệnh viện. Những bệnh viện này thường được xây dựng gần các tu viện hoặc trên các trục đường chính. Chúng không chỉ chữa bệnh và cấp,thuốc cho người ốm mà còn được coi là nơi trú ngụ cho những người qua đường, trẻ mồ côi, người già…Giữa thế kỉ 14, chỉ riêng nước Anh đã có hàng trăm bệnh viện như thế.
Gần cuối thể kỷ 13, nhu cầu len sợi ngày càng tăng đã thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp len. Để tăng sản lượng len, đất đai giành cho chăn nuôi cừu tại các trang trại lớn bị thu hẹp lại để đầu tư cho máy móc hiện đại và giống mới. Trước khi có phong trào rào đất, không ai cai quản đất đai và các tá điền nghèo có thể tận dùng các cánh đồng sau khi thu hoạch để nuôi ngỗng, gà, cừu và lợn. Phong trào rào đất có lợi cho ngành công nghiệp len nhưng lại khiến các tá điền nghèo càng nghèo hơn. Tệ hơn thế, ngoài việc mùa màng thất bát, bệnh dịch hạch (1347 – 51) bắt nguồn từ Trung Quốc và lan rộng khắp Châu Á, Âu và Phi đã giết chết ½ dân số Trung Quốc (123 triệu người chết trước bệnh dịch và 65 triệu sau bệnh dịch), 1/3 dân số Châu Âu (75 triệu người chết trước bệnh dịch và 50 triệu sau bệnh dịch), 1/8 dân số Châu Phi (80 triệu trước bệnh dịch, 70 triệu sau bệnh dịch). Tại Anh, trong vòng 2 năm (1348 – 1349), dịch hạch đã cướp đi mạng sống của 4.2 triệu người ( hơn ¼ dân số).
Những biến cố thảm khốc trên cùng với nạn tham nhũng của Nhà thờ công giáo La Mã tại Anh, mối bất hòa giữa vua Henry VIII và Vatican (6) đã khiến nước Anh lâm vào tình trạng bất ổn nghiêm trọng. Đói nghèo, lang thang cơ nhỡ, thất nghiệp, ăn xin, trộm cắp gia tăng trong khi hệ thống cứu trợ truyền thống được nhà thờ thành lập đã sụp đổ. Vì vậy, chính phủ phải ra tay hành động và từ thiện công bắt đầu phát triển một cách có hệ thống. Giữa thế kỷ 16, luật thuế từ thiện bắt đầu xuất hiện. Năm 1601, Bộ Luật Người nghèo của nữ hoàng Elizabeth nổi tiếng ra đời và duy trì ảnh hưởng trong vòng gần 250 năm với rất ít sự thay đổi. Luật này thừa nhận quyền được nhận trợ giúp của ba loại người trong xã hội: trẻ em bị bỏ rơi, người khuyết tật, hay còn gọi là người nghèo đáng trân trọng, và cả người khỏe mạnh. Trẻ em bị bỏ rơi được học nghề, người khỏe mạnh được làm việc và người khuyết tật hoặc người nghèo, được nhận trợ cấp bên ngoài (tại nhà) hoặc được được nhận vào nhà tế bần (trong nhà). Mặt khác, luật này qui định những hình phạt nghiêm khắc:cha mẹ, ông bà có nghĩa vụ nuôi dưỡng con, cháu, những người khỏe mạnh từ chối lao động sẽ bị bỏ tù, đánh đập, đóng dấu hoặc bị hành hình. Luật cũng quy định rõ ràng trách nhiệm của chính phủ, ở cấp địa phương trong quá trình thực hiện: nghĩa vụ đóng thuế, trừng phạt tội trốn thuế , trách nhiệm của các cán bộ địa phương…Có thể nói rằng Luật Người Nghèo của Nữ hoàng Elizabeth 1601, đã thiết lập hệ thống cứu trợ công đầu tiên do nhà nước quản lí bên cạnh hệ thống cứu trợ truyền thống của nhà thờ.

Luật Người nghèo Elizabeth 1601 và những tác động tới phong trào từ thiện tại Mỹ:
Khi di cư tới vùng đất mới của Mỹ, người Anh đã mang theo phong tục và tập quán của quê nhà, và để giúp người nghèo, họ áp dụng những quy tắc của Luật người nghèo Elizabeth: tại những thành phố lớn như Boston, Philadelphia, người Anh di cư có những nhân viên thu thuế giành cho công tác cứu trợ cộng đồng. Trách nhiệm thi hành Luật Người nghèo giao cho cấp hành chính thấp nhất: thị trấn. Tại các thuộc địa miền Nam, trách nhiệm này thuộc về nhà thờ. Tuy nhiên các thị trấn cũng có những cách làm riêng, ví dụ: mỗi gia đình phải trợ cấp cho người nghèo trong một giai đoạn nhất định trong năm. Năm 1687, thị trấn Hadley, Masachusetts đã gửi một góa phụ tới sống tại rất nhiều gia đình, mỗi nơi trong vòng hai tuần. Một tập quán khác là đấu giá vì người nghèo: bất kỳ ai trả giá thấp nhất sẽ được quyền chăm sóc một người cần sự giúp đỡ.
