Hiển thị các bài đăng có nhãn Tham vấn tâm lý. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tham vấn tâm lý. Hiển thị tất cả bài đăng

2 tháng 6, 2008

Những câu hỏi giúp nhà tham vấn hiểu chính bản thân mình


Những câu hỏi giúp nhà tham vấn hiểu chính bản thân mình Sự định hướng nghề nghiệp là một yếu tố vô cùng quan trọng, đặc biệt với nghề tham vấn bởi nó liên quan trực tiếp tới sự phát triển tâm lý, nhân cách của con người. Liệu bạn đã sẵn sàng để trở thành một nhà tham vấn chưa, hướng đi trong nghề nghiệp của bạn là gì? Một số câu hỏi sau đây sẽ phần nào giúp bạn hiểu hơn xu hướng của mình khi muốn trở thành nhà tham vấn.

1. Điều gì khiến tôi muốn trở thành nhà tham vấn?
2. Liệu tôi có cảm thấy vấn đề cảm xúc của tôi được giải quyết bằng cách tôi trở thành một nhà tham vấn không ?
3. Tôi mong đợi điều gì khi trở thành một nhà tham vấn?
4. Điều gì khiến tôi nghĩ rằng tôi sẽ trở thành một nhà tham vấn có năng lực?
5. Những vấn đề chuyển dịch ngược có thể xảy ra ở tôi là gì? Làm thế nào để tôi có thể kiểm soát được nó khi nó xuất hiện?
6. Tôi mong đợi gì từ thân chủ?
7. Tôi mong đợi gì từ nghề nghiệp của tôi?
8. Tôi đoán trước được tôi sẽ nhận được điều gì từ đồng nghiệp?
9. Những điểm mạnh và điểm yếu trong nghề nghiệp của tôi là gì ?
10. Mục đích và mục tiêu nghề nghiệp của tôi là gì ?
11. Những sinh viên kế tiếp của tôi có thể nói gì về tôi?
12. Những giáo sư, chuyên gia giám sát có thể nói như thế nào về tôi?
13. Tôi muốn làm việc với kiểu khách hàng nào? Tại sao?
14. Với kiểu khách hàng nào tôi sẽ không làm việc được? Về vấn đề gì ? Tại sao?
15. Tôi có biết có thể chuyển khách hàng khi nào và tới đâu không ?
16. Tôi có thể kiểm soát stress như thế nào ?
17. Tôi có thể ứng phó với sự ca tụng và chỉ trích về công việc của mình như thế nào ?
18. Tôi đã trợ giúp thân chủ một cách trọn vẹn chưa? Nó diễn ra như thế nào?

Tô Thị Hạnh (Biên dịch từ The Counselor Intern’s Handbook, Brooks/Cole, 2004)
Nguồn:nucuoitraitim

CÁCH TIẾP CẬN THÂN CHỦ TRỌNG TÂM CỦA CARL ROGER


CÁCH TIẾP CẬN THÂN CHỦ TRỌNG TÂM CỦA CARL ROGER

CN.Ngô Minh Duy dịch

(Dịch từ “Western Approach to Counseling in the Philippines”, IMELDA VIRGINIA G. LILLAR, De La Salle University Press, INC, Phaàn II, Chương 3, trang 65-72).

QUAN NIỆM VỀ CON NGƯỜI.
Cách tiếp cận theo hướng “Thân chủ - trọng tâm” trong tham vấn cho rằng con người là tích cực, luôn hướng về phía trước, cơ bản là tốt, có lý trí, thích nghi xã hội, có óc thực tế, hợp tác, có tính cách xây dựng và xứng đáng với sự tin cậy của người khác. Về cơ bản, con người thể hiện đầy đủ tiềm năng của mình. Ngoài ra, con người còn có năng lực nhận thức được những rắc rối từ sự thích nghi về tâm lý. Con người có khả năng và có khuynh hướng điều chỉnh từ trạng thái này sang một trạng thái tâm lý thích nghi khác. Vì thế, con người có khả năng hướng dẫn, điều hoà và điều chỉnh bản thân theo những cách lựa chọn của mình. Tuy nhiên cần phải có sự hướng dẫn trực tiếp thông qua những thao tác của nhà trị liệu (Roger, 1951)

NGUỒN GỐC CỦA NHỮNG KHÓ KHĂN
Sự đối lập giữa thực tế của bản thân và những ý nghĩ của bản thân, ý nghĩ và thực tế, bản thân và sự từng trải, nhận thức về bản thân và những nhận thức của người khác theo hướng không thích hợp. Quá trình cố gắng để đạt đến một hình ảnh lý tưởng là nguyên nhân đánh mất sự thật của vấn đề và mang lại những điều không hợp lý, làm cho con người không thực tế và không đúng với chính họ. Điều này dẫn đến thất bại trong việc nhận diện giá trị của bản thân (Roger, 1951).

MỤC TIÊU CỦA THAM VẤN
Những cá nhân này cần được giúp đỡ để có đầy đủ những chức năng, với sự thích nghi về mặt tâm lý tốt nhất để trưởng thành và vững vàng, không giấu giếm
những gì họ đã trải qua. Nói một cách khác, họ cần được
giúp đỡ để thể hiện một cách này đủ tiềm năng của bản thân hay cảm thấy rằng sự thật là họ có đầy đủ nhân tính thông qua việc yêu thích cuộc sống trong tất cảc các tương quan (Roger,1951).

VAI TRÒ CỦA THAM VẤN VIÊN
Tham vấn viên phải thừa nhận con người thân chủ, nhận biết được thế giới quan của thân chủ như chính thân chủ nhận thấy, nhận thức được thân chủ như chính thân chủ nhận thức về bản thân mình và phải hiểu thân chủ bằng sự đồng cảm (Roger, 1965). Tham vấn viên phải thừa nhận rằng thân chủ đến với những vấn đề cần được giải quyết và điều đó chứng tỏ họ mong đợi vấn đề của họ cần được giải quyết.

Hướng đến những mục tiêu trong tham vấn, tham vấn viên phải thực hiện mấy nhiệm vụ:
1. Tham vấn viên có mặt kịp thời và có khả năng giúp đỡ thân chủ.
2. Tập trung vào những gì xảy ra ở hiện tại (here and now) thông qua mối quan hệ trong tham vấn.
3. Tham vấn viên phải hiểu và thấu cảm với những gì xảy ra với thân chủ.
4. Rời bỏ những trách nhiệm ban đầu trong tiến trình tham vấn với thân chủ khi thân chủ đã có khả năng chuyển hướng về tình trạng ổn định tâm lý.
5. Tham vấn viên phải chủ động tạo ra những điều kiện thuận lợi và tạo ra những mối quan hệ, thân chủ được tự do thể hiện những gì muốn nói và tự do từ chối nếu không cảm thấy thoải mái. Thông qua đó, tham vấn viên có thể tìm hiểu những vấn đề mà thân chủ phủ nhận trong cuộc sống.
Roger xác nhận vai trò của tham vấn viên không phải là giải quyết vấn đề. Vai trò của tham vấn viên là tạo bầu không khí cho thân chủ, thông qua việc tìm hiểu tình trạng của thân chủ để thân chủ thấy rõ bản thân hơn. Từ đó, thaân chuû thấy rõ hơn cách giải quyết vấn đề.

NHỮNG KĨ NĂNG VÀ TÍNH CÁCH CỦA THAM VẤN VIÊN
Những tính cách cuûa tham vấn viên caàn coù vaø caàn được biểu lộ (Roger, 1961):
1. Kỹ năng lắng nghe.
2. Thành thật chấp nhận.
3. Quan tâm một cách tích cực vô điều kiện.
4. Thái độ không phán xét.
5. Không đòi hỏi thân chủ nhiệt tình tham gia.
6. Thấu cảm phù hợp.
7. Cụ thể
8. Vững vàng và xác thực.

HƯỚNG DẪN VÀ SỰ ĐÁP LẠI
1. Chấp nhận.
2. Trình bày lại vấn đề của thân chủ.
3. Làm rõ vấn đề.
4. Tóm tắt vấn đề.
5. Những hướng dẫn cơ bản.
6. Thấu cảm trong giao tiếp.
7. Phản chiếu những cảm xúc của thân chủ.
8. Lời diễn giải.
9. Thân chủ tự nhận diện vấn đề.
10. Đưa ra phản hồi.

* Tham vấn viên phải tránh những điều sau:
1. Cho lời khuyên.
2. Đánh giá
3. Bình phẩm
4. Phán xét.
5. Nghi ngờ/tìm kiếm sự thật.
6. Lên lớp/thuyết giảng.
7. Áp đặt những giá trị.

TẬP TRUNG VÀO NHỮNG VẤN ĐỀ CHÍNH
Những cảm xúc và những nhận định chủ quan của thân chủ về thực tế, những điều liên quan đến ý nghĩ, thế giới quan, nhân sinh quan của họ. Thân chủ là người tập trung vào việc khám phá khả năng của chính họ, những cách họ va chạm thực tế. Những cảm giác ở hiện tại và nhận thức của thân chủ, xa hơn nữa là những cảm xúc và những việc được thân chủ chú ý.
NHỮNG KĨ THUẬT TRONG THAM VẤN
Tham vấn tiếp cận theo hướng “Thân chủ trọng tâm” không phải là một định hướng về mặt kĩ thuật, nó đề cập đến việc thiết lập mối quan hệ giữa thân chủ và tham vấn viên. Vì thế, nghĩ đến những kĩ thuật phải xem xét mối quan hệ giữa tham vấn viên và thân chủ. Sự thể hiện và sẵn sàng chấp nhận, sự tôn trọng và thấu hiểu sẽ giúp thân chủ biết được tham vấn viên đang cố gắng theo dõi tâm trạng của mình, điều này có liên quan đến tư duy, cảm xúc và việc tìm hiểu thân chủ. Thân chủ sẽ trải qua việc điều trị của tâm lý liệu pháp thông qua những mối quan hệ với người có thể giúp họ làm những việc mà họ không thể làm cho bản thân.Vấn đề trọng tâm là tạo điều kiện cần và đủ cho tiến trình trị liệu (Roger, 1965) bao gồm những yếu tố hợp thành mối quan hệ này:

1. Sự tiếp xúc của hai người - Thân chủ và nhà trị liệu.
2. Thân chủ đang trong tình trạng không vững vàng, sẽ dễ dàng bị tổn thương hay lo lắng.
3. Nhà trị liệu phải vững vàng trong mối quan hệ .
4. Nhà trị liệu phải quan tâm đến thân chủ một cách tích cực vô điều kiện.
5. Nhà trị liệu phải thấu hiểu những suy nghĩ bên trong của thân chủ.
6. Thân chủ nhận thấy nhà trị liệu có vài quan tâm tích cực vô điều kiện và sự thấu hiểu .