Số người nghèo gia tăng theo thời gian. Giữa thế kỷ 17, vài cộng đồng bắt đầu cấm những người nhập cư ốm đau, nghèo khó hoặc thất nghiệp. Suốt thời gian này, do ảnh hưởng của thuyết Calvin, lòng căm ghét người nghèo bắt đầu xuất hiện, đặc biệt là những người khỏe mạnh sống dựa vào trợ cấp xã hội (những người nghèo không đáng trọng). Người da đen và da đỏ được coi như là con của quỷ Satan và không được giúp đỡ. Những đứa trẻ da trắng trong các gia đình nghèo bị tách khỏi cha mẹ và được đưa vào các tổ chức để học nghề.
Cuộc cách mạng giải phóng Hoa Kỳ (1775 – 1793) làm gia tăng số lượng người cực nghèo, trẻ mồ côi và người khuyết tật. Tình hình này cộng thêm với phong trào Thức tỉnh và Khai sáng đã khuyến khích rất nhiều người tham gia vào công tác từ thiện.
Phong trào Thức tỉnh phản bác học thuyết Calvin về những điểm sau: (a) không cái gọi là số phận, do Chúa an bài, (b) không có chuyện Chúa hạn định số người được lênThiên đàng, (c) ngược lại, mọi người đều được Chúa cứu rỗi, điều kiện duy nhất là biết làm theo và sống theo điều răn dạy của Người. Phong trào thức tỉnh đã khiến hoạt động từ thiện không chỉ là công việc của người giàu mà là trách nhiệm của tất cả mọi người trong xã hội. Sự tham gia rộng rãi của cộng đồng là nhờ vào sự xuất hiện của các nhà nhân ái lỗi lạc, những người có khả năng tuyệt vời trong việc động viên mọi người đóng góp tiền bạc cho hoạt động từ thiện. (7)
Phong trào thức tỉnh được sáng lập bởi các nhà bác học vĩ đại như Isaac Newton, người khẳng định vũ trụ không phải do Chúa tạo ra trong vòng 7 ngày như mô tả trong Kinh Cựu Ước mà hoạt động theo những quy luật bất biến mà con người có thể hiểu được; và John Locke, người tuyên bố rằng không có tội lỗi bẩm sinh, rằng con người sinh ra bình đẳng, chịu ảnh hưởng của môi trường sống và mọi người có thể được cứu giúp trên trái đất này.
Các phong trào Thức tỉnh và Khai sáng khiến phần lớn những người Mỹ tin rằng nghèo khổ không phải là một điều hiển nhiên do Chúa an bài, vậy nên có thể xóa bỏ nó. Phong trào Thức tỉnh và Khai sáng cũng là nền tảng cho một cách nghĩ mới về việc con người sinh ra bình đẳng, người nghèo có quyền tương tự đối với các tài nguyên giàu có của đất nước như những người khác, quyền bầu cử, và nêntách nhà thờ khỏi nhà nước.
Sau khi giành được độc lập, chính phủ liên bang cho phép các bang chăm lo tới những người cần giúp đỡ tại địa phương. Các bang cho phép công dân và các tổ chức tôn giáo đảm nhận nhiệm vụ này. Đây là thời điểm khi nhà nước non trẻ của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ mở rộng lãnh thổ về phía tây rộng lớn. Những nguồn tài nguyên vô cùng giàu có của vùng đất mới khiến nhiều người Mỹ trở nên giàu có và tham gia từ thiện sớm trở thành một giá trị được xã hội coi trọng.
Từ cuối thế kỷ 18 tới đầu thế kỷ 19, cuộc cách mạng công nghiệp (1820 – 1870) và làn sóng di dân từ Châu Âu đã làm tăng nhanh số người cực nghèo ở Hoa Kỳ. Hệ thống từ thiện tư nhân bị quá tải và không hiệu quả; và chi phí để duy trì hoạt động của hệ thống này không ngừng tăng lên. Trong khi đó, nhiều nhà kinh tế cổ điển nổi tiếng ủng hộ nền kinh tế tư bản vận hành theo quy luật cung cầu và không cần sự can thiệp của chính phủ. Adam Smith, David Ricardo, Thomas Malthus… đều ủng hộ mạnh mẽ nguyên tắc “tự do kinh doanh”, cho rằng tất cả sự can thiệp của chính phủ, bao gồm các biện pháp làm giảm số lượng người nghèo và thuế để gây quỹ cho các hoạt động từ thiện là không tốt.
Xu hướng này tạo ra những cảm nhận tiêu cực về người nghèo diễn ra không chỉ ở Mỹ mà còn ở Anh quốc. Năm 1834, chính phủ Anh thông qua Luật Người nghèo sửa đổi nhằm kiểm soát chặt chẽ các hoạt động từ thiện. Một ủy ban giám sát quốc gia được thành lập để kết hợp với các giáo xứ nhằm tổ chức tốt hơn hoạt động cứu trợ. Sự giúp đỡ cộng đồng giành cho người khỏe mạnh bị cấm, giảm thuế, giảm các khoản chi cho từ thiện và mức sống tối thiểu của lao động công nhật được bảo đảm cao hơn so với những người nhận trợ cấp công cộng. Ủng hộ xu hướng chung này của xã hội, thủ tướng Benjamin Disraeli tuyên bố rằng “nghèo là có tội” ở Anh.
Có nhiều nhân tố góp phần làm tăng ác cảm đối với người nghèo. Một trong số đó là giáo lý của đạo Tin lành: người giàu phải giúp người nghèo, nhưng người nghèo phải làm việc chăm chỉ. Thật đáng tiếc là tất cả những người tàn tật nghèo khổ bị thất nghiệp đều bị coi là lười biếng và tỏ ra thương hại hoặc giúp đỡ họ là chống lại ý muốn của Chúa trời. Một nhân tố quan trọng khác là sự di cư ồ ạt của người Ailen và Đức, những người tới Mỹ mang theo tôn giáo khác ( Đạo Công giáo La mã) và cả tư tưởng lạc hậu của Châu Âu (người nghèo có quyền nhận sự giúp đỡ nên không phải bày tỏ lòng biết ơn đối với người giúp mình). Những người di cư này sống tụ tập tại các khu ổ chuột của các thành phố lớn. Họ rất nghèo và cách sống của họ tạo khiến người khác ác cảm: uống rượu, hành động bừa bãi, phong tục và tôn giáo khác biệt…. Do đó, người Mỹ có sự ác cảm đối với người nhập cư, và họ tin rằng thuế giành cho quỹ tư thiện là điều phi-tôn giáo. ( Người cơ đốc giáo tự nguyện đóng góp cho hoạt động từ thiện và họ không bị buộc phải làm như vậy.)
Trong bối cảnh xã hội như thế, bản báo cáo của Yates được gửi tới các nghị sĩ quốc hội New York năm 1824 (John Van Nesh Yates, bộ trưởng ngoại giao của New York). Bản báo cáo này sau đó đã dẫn tới việc thành lập Đạo luật Người nghèo hạt New York . Đạo luật này: (a) chấm dứt tất cả các hoạt động cứu giúp người nghèo tại nhà (cứu trợ bên ngoài nhà tế bần); (b) xây dựng cơ sở từ thiện cho những người cần giúp đỡ (cứu trợ bên trong); (c) loại bỏ những cá nhân khỏe mạnh trong độ tuổi từ 18 tới 50 khỏi danh sách đối tượng được cộng đồng trợ giúp; (d) đưa trẻ em bị bỏ rơi, người già, người tàn phế tới các cơ sở từ thiện công cộng do chính phủ quản lý; (e) giao trách nhiệm từ thiện cho các hạt, chứ không phải thị trấn như trước.
Đạo luật Người nghèo hạt New York tạo ra sự cần thiết phải phân loại những đối tượng cần giúp đỡ: trại mồ côi, trại dưỡng lão, bệnh viện tâm thần và trại cải tạo giành cho tội phạm chưa tới tuổi thành niên…(8). Giai đọan này là thời kì Dorothy Lynde Dix với những hoạt động khoa học và cách mạng không mệt mỏi của mình đã thay đổi sâu sắc cách chăm sóc bệnh nhân tâm thần ở Mỹ. Nhờ những nỗ lực này, giữa thế kỷ 19, bang Massachusetts ban hành luật quy định trách nhiệm xây dựng và duy trì các bệnh viện giành cho bệnh nhân tâm thần. Từ Massachusetts, Dorothy Dix mở rộng cuộc vận động tới các bang khác, ủng hộ tích cực cho dự luật liên bang cấp thêm 10 mẫu Anh cho các bang, thêm vào 135 triệu mẫu Anh đã được cấp, để chi trả cho các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần. Sau một cuộc đấu tranh lâu dài, dự luật này cuối cùng cũng được quốc hội thông qua năm 1854; tuy nhiên nó bị tổng thống Franklin Pierce phủ quyết vì ông cho rằng hành động này trái luật. Ông đã viết rằng :“Tôi không thể tìm thấy Hiến pháp có qui định việc cho phép chính phủ liên bang trở thành người phát chẩn vĩ đại trong hoạt động từ thiện công trên toàn lãnh thổ Hợp chúng quốc Hoa Kỳ”
Sau vài năm hoạt động, các cơ sở từ thiện được chính quyền bang xây dựng để chăm sóc cho người nghèo và trẻ em bị bỏ rơi sớm trở thành “địa ngục trần gian”, “nghĩa địa xã hội”…khi được mô tả chi tiết trong văn học thời kỳ đó.