NHỮNG BƯỚC TRONG THAM VẤN
Sau đây là những bước chính trong tiến trình tham vấn. Rogers (1942) đã xác nhận rằng những bước chính trong tiến trình tham vấn không loại trừ lẫn nhau và cũng không nên làm chúng một cách cứng nhắc.
1. Thân chủ đến cần sự giúp đỡ. Đây là điều cần thiết cho thân chủ chấp nhận trách nhiệm của họ là đến vào những buổi tham vấn. Vì vậy, thân chủ phải có trách nhiệm với việc tiếp tục tiến trình tham vấn.
2. Vấn đề giúp đỡ được xác định. Thân chủ phải nhận thức rằng tham vấn viên không phải là những người trả lời câu hỏi nhưng trong quá trình tham vấn, tham vấn viên sẽ cung cấp những nơi mà thân chủ có thể đến để được giúp đỡ giải quyết vấn đề của mình.
3. Tham vấn viên khuyến khích thân chủ tự do thể hiện những cảm xúc về vấn đề của mình. Sự thân thiện và quan tâm của tham vấn viên làm cho thân chủ thấy rằng khuyến khích thể hiện sự chống đối và lo âu, những mối quan tâm và mặc cảm tội lỗi, sự mâu thuẩn trong tư tưởng, và thiếu quả quyết. Vấn đề giúp đỡ thân chủ diễn ra một cách tự nhiên để họ thấy rằng thời gian cho họ sử dụng như họ muốn.
4. Tham vấn viên chấp nhận, nhận diện và làm rõ những cảm xúc tiêu cực. Tham vấn viên cố gắng dùng lời và hành vi để đáp lại những cảm xúc cơ bản nội dung những hiểu biết về lời nói của thân chủ và tạo bầu không khí cho thân chủ có thể nhận ra sự tồn tại của những cảm xúc tiêu cực và chấp nhận chúng như một phần của mình thay vì lôi chúng ra khỏi những cái khác hay giấu chúng dưới những cơ chế tự vệ.
5. Nhượng bộ và thăm dò những thúc đẩy tích cực để tạo ra sự phát triển khi những cảm xúc tiêu cực của thân chủ đã được thể hiện khá đầy đủ. Những biểu lộ tiêu cực sâu kín và mãnh liệt của thân chủ sẽ được thể hiện với điều kiện là chúng được chấp nhận và được thừa nhận, chắc chắn hơn đó là những biểu lộ tích cực của tình yêu, những thúc đẩy của xã hội, chủ yếu là sự tôn trọng bản thân và mong muốn trưởng thành.
6. Tham vấn viên chấp nhận và thừa nhận việc thể hiện những cảm xúc tích cực trong những điều mà thân chủ đã chấp nhận và thừa nhận là những cảm xúc tiêu cực. Chấp nhận cả sự trưởng thành và không trưởng thành, sự gây hấn và những thái độ xã hội, các cảm giác tội lỗi và những thể hiện tích cực là những gì mang đến cho thân chủ cơ hội để hiểu bản thân mình hơn.
7. Tham vấn viên phải có những hướng dẫn sáng suốt để hiểu và chấp nhận vị thế của thân chủ, đây là một khía cạnh quan trọng trong toàn bộ tiến trình tham vấn. Điều này sẽ cho thấy những thay đổi cơ bản của thân chủ trong việc hướng đến những cấp độ mới của sự hoà nhập.
8. Một tiến trình làm rõ vấn đề để có thể ra những quyết định tích cực và qúa trình hành động được kết hợp chặt chẽ với việc hiểu thấu được bản chất bên trong vấn đề của thân chủ. Trong khoảng thời gian mà thân chủ dần hiểu ra vấn đề cùng với một chút thất vọng là làm thế nào điều chỉnh và tạo một vị thế cho bản thân, tham vấn viên cần giúp đỡ thân chủ phân tích những lựa chọn khác nhau, lựa chọn nào có thể làm được và nhận ra những cảm xúc sợ hãi, thiếu can đảm trong những lựa chọn đó. Chức năng của tham vấn viên không phải là thúc đẩy thân chủ hành động hay cho thân chủ lời khuyên.
9. Một thời gian ngắn nhưng những hành động tích cực đầy ý nghĩa được bắt đầu. Khi thân chủ hiểu được bản chất của vấn đề thì sau đó rất có khả năng thân chủ sẽ có những hành động đáng phục cùng với những suy nghĩ mới mẻ.
10. Khi thân chủ đã hiểu được bản chất của vấn đề và hành động để thay đổi nhưng vẫn còn sợ hãi thì cố gắng thực hiện những hành động tích cực. Những gì còn lại là môi trường cho sự phát triển xa hơn của thân chủ. Khi thân chủ đã can đảm hơn để thấy sâu hơn những hành động của họ, xa hơn nữa là việc hiểu bản chất của vấn đề làm cho thân chủ hiểu bản thân mình đầy đủ và chính xác hơn.
11. Tăng những hoạt động hoà nhập tích cực như những phần nổi bật của thân chủ. Thân chủ trực tiếp hành động để giảm sợ hãi trong những lựa chọn và tự tin hơn
12. Thân chủ cảm thấy giảm nhu cầu giúp đỡ và nhận ra rằng mối quan hệ tham vấn phải kết thúc. Tham vấn viên chấp nhận và thừa nhận quá trình thay đổi của thân chủ, giảm nhu cầu tiếp tục liên hệ với tham vấn viên.