Niềm tin vào các nguồn lực vô hạn của đất nước, và đói nghèo là kết quả của các thói xấu của cá nhân: sự lười biếng, vô đạo đức, vô thần. Do đó, tầng lớp trung lưu của Mỹ bắt đầu một chiến dịch để giáo dục đạo đức cho người nghèo. Năm 1843, Hiệp hội Cải thiện Điều kiện sống cho Người nghèo (AICP) được thành lập đầu tiên tại New York. Phần lớn thành viên của AICP là tầng lớp trung lưu, những con chiên ngoan đạo của đạo Tin lành. Mục tiêu của họ giúp đỡ người nghèo không phải là ban phát đồ cứu trợ mà là mang lại tình yêu, sự kính trọng và đặc biệt động lực để người nghèo nâng cao đạo đức, sống thanh đạm, làm việc chăm chỉ và làm theo lời răn của Chúa, thôi say xỉn, cờ bạc…để thoát khỏi đói nghèo.
Từ niềm tin mang giản đơn đó, phong trào AICP nhanh chóng lan rộng sang các bang khác, nó cũng nhanh chóng nhận ra rằng thói xấu của cá nhân không phải là nguyên nhân duy nhất, hay chính yếu của đói nghèo; thay vào đó, nền kinh tế, xã hội, môi trường chính trị…là những lý do chính hoàn toàn nằm ngoài kiểm soát của người nghèo. Những nhà tư tưởng vĩ đại như Robert Owen, Mathew Carey, Sarah Hale, Joseph Tuckerman, Karl Max… đưa ra những cách suy nghĩ mới về người nghèo. AICP sớm bắt đầu có những hoạt động thiết thực hơn như: (a) xem xét các nguyên nhân môi trường của đói nghèo; (b) hỗ trợ tài chính, việc làm, thuốc men và nhà tắm công cộng, (c) xóa bỏ khu nhà ổ chuột, (d) xây dựng khu dân cư mới, (e) ủng hộ cải cách xã hội…Những hoạt động này dẫn tới sự phát triển ban đầu của một nghề nghiệp mới: công tác xã hội.

Sự hình thành các phong trào từ thiện khoa học tại Mỹ:
Cuộc nội chiến ác liệt những năm 1861 – 1865 đã tạo ra những nhu cầu to lớn về công tác xã hội tại Mỹ: hàng triệu góa phụ và trẻ mồ côi, các cựu chiến binh bị tàn phế, những nô lệ mới được giải phóng, những người không được học hành và không có các kỹ năng nghề nghiệp bùng nổ trên khắp miền Nam và tìm kiếm việc làm và sự giúp đỡ…Vì vậy, nhu cầu này khiến hoạt động từ thiện tư nhân quá tải, và chính phủ buộc phải tiến hành trợ giúp cộng đồng ở qui mô lớn. Tháng 3/1865, hai tháng trước khi nội chiến chấm dứt, Quốc hội đã thành lập Bộ chiến tranh về Người tị nạn, Nô lệ Tự do và Vùng đất bị bỏ hoang. Đây là cơ quan phúc lợi xã hội đầu tiên của chính quyền liên bang. Tuy nhiên đáng tiếc là do xung đột giữa quyền hành pháp và tư pháp (tổng thống Andrew Johnson liên tiếp phủ quyết luật thành lập cơ quan này và Quốc hội liên tục bác bỏ quyền phủ quyết này), cơ quan hoạt động hiệu quả này đã bị bãi bỏ sau 6 năm hoạt động. Từ 1872, Hoa Kỳ quay lại với hệ thống cũ với việc các bang tự giải quyết các vấn đề phúc lợi xã hội. Đây là bước quan trọng trong lịch sử phúc lợi xã hội của Hoa Kỳ. Phải mất tới hơn 50 năm cho tới khi dự luật An sinh xã hội năm 1935 cho phép chính quyền liên bang nắm giữ vai trò dẫn đầu trong phúc lợi xã hội. Vì các bang có đạo luật riêng, công tác xã hội rất yếu kém trong khâu tổ chức và phối hợp. Điều này dẫn đến tình trạng hoạt động kém hiệu quả, tham nhũng và lãng phí tài nguyên. Tình trạng này buộc các hội từ thiện tư nhân và công cộng phải cải cách, tái cơ cấu và sáp nhập các tổ chức nhỏ thành những tổ chức lớn hơn.
Trong suốt thời kỳ này, niềm tin rằng đói nghèo là hậu quả trực tiếp của các thói xấu cá nhân lại tái xuất hiện. Niềm tin này được củng cố bởi lý thuyết khoa học giả tạo của Herbert Spencer về “chủ nghĩa Darwin xã hội” hay “ tiến hóa để sinh tồn” và học thuyết “không can thiệp” lên án mọi sự can thiệp của chính phủ vào nền kinh tế.
Mối ác cảm trên giành cho người nghèo và vấn đề tham nhũng của các tổ chức từ thiện do chính phủ điều hành bởi dẫn tới sự sụp đổ từ từ của hệ thống phúc lợi công cộng. Từ thập kỷ 1870 chính quyền bang chỉ duy trì trách nhiệm chăm sóc trẻ bị bỏ rơi, người già, và người tàn tật trong các cơ sở từ thiện. Ngoài các cơ sở này, những người cần giúp đỡ phải phụ thuộc vào gia đình, bạn bè, hàng xóm, nhà thờ…trước khi được đưa vào các hội từ thiện tư nhân.