NHỮNG VẤN ĐỀ CỦA THÂN CHỦ TRONG QUÁ KHỨ
Những vấn đề của thân chủ trong quá khứ không cần thiết (Corey, 1977). Nó có thể cản trở việc thiết lập sự quan tâm tích cực vô điều kiện và thái độ không phán xét của tham vấn viên, nó hoàn toàn trái với mục tiêu tập trung vào hiện tại (here-and-now) của tham vấn.

Nguồn: nucuoitraitim

21 tháng 5, 2008

Sử dụng các dấu hiệu thể hiện sự thấu cảm


Sử dụng các dấu hiệu thể hiện sự thấu cảm
LÀM THẾ NÀO ĐỂ KHIẾN HỌ CẢM THẤY BẠN THẤU HIỂU (MÀ KHÔNG CẦN NÓI "Ừ, THẾ À.")

Trong khi lắng nghe một ai đó nói chuyện, chúng ta thường phát ra tín hiệu âm thanh "ừ hứ." Hoặc đơn giản chỉ là "ừ" để báo cho người nói biết rằng chúng ta nghe thấy những gì họ nói. Thực tế, với một số người đó là một thói quen, âm thanh thoát ra từ cổ họng họ một cách vô thức chứ không có bất cứ ý nghĩa đặc biệt nào. Một anh bạn của tôi tên là là Tuấn; có thể nói anh là một người luôn "ừ hừm" một cách liên tục, không thể kiềm chế được. Mỗi khi tôi nói chuyện với anh, anh đều như vậy. Đôi khi nếu tôi cảm thấy muốn gây sự sau mỗi lần anh đưa ra tín hiệu đồng ý "ừ hừm" để đáp lại những gì tôi nói thì tôi quay lại hỏi anh: "Được rồi Tuấn, em vừa nói gì nào?"

" À...ừ, em vừa nói..."Thực ra Tuấn đâu có biết tôi vừa nói gì bởi tuy có thể hiện anh nghe thấy những điều tôi nói nhưng Tuấn đâu có chú ý tới. Đó không phải là lỗi của anh. Anh là đàn ông. Mà đàn ông thì rất hay có thói quen "ư hừm" nhưng lại không thực sự lắng nghe và chúng ta cũng rất khó có thể thay đổi sự thật này. Một lần khi tôi đang độc thoại về những chuyện trên trời dưới biển thì Tuấn lại đóng vai trò là một người "ừ hứ" thực sự. Để kiểm tra kỹ năng nghe của anh, tôi xen vào: "Đúng vậy, em nghĩ rằng chiều nay em sẽ ra ngoài và xăm trổ khắp cơ thể".

Tôi nói vậy nhưng Tuấn vẫn gật đầu và "ừ hứ" theo thói quen của mình.

Chà chà. Thực tế anh đâu có nghe những gì tôi nói. Dù sao đi chăng nữa ừ hứ cũng tốt hơn là một cái nhìn trống rỗng. Tuy nhiên, đó không phải là lựa chọn của những người giao tiếp hàng đầu. Hãy thử thay thế ừ hứ bằng các dấu hiệu thể hiện sự thấu cảm thực sự.
Các dấu hiệu thể hiện sự thấu cảm là gì vậy?

Các dấu hiệu thể hiện sự thấu cảm là những câu nói đơn giản, ngắn gọn có tính chất hỗ trợ ủng hộ. Không giống như "ừ hứ", chúng là một câu nói hoàn chỉnh chẳng hạn như "tôi có thể nói rằng anh quyết định như thế là sáng suốt." Hoặc "Điều đó thật thú vị." Các dấu hiệu thể hiện sự thấu cảm có thể là một câu đơn giống như: "Đúng vậy, làm như vậy quả thật rất đáng sợ." Hoặc "Bạn cảm thấy như vậy thật hấp dẫn."

Khi bạn phản ứng bằng một câu hoàn chỉnh thay vì ừ hứ thì bạn không chỉ tỏ ra mình có khả năng ăn nói lưu loát mà người nghe còn cảm thấy rằng bạn thật sự hiểu những gì họ đang nói.