Cuộc suy thoái kinh tế thập kỉ 1870 đã cho thấy sự yếu kém của hệ thống phúc lợi xã hội và người dân nổi loạn ở khắp nơi. Năm 1877, quân đội bang và liên bang được huy động để dẹp các cuộc bạo loạn tại nhiều thành phố lớn. Người Mỹ bắt đầu nhận thức được rằng hoạt động cứu trợ được tổ chức yếu kém gây thiệt hại nhiều hơn là giúp đỡ xã hội. Nhận định này dẫn tới phong trào Hội Tổ chức Từ thiện (COS) và nguyên tắc hoạt động từ thiện khoa học.
Lấy mô hình từ COS London thành lập vài năm trước đó, Josephine Shaw Lowell, một trong những lãnh tụ của phong trào đã thiết lập COS New York tại Buffalo năm 1882. Tới cuối thế kỷ, đã có 138 COS trên khắp đất nước. Với niềm tin mãnh liệt rằng trợ giúp nhân đạo không cần phải điều tra giống như việc bác sĩ kê đơn mà không chẩn đoán bệnh, COS đã gửi “sứ giả thiện chí” tới mỗi gia đình cần giúp đỡ, tìm hiểu từng trường hợp để phân loại nguyên nhân của sự nghèo túng và từ đó khiến hoạt động từ thiện trở thành việc xuất phát từ trí óc hơn là trái tim. Nền tảng của phong trào COS là niềm tin rằng con người có trách nhiệm với cuộc sống cá nhân và thói vô đạo đức, lười biếng cũng như sự giúp đỡ theo kiểu đổ đồng là hành động tội lỗi. Do phần lớn các nhà lãnh đạo phong trào đồng thời là những nhà lãnh đạo kinh tế, phương pháp quản lý của họ được dùng để tổ chức và quản lý hoạt động nhân đạo. Phương pháp tiến hành một cuộc điều tra toàn diện cho từng trường hợp của COS dẫn tới sự phát triển của phương pháp “nghiên cứu trường hợp” và môn Công tác Xã hội trong giáo dục sau đại học tại Mỹ.
Không hài lòng với phương pháp cứng rắn, vô cảm của phong trào COS, các nhà lãnh đạo khác của công tác từ thiện Mỹ, trong đó có Jane Addams, đã thành lập Hull House tại Chicago năm 1889 (theo mô hình Toynbee Hall, London 1884). Đó là căn nhà đầu tiên trong phong trào nhà định cư tại Mỹ. Để có hiệu quả, những người làm công tác định cư đã chuyển tới sống tại các khu ổ chuột, sống nghèo khổ như người dân ở đó và làm việc với họ để thay đổi cả khu dân cư và nâng cao chất lượng cuộc sống của những người cần giúp đỡ. Từ Hull House tại Chicago, phong trào nhanh chóng lan rộng. Năm 1910, có khoảng 400 căn nhà định cư khắp nước Mỹ. Phong trào đã cải thiện thành công cuộc sống của nhiều người nghèo, xây dựng các nhà trẻ, trường mẫu giáo, thư viện, lớp học quyền công dân, văn phòng giới thiệu việc làm…Sau đó, phong trào định cư tham gia vào các hoạt động lớn hơn như đấu tranh cho chế đô làm việc 8 tiếng ngày, 6 ngày trong tuần, nghiêm cấm lao động trẻ em, thành lập tòa án vị thành niên đầu tiên trên thế giới tại hạt Cook, Chicago, dọc theo tuyến phố từ Hull House…
Do sự khác biệt lớn trong triết lí và phương thức hoạt động, có rất nhiều điểm khác trong hai phong trào này. COS coi phong trào định cư là cảm tính và không khoa học trong khi phong trào định cư chỉ trích COS là quá lạnh lùng, không có tình người và keo kiệt, gia trưởng và duy lí…Trên thực tế, cho dù chúng rất khác biệt, hai phong trào này đều đóng góp cho sự phát triển của nghiên cứu trường hợp, và tiếp đó là sự phát triển của một nghề nghiệp mới. Tới đầu thế kỷ 20, hai phong trào này bắt đầu hợp tác và trên thực tế kết hợp thành “công tác xã hội”
Đạo luật An sinh Xã hội 1935:
Ra đời trong cuộc đại suy thoái thế giới 1929 – 1939, Đạo luật An sinh Xã hội 1935 đánh dấu một bước chuyển lớn của chính quyền liên bang Mỹ. Đạo luật này chấm dứt hoàn toàn chính sách không can thiệp của chính quyền liên bang ra đời từ trước khi giành độc lập và bắt đầu tham gia vào phúc lợi xã hội ở mức độ rộng lớn, phổ biến và thường xuyên. Được bổ sung sau rất nhiều sửa đổi, đạo luật an sinh xã hội giờ đây bảo đảm thu nhập tối thiểu và ổn định cho người già, người về hưu, người tàn tật, bệnh nhân tâm thần, góa phụ, và trẻ em (con của những người có đóng góp cho quỹ an sinh xã hội trước khi chết) và chăm sóc y tế cho người già.
Đặt trụ sở tại Baltimore, Maryland, gần thủ đô Washington, Cục an ninh xã hội có 62000 nhân viên, 10 văn phòng khu vực và 1300 văn phòng địa phương. Năm 2004, cơ quan này chi trả 500 tỉ đô la cho những người hưởng lợi từ Đạo luật anh ninh xã hội. So với hệ thống an sinh xã hội của nhiều nước phát triển khác, Đạo luật an sinh xã hội Mỹ có nhiều điểm yếu; ngoài trừ điều đó, đây là quỹ an sinh xã hội lớn nhất thế giới và Cục an sinh xã hội là cơ quan có ngân quỹ lớn nhất trong chính phủ Mỹ. (10 )
Ngân sách cho an sinh xã hội thu từ thuế dựa trên bảng lương, do người làm và chủ sử dụng lao động đóng góp (50% mỗi bên). Vì nhiều lí do, quỹ an sinh xã hội hiện tại đang có nguy cơ sụp đổ khi thế hệ bùng nổ dân số nghỉ hưu đồng loạt trong thập kỷ tới (11) và làm thế nào để cứu quỹ này luôn là chủ đề của những cuộc tranh luận gay gắt của nước Mỹ hiện nay. Các nhà phê bình Đạo luật an sinh xã hội đã chỉ ra một số vấn đề sau:
1. Nguyên lý “trả tiền cho đến khi qua đời” không giúp việc duy trì khoản tiền đóng góp của thế hệ trước để trang trải chi phí ngày càng tăng của thế hệ hiện nay và sau này
2. Cam kết của chính phủ chi trả mức trợ cấp ngày càng cao cho số lượng người nhận trợ cấp ngày càng tăng mà không cần tính đến nhu cầu hoặc biện pháp thực tế nào để đảm bảo.
3. Nó không bao quát được những người thuộc đáy của xã hội: những người rất nghèo không làm đủ thời gian để được hưởng trợ cấp hoặc chẳng làm gì cả (những người nghèo khỏe mạnh).

Tuy nhiên, Đạo luật an sinh xã hội đóng vai trò cốt yếu trong việc giảm đáng kể số lương người già nghèo khó tại Mỹ: từ 35% năm 1959 xuống 10% như hiện nay.

Sự phát triển của công tác xã hội với tư cách là một nghề:
Ngay sau khi cuốn “Xã hội học năng động” của Lester Frank ward được xuất bản năm 1883, các khóa học xã hội học được mở ra tại nhiều trường cao đẳng và đại học tại Mỹ, và công tác xã hội được xem là một phần ứng dụng của xã hội học. Các nhà công tác xã hội nhanh chóng nhận ra rằng công việc của họ đòi hỏi kiến thức không chỉ từ xã hội học mà còn liên quan tới kinh tế, tâm lý, luật, sinh học…Do đó, công tác xã hội bắt đầu chia tách khỏi xã hội học và “khoa công tác xã hội” đầu tiên được thành lập năm 1898 khi COS New York tổ chức Trường học Mùa hè cho tổ chức từ thiện với chương trình bồi dưỡng thường niên trong vòng 6 tuần giành cho các nhân viên công tác xã hội đã làm việc trong ngành.(12)
Vài năm sau đó, chương trình được thiết kế lại và kéo dài trong một năm, giành cho các sinh viên trong lĩnh vực cồng đồng và trường được đổi tên thành “Trường Phúc lợi New York”. Năm 1910, chương trình lại được kéo dài thành 2 năm. Năm 1919, trường lại đổi tên thành Trường Công tác Xã hội New York và sau đó trở thành Trường Sau Đại học Công tác Xã hội của Đại học Columbia.
Năm 1907, lãnh đạo của phong trào định cư cũng giúp đỡ thành lập Khoa Nghĩa vụ Công dân và Phúc lợi Chicago, vào năm 1920, trở thành Trường Công tác Xã hội Đại học Chicago. Đến năm 1910, các trường công tác xã hội được thành lập tại năm thành phố lớn nhất Mỹ.(13)
Ngoài những mốc phát triển này, những câu hỏi về tính chuyên nghiệp của công tác xã hội vẫn còn là vấn đề tranh cãi. Năm 1915, trong một bài trình bày tại Hội nghị Quốc gia, sau này nhanh chóng trở nên nổi tiếng, có nhan đề “Liệu công tác xã hội có phải là một nghề nghiệp không?”, tiến sĩ Abraham Flexner, một trong những nhà giáo dục có ảnh hưởng nhất tại Mỹ trong nửa đầu thế kỷ 20 đã trả lời hùng hồn rằng “Không”. Lý do: công tác xã hội không đòi hỏi một phương pháp hoặc kỹ năng chuyên biệt nào; bất kỳ ai với một trái tim nhân hậu và kiến thức chung về các nguồn lực trong cộng đồng đều có thể làm công tác xã hội.