Phương pháp - Sử dụng các dấu hiệu thể hiện sự thấu cảm

Đừng nên là một người chuyên ừ hứ một cách vô thức. Hãy nói một câu hoàn chỉnh để thể hiện với người đàm thoại với bạn rằng bạn hiểu những gì họ nói. Hãy thêm vào phần hội thoại của bạn những câu như: "Em hiểu anh muốn nói gì." Hãy thể hiện tình cảm bằng câu "Những điều bạn nói thật đáng yêu." Sự thấu hiểu của bạn sẽ gây ấn tượng đối với người nghe và khuyến khích họ tiếp tục nói. Họ sẽ không bao giờ thắc mắc xem thực sự bạn có lắng nghe họ hay không. Họ sẽ tin rằng bạn hiểu và ủng hộ những điều họ đang nói.
Tất nhiên, bạn cũng phải trả một cái giá. Sử dụng đúng các dấu hiệu thể hiện sự thấu cảm thì có nghĩa là bạn cần phải thực sự lắng nghe những gì người đàm thoại của mình nói.

Nguồn: idj.com.vn

8 tháng 5, 2008

Tham vấn đối với trẻ em bị lạm dụng tình dục


Tham vấn đối với trẻ em bị lạm dụng tình dục
Các nguyên lý:
1. Việc nhận thức được hầu hết trẻ em sẽ không đến và nói với nhà tham vấn hoặc những người chuyên nghiệp khác rằng chúng bị lạm dụng tình dục là rất quan trọng. Thay vào đó, trẻ sẽ có xu hướng là phàn nàn về sự suy nhược, thái độ tự hủy hoại và những khó khăn trong các mối quan hệ. Những đứa trẻ khác chỉ đến với nhà tham vấn cùng với bố hoặc mẹ hoặc một giáo viên, với một lời than phiền về những vấn đề nghiêm trọng trong cách ứng xử hoặc các biểu hiện của sự giảm sút lòng tự trọng
2. Một đứa trẻ có thể mong muốn kể về sự lạm dụng tình dục sau khi một mối quan hệ tin tưởng và không phán xét được thiết lập với nhà tham vấn
3. Khi trẻ phàn nàn về những suy sụp, thiếu lòng tự trọng, cố gắng tự vẫn, các vấn đề về tình dục hoặc sự thiếu khả năng bảo vệ bản thân, nhà tham vấn cần nghĩ ngay đến vấn đề lạm dụng tình dục.
4. Xây dựng lòng tự trọng là một trong những nhiệm vụ khó khăn nhất cho nhà tư vấn. Điều này được thực hiện bằng cách nhắc đi nhắc lại, trung thực và rõ ràng, rằng trẻ là người hữu ích. Nhà tham vấn giúp trẻ nhận thức được rằng họ có thể tìm được sức mạnh để cùng ngồi làm việc với nhau và vượt qua tổn thương. Nhà tham vấn có thể nói với trẻ rằng sau những sự kiện kinh khủng như vậy, trẻ vẫn tồn tại và điều này thật quan trọng và rất có ý nghĩa. Nó thay đổi viễn cảnh của trẻ từ một nạn nhân trở thành người sống sót. Điều này cũng giúp loại bỏ những hổ thẹn của trẻ và chấp nhận cảm xúc liên quan đến sự lạm dụng trong đó bao gồm cả giận giữ và sợ hãi.
5. Trẻ đã chịu đựng một mất mát lớn lao, là kết quả của sự lạm dụng. Trẻ đã mất đi niềm tin, đôi khi mất đi một người yêu thương và đôi khi mất đi cảm giác an toàn. ý nghĩa sâu sắc của sự an toàn cần phải được trải nghiệm trong một môi trường ấm cúng và cảm thông. Nước mắt và “để cho điều đó đi qua” được chấp nhận một cách nhẹ nhàng và chậm rãi. Việc không đẩy trẻ đến mức độ phải biểu lộ tình cảm là rất cần thiết. Trẻ sẽ khóc, cảm tưởng và thể hiện sự giận giữ nhanh hay chậm tuỳ theo ý muốn của chúng.
6. Khi thái độ tự huỷ hoại hoặc những nỗ lực tự tử thể hiện rõ ràng, nhà tham vấn cần phải đặt một giới hạn chắc chắn và hỗ trợ cho trẻ, lúc này đang ra ngoài tầm kiểm soát của bản thân.
7. Đôi khi trẻ có thể hướng sự giận giữ tới người khác, đôi khi thậm chí chúng trở nên người tự lạm dụng mình. Việc thể hiện sự giận giữ đau khổ này là thái độ thực sự chống lại thủ phạm, và trẻ cần phải tập trung lại vào sự giận giữ đó. Nhà tham vấn có thể trở nên đối tượng của sự giận giữ và có thể phải chấp nhận điều này như là cách thức mà trẻ có thể vượt qua được tổn thương.
8. Việc nhà tham vấn khẳng định lại và giáo dục thân chủ rằng những cảm xúc trẻ đang trải nghiệm, mạnh mẽ và đôi khi lẫn lộn, là một phản ứng hoàn toàn bình thường đối với sự trải nghiệm tổn thương là rất quan trọng. Cường độ của những trải nghiệm này sẽ qua đi.
9. Nếu nhà tham vấn có một số trẻ em trong độ tuổi thiếu niên bị lạm dụng hay bóc lột, trị liệu nhóm có thể trở nên hữu ích. Điều này đặc biệt xảy ra khi những trẻ em ở tuổi thanh thiếu niên này đang ở trong những giai đoạn phục hồi khác nhau và chúng có thể hỗ trợ lẫn nhau.
Tham vấn cho trẻ em và những người trẻ tuổi, những người đã trải nghiệm qua sự lạm dụng tình dục là một công việc hết sức khó khăn. Nhà tham vấn cần cảm thấy thoải mái và không chịu áp lực bởi những chi tiết không thoải mái, đôi khi là dứt khoát, về những hoạt động tình dục không đúng đắn. Điều này có thể là đau đớn và hoảng loạn . Tuy nhiên, với sự khuyến khích và nhẫn nại, nhà tham vấn có thể mang lại những hỗ trợ đắc lực cho phép sự lạm dụng hòa nhập vào những trải nghiệm khác trong đời và để cho một tiến trình phát triển và hy vọng vào tương lai