Nhận định của Flexner là một đòn giáng mạnh vào nghề công tác xã hội non trẻ. Thật may mắn, hai năm sau, năm 1917, cuốn “Nghiên cứu xã hội” của Mary Richmond được xuất bản.(14) Bất chấp sự thật rằng nó không bao trùm kiến thức mới của Sigmund Freud trong lĩnh vực tâm lý, và không đưa ra bất kỳ biện pháp nào, tác phẩm dày 500 trang của Mary Richmond cung cấp cho người đọc sự mô tả chi tiết về tất cả các tình huống cuộc sống có thể xảy ra cho các đối tượng của công tác xã hội , và phương pháp khoa học bà sử dụng để thu thập thông tin cá nhân cho từng trường hợp nghiên cứu. “Nghiên cứu xã hội ” thỏa mãn tất cả các yêu cầu khoa học bao gồm cả những yêu cầu của Abraham Flexner. Vì vậy nó nhanh chóng chứng minh rằng công tác xã hội không còn nghi ngờ gì nữa là một nghề nghiệp.
Tháng 4/1917, Mỹ tham gia cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 – 1918). Để đáp ứng nhu cầu khổng lồ về công tác xã hội do chiến tranh tạo ra, Hội chữ thập đỏ Mỹ thành lập 15 trường đại học để đào tạo các nhân viên công tác xã hội và Mary Richmond được mời viết học liệu. Sự chịu đựng cực đoan cá nhân và những đóng góp mới của Freud trong lĩnh vực tâm lý đã giúp thay đổi công tác xã hội từ xu hướng kinh tế xã hội cũ thành xu hướng tâm lý cá nhân, và năm 1918, Đại học Smith(15) mở khoa công tác xã hội tâm thần, cung cấp khóa bồi dưỡng 6 tháng cho các bác sỹ tâm thần phục vụ trong các đơn vị quân y.
Phong trào sức khỏe tâm thần những năm 1920, nỗi ám ảnh của thế giới với thuyết tâm lý của Freud và kinh tế phát triển đã đưa công tác xã hội tâm lý và nghiên cứu trường hợp lên vị trí thống trị trong khi công tác xã hội cộng đồng bị bỏ rơi(16). Sự sụp đổ của nền kinh tế Mỹ năm 1929 dẫn tới cuộc đại suy thoái toàn cầu giai đoạn 1929 – 1939 đã đưa công tác xã hội đi theo hướng phát triển đúng, cân bằng giữa công tác xã hội vi mô, vĩ mô và mức trung bình.
Năm 1920, để thành lập tiêu chuẩn chung cho việc đào tạo công tác xã hội tại Bắc Mỹ (Canada và Hoa Kỳ), Hiệp hội Trường Đào tạo Công tác Xã hội chuyên nghiệp được thành lập. Sau nhiều lần đổi tên, năm 1952, tổ chức này trở thành Hội đồng các trường Đào tạo Công tác Xã hội, chức năng là thiết lập và duy trì các tiêu chuẩn của các khóa học, cung cấp bằng cử nhân và thạc sĩ về công tác xã hội.
Năm 1955, Hiệp hội quốc gia của các nhà công tác xã hội (NASW) được thành lập. Với trụ sở tại thủ đô Washington và hơn 150.000 nhân viên, đây là tổ chức lớn nhất giành cho các nhà công tác xã hội chuyên nghiệp trên thế giới. NASW tuyên bố trên website rằng công việc của Hiệp hội là “thúc đẩy phát triển chuyên nghiệp và sự phát triển của các thành viên, tạo và duy trì các tiêu chuẩn chuyên nghiệp cũng như ủng hộ cho các chính sách xã hội đúng đắn.”
Năm 2006, theo Cục Thống kê Lao động,Bộ Lao động Mỹ, có khoảng 595,000 nhân viên công tác xã hội trên nước Mỹ. Với mục tiêu nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, các nhà công tác xã hội làm việc tại các bệnh viện tâm thần, các cơ sở phúc lợi trẻ em, các cơ sở cai nghiện, trường học, bệnh viện, nhà tù, tòa án, hoạt động tư nhân…và thậm chí cả trong quân đội. Các nhân viên công tác xã hội không chỉ phục vụ người nghèo, ốm đau, người già mà còn tất cả mọi người trong xã hội, kể cả những người ở Toà án Gia đình để xin quyền nuôi con, nhận con nuôi, hoặc trong tư vấn riêng. Nhu cầu đối với nhân viên công tác xã hội ngày càng tăng, đặc biệt trong lĩnh vực tâm thần, lạm dụng các chất kích thích và lão khoa.
___________________________________
(1) Sáu điều hoàn thiện: 1. Làm từ thiện; 2. Làm theo các điều răn; 3. Kiên nhẫn và giữ bình tĩnh khi bị xỉ nhục; 4. Nhiệt huyết và phát triển; 5. Thiền; 6. Khôn ngôn, sức mạnh phân biệt phải trái.