Bảo vệ trẻ em khỏi sự lạm dụng
Phương pháp tiếp cận tốt nhất cho vấn đề lạm dụng tình dục là phòng ngừa nó. Một số gợi ý dưới đây có thể hữu ích cho nhà tham vấn nhằm cung cấp cho các bậc phụ huynh:
1. Khuyến khích trẻ kể thêm với ai đó nếu có người lớn tuổi hơn động chạm vào chúng dưới sắc thái tình dục.
2. Nói với trẻ rằng chúng được yêu thương, chúng rất hữu ích và chúng xứng đáng được an toàn
3. Dạy trẻ tên của các bộ phận trên cơ thể để chúng có thể nói chuyện được một cách rõ ràng
4. Cơ thể của chúng là của chúng và không ai có quyền động chạm hay làm tổn thương
5. Trẻ có thể nói “không” với một yêu cầu của người lớn – dù là họ hàng hay người lạ mà làm trẻ cảm thấy khó chịu
6. Trẻ em nên nói với bố mẹ chúng nếu có người lớn nào yêu cầu chúng giữ một điều gì đó bí mật.
7. Có thể nói với trẻ rằng chúng có thể tin tưởng dựa vào bạn nếu chúng nói với bạn về bất cứ sự lạm dụng nào.

Nhà tham vấn và các bậc phụ huynh cần ghi nhớ các quy tắc sau khi lần đầu tiên nghe về một sự lạm dụng tình dục với trẻ em:
1. Trẻ em thường ít khi nói dối về lạm dụng tình dục
2. Đừng hoảng sợ khi bạn nghe về sự lạm dụng tình dục. Hãy bình tĩnh và cảm thông
3. Đừng gây áp lực buộc trẻ phải nói về sự lạm dụng. Hãy để trẻ tự kể bằng nhịp độ của bản thân chúng.
4. Đừng đối chất người phạm tội trước mặt trẻ.
5. Không bao giờ đổ lỗi cho trẻ. Lạm dụng tình dục không bao giờ là lỗi của trẻ em
6. Nói với trẻ là bạn cảm thấy vui mừng và thậm chí tự hào vì chúng đã dũng cảm nói ra sự thật
7. Lắng nghe một cách hết sức tận tâm và trả lời những câu hỏi của trẻ một cách chân thực và nhẹ nhàng.
8. Tôn trọng sự riêng tư của trẻ. Đừng nói với bất cứ ai, những người không cần biết và sau đó thậm chí bạn cũng nên thảo luận trước với trẻ khi định nói cho ai đó biết (Cảnh sát, các cơ quan chính quyền bảo vệ trẻ em, v.v..)

CÁC KỸ NĂNG VÀ THÁI ĐỘ THAM VẤN


CÁC KỸ NĂNG VÀ THÁI ĐỘ THAM VẤN

Cần những người đặc biệt để làm tham vấn vì không phải ai cũng phù hợp với công việc này. Ở nhiều nước nghề tham vấn đã được hình thành cách đây vài thập kỷ, những người muốn trở thành nhà tham vấn được lựa chọn rất kỹ càng trước khi tham gia vào các chương trình cao học ở trường. Những ứng cử viên tương lai phải có một số đặc điểm như:

Thông minh
Chân thành
Sẵn lòng giúp đỡ
Các kỹ năng giao tiếp hoàn hảo
Sự nhạy cảm và và nhân ái với mọi người
Có ý thức tốt với bản thân
Có tinh thần cởi mở
Có tinh thần khoan dung, đối với quan điểm hay cách nhìn nhận vấn đề khác.
Tham vấn và công tác xã hội không phải là những hoạt động nghiệp dư; chúng là những hoạt động nghề nghiệp. Giống các nghề khác, những người làm trong các lĩnh vực liên quan chặt chẽ đến những nghề này phải có kiến thức chuyên môn, các kỹ năng và thái độ nhất định. Bài học này trình bày các kỹ năng và thái độ cơ bản nhà tham vấn cần phải có để có thể hoạt động hiệu quả.

Lòng tin là nền tảng của bất kỳ một quan hệ tham vấn hay hỗ trợ nào; trước khi thân chủ có thể cảm thấy thoải mái để chia sẻ những thông tin cá nhân, cảm giác và ý nghĩ thì việc tạo ra một bầu không khí tin tưởng giữa thân chủ và nhà tham vấn là rất cần thiết. Do vậy, để công việc hiệu quả, nhà tham vấn phải có khả năng phát triển các mối quan hệ tích cực và đáng tin cậy với thân chủ. Đố chính là sự sẵn lòng đáp ứng các nhu cầu của thân chủ với sự chấp nhận và hỗ trợ vô điều kiện. Một số các kỹ năng và thái độ chủ yếu được trình bày trong bài học này sẽ giúp học viên có thể xây dựng và duy trì nền tảng của lòng tin với trẻ em và các thân chủ khác.

CÁC KỸ NĂNG THAM VẤN

Khả năng lắng nghe và giao tiếp một cách rõ ràng và cởi mở, với sự thông cảm và có mục đích

Mọi mối quan hệ hỗ trợ đều chứa đựng sự giao tiếp trung thực và được cả hai bên thừa nhận. Một phương pháp mà các nhà tham vấn có thể giao tiếp trung thực với thân chủ (và xây dựng các quan hệ dựa trên sự tin cậy lẫn nhau) là đảm bảo rằng trong mọi tình huống, thân chủ của họ nhận thức rõ về những gì sẽ xảy ra, cần phải xảy ra trong những tình huống đó, hoặc thân chủ có thể có những quyền và sự lựa chọn gì. Cách nàyđuợc áp dụng cả trong tham vấn với trẻ em và người lớn. Chẳng hạn, trước khi bắt đầu một mối quan hệ tham vấn liên tục, nhà tham vấn nên nói chi tiết với thân chủ về tham vấn là gì, và thông báo với thân chủ rằng họ có quyền dừng quá trình tham vấn theo ý nguyện của họ. Trong một ví dụ khác, giả sử trẻ tiết lộ với nhà tham vấn của em rằng em đang bị một bạn trai lớn hơn cùng khu tập thể lạm dụng tình dục. Nhà tham vấn cần thông báo với em rằng để bảo vệ em, nhà tham vấn phải thông báo với một người nào đó (ví dụ, cảnh sát, hoặc bố mẹ em) có thể giúp đỡ để bảo đảm sự an toàn cho em. Trẻ em cũng có quyền được thông báo về những gì đang xảy ra hoặc sắp xảy ra và tại sao. Không đặt trẻ vào những quyết định ảnh hưởng đến cuộc sống của các em là lạm quyền của các em. Việc đó sẽ khiến các em có cảm giác giận dữ, sợ hãi, phản bội hoặc không tin tưởng.

Chẳng hạn, một nhà tham vấn đang làm tham vấn với một cậu bé có tâm trạng chán nản, tuyệt vọng có thể thấy nên nói chuyện với thày giáo của em để hiểu thêm về hành vi của em ở trường (ví dụ, cậu bé có bỏ học không, cậu bé tiến bộ như thế nào về mặt lý thuyết). Đầu tiên nhà tham vấn cần nói với cậu bé rằng nhà tham vấn cảm thấy việc trao đổi với thày giáo của em để vạch ra cách giúp đỡ em là rất có ích. Nhà tham vấn nên hỏi ý kiến cậu bé, nếu cậu không đồng ý, hãy tôn trọng ý muốn đó của em và tìm cách khác để tiếp cận với những biểu hiện ở trường của em hoặc hỏi ý kiến em vào lần sau.

Nhà tham vấn có trách nhiệm phải chia sẻ với thân chủ những thông tin có ảnh hưởng đến họ ngay cả khi thân chủ khó có thể chấp nhận những thông tin đó. Ví dụ, một nhà tham vấn đang tham vấn với một thân chủ nhiễm HIV và gần đến giai đoạn phát triển mạnh của AIDS. Anh ta phủ nhận tình trạng hiện tại của mình và quan hệ tình dục bừa bãi. Để giúp đỡ thân chủ và bảo vệ những người khác có thể lây nhiễm virut từ hành vi tình dục không an toàn của anh ta, nhà tham vấn phải nói thật (nhưng tôn trọng và lịch sự) với thân chủ về sự phát triển bệnh của anh ta và thực tế anh ta đang đẩy một số không đếm được những người khác vào nguy cơ lây nhiễm bằng hành vi tình dục không an toàn cuả mình. Mặc dù những vấn đề này khá nhạy cảm và khó thảo luận, nhà tham vấn phải đặt sự khó chịu của mình sang một bên và hành động vì lợi ích của thân chủ và những người đang bị đặt trước nguy cơ. Một phần vai trò của nhà tham vấn là giúp thân chủ học cách đối mặt với những thông tin khó khăn theo cách có ích hơn và có hiệu quả hơn; việc giấu thân chủ những thực tế khó chấp nhận đó là hoàn toàn không phù hợp.

Khả năng khai thác thông tin và xâu chuỗi các sự kiện trong quá trình đánh giá vấn đề

Việc nhà tham vấn tập hợp được tất cả các sự kiện chủ yếu và có liên quan khi đang tìm hiểu phạm vi của vấn đề hay tình huống thân chủ đang gặp phải là rất quan trọng. Nếu nhà tham vấn không cẩn thận trong việc đặt câu hỏi thích hợp thì thân chủ có thể sẽ bỏ qua các sự kiện quan trọng mà nhà tham vấn cần biết để nắm được những vấn đề quan trọng và để đảm bảo nhận được sự hỗ trợ mà họ thực sự cần.