(2) 1. Al-Shahadah: Allah là vị thánh duy nhất và Muhammad là nhà tiên tri. 2. Cầu nguyện năm lần 1 ngày quay mặt về thánh địa Mecca. 3. Al-Siyam: Không ăn, không uống và quan hệ nam nữ từ lúc mặt trời mọc đến lúc mặt trời lặn trong tuần chay Ramadan 4. Al-Zakat: Làm bố thí từ thiện để giúp người nghèo. 5. Al-Haji: Hành hương về Mecca ít nhất một lần trong đời trừ phi không có đủ sức khỏe hoặc tài chính.
(3) Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hanoi 1993, tập I, trang 271.
(4) Từ sau khi Đế chế Phương Tây La Mã sụp đổ thế kỉ 5 đến thế kỉ 15 thời kì Phục hưng.
(5) Cuối thế kỉ 19, khi phòng trào rào đất hoàn tất, những nông dân nghèo không có đất phải bỏ nông thôn, di cư về thành phố, tham gia lực lượng lao động rẻ và đóng góp khá lớn cho cuộc cách mạng công nghiệp ở Anh.
(6) Dẫn đến sự kiện Giáo hoàng Clement VII tuyệt giao với Vua Henry VIII và nhà vua tịch thu đất của nhà thờ, phá hủy tu viện, và dùng vật liệu để xây một bức tường phòng thủ để ngăn giáo hoàng và đồng minh Tây Ban Nha và Pháp của phe giáo hoàng. Sự kiện này còn dẫn đến việc thành lập Nhà thờ Anh quốc tách khỏi Vatican.
(7) Điển hình là George Whitefield, người đã khiến cho Benjamin Franklin, một người nổi tiếng là cẩn thận về tiền nong, phải dốc túi, đầu tiên là “một ít tiền xu lẻ, sau đó là ba, bốn đồng đô la bạc và, sau đó là năm đồng vàng” như lời Franklin kể lại trong cuốn tự truyện.
(8) Nhà cho Tội phạm Vị Thành niên, trại cải tạo cho trẻ em vị thành niên đầu tiên của Mỹ được xây dựng vào năm 1824 tại thành phố New York.
(9) Một mẫu= 4047 m2
(10) Nhiều hơn ngân sách của Bộ Quốc phòng (nguồn ngân sách lớn thứ hai của chính phủ Mỹ). Trong năm 2004, Bộ Quốc phòng có 2.3 triệu quân (bao gồm cả lính gác và dự bị) và 700000 nhân viên, ngân sách lên tới 401.7 tỉ đô.
(11) Những người sinh trong khoảng 1946-1964, khoảng 76 triệu người, được gọi là thế hệ có ảnh hưởng nhất, giàu nhất, và đông nhất trong lịch sử nước Mỹ.
(12) Có 27 nhân viên xã hội theo học khóa đầu tiên của trường.
(13) Đại học San Jose State, đại học công có lịch sử lâu đời nhất ở Bờ Biển Tây thành lập năm 1857; các khóa học công tác xã hội bắt đầu được tổ chức năm 1939 tại khoa xã hội học. Khoa công tác xã hội được thành lập năm 1969.
(14) Sinh tại Belleville, Illinois, năm 1861, Mary Richmond (1861-1928) là mồ côi cha mẹ; bà lớn lên trong nghèo đói, bệnh tật, bà tham gia các hoạt động từ thiện từ khi còn trẻ và trở thành một trong những nhà lãnh đạo nổi bật của phong trào COS. Các học giả coi bà là người sáng lập của nghề công tác xã hội tại Mỹ.
(15) Trường Nữ sinh Mỹ nổi tiếng ở Northampton, Massachusetts, thành lập năm 1971, là trường nữ sinh lớn nhất trong “7 chị em” (7 trường nữ sinh ở Đông Bắc Mỹ, hiện nay chỉ còn lại năm trường vì Radcliff sáp nhập với Harvard và Vassar cho phép cả nam sinh nhập học.
(16) Công tác Xã hội vi môn, hoặc gọi là nghiên cứu trường hợp, giúp đối tượng thay đổi thích nghi với môi trường để sống tốt hơn. CTXH cấp vĩ mô và tầm trung, hay còn gọi là công tác xã hội cộng đồng, nhằm thay đổi môi trường để người sống trong môi trường đó có cuộc sống tốt hơn (CTXH vĩ mô mong muốn cỉa thiện xã hội ở cấp chính sách, CTXH tầm trung nhắm vào cộng đồng, khu dân cư, nhóm và tổ chức..)
_____________________________________
Tài liệu tham khảo
-Trattner, Walter I. “From Poor Law To Welfare State A History of Social Welfare in America”, Six Edition, New York, The Free Press, 1998.
-“Lịch Sử Việt Nam”, Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1989.
-O’Neill, June. “The Trust Fund, the Surplus, and the Real Social Security Problem” The Cato Project On Social Security Privatization, SSP # 26, April 9, 02.
-Dilley, Patricia E. “Taking Public Rights Private: The Rhetoric and Reality of Social Security Privatization” Boston College Law Review, volume 41, Sept. 2000.
-Dinitto, Diana M. “Social Welfare Politics And Public Policy”, Fifth Edition, Needham Heights, MA, Allyn & Bacon A Pearson Education Company, 2000.