Chẳng hạn, giả sử một trẻ đường phố muốn ở Hà nội hơn quay trở về quê mặc dù gia đình em đang ép em quay trở về. Nhà tham vấn cho rằng cách tốt nhất cho trẻ là quay về nhà do đó
đã cố gắng hết sức để thuyết phục em quay về. Cậu bé không gặp nhà tham vấn nữa vì em cảm thấy rằng nhà tham vấn không hiểu em. Cuối cùng nhà tham vấn nghe nói cậu bé đã tham gia vào nhóm trẻ em trộm cắp xe máy để kiếm tiền. Cậu bé đã bị bắt và chuyển đến trại giam thanh thiếu niên. Nhà tham vấn sau đó có nghe chị gái của cậu bé (cũng là một trẻ đường phố) nói rằng cậu bé không muốn quay trở về nhà vì em bị cha dượng ngược đãi nghiêm trọng. Ông ta đánh em cho đến khi em bất tỉnh nhân sự; đây chính là lý do em sợ quay về nhà. Trong trường hợp này nhà tham vấn đã không hỏi cậu bé tại sao em không muốn quay trở về quê mà lại cho rằng em đã ra đi từ một mái nhà an toàn với bố mẹ thương yêu em và do đó em nên quay về với họ. Nhà tham vấn đã có ý tốt là muốn bảo vệ cậu bé khỏi những rủi ro của cuộc sống lang thang trên phố. Tuy nhiên, nếu nhà tham vấn hỏi cậu bé những câu hỏi khác hoặc lắng nghe em kỹ lưỡng hơn, nhà tham vấn đã có thể can thiệp theo cách khác cho lợi ích của cậu bé trước khi cậu bị lôi kéo bởi những ảnh hưởng xấu của bạn bè (ví dụ, tìm một mái ấm hay một nhà nuôi dưỡng an toàn cho cậu bé).

Tóm lại, việc nhà tham vấn đặt ra những câu hỏi thích hợp, sâu sắc đối với thân chủ là rất quan trọng. Điều này sẽ giúp họ có thể tập hợp các thông tin quan trọng hỗ trợ trực tiếp cho các hoạt động can thiệp của họ. Trong khoá tập huấn này, Môđun I, Bài IV, Các kỹ năng giao tiếp trong tham vấn Phần I tập trung vào các kỹ năng đặt câu hỏi, và giúp các học viên đang tập huấn rút ra những thông tin hứu ích từ thân chủ của họ.

Khả năng tạo ra và duy trì các mối quan hệ hỗ trợ chuyên nghiệp.

Nhà tham vấn có khả năng tác động, làm thay đổi cuộc sống của mọi người và do đó phải xử sự theo cách chuyên nghiệp và có trách nhiệm ở mọi lúc. Trong suốt khoá tập huấn này, học viên sẽ học cách tiếp xúc với thân chủ một cách chuyên nghiệp và có hiệu quả; Mođun IV, Bài I tập trung đặc biệt vào các nguyên tẵc đạo đứccơ bản trong thực hành tham vấn.

Khả năng quan sát và hiểu các hành vi bằng lời và không bằng lời nói.

Đây là kỹ năng tham vấn tuyệt đối quan trọngsẽ được thảo luận kỹ ở Môđun I Bài III. Nhà tham vấn phải nhạy cảm với những “dấu hiệu” thân chủ chuyển tải không bằng lời nói. Thân chủ giao tiếp rất nhiều qua ngôn ngữ cử chỉ. Hiểu được những bức thông điệp ngầm được chuyển tải không bằng lời có thể giúp nhà tham vấn thấu hiểu được thân chủ đang suy nghĩ và cảm giác như thế nào. Chú ý một cách kỹ lưỡng đến các hành vi bằng lời và không bằng lời nói là một khía cạnh quan trọng của quá trình tham vấn.

Chẳng hạn, một thân chủ nói với nhà tham vấn rằng mọi chuyện gần đây đã có chiều hướng tốt hơn. Tuy nhiên, khi cô bé đang nói đôi tay của em run rẩy, em dịch chuyển một cách không thoải mái trên ghế. Nhà tham vấn có thể đáp lại bằng cách nói một điều gì đó như: “Cháu nói với cô rằng đã thực sự được cải thiện, nhưng dường như cháu có vẻ hơi lo lắng. Cháu có thể nói với cô về điều đó không?”. Thân chủ đột nhiên bật khóc và nói với nhà tham vấn rằng, thực tế em đang cảm thấy rất buồn và nản chí. Vì nhà tham vấn đã đoán được các dấu hiệu của thân chủ, nhà tham vấn có thể “quay trở lại” với những gì đang diễn ra trong thân chủ, và giúp đỡ em bày tỏ những gì đang làm em buồn.

Khả năng xây dựng lòng tin với thân chủ và lôi cuốn họ vào những nỗ lực để giải quyết vấn đề của chính họ.

Như đã thảo luận ở phần trên, việc nhà tham vấn xây dựng được lòng tin với thân chủ là vô cùng quan trọng, chỉ khi họ thiết lập được một mối quan hệ tin cậy họ mới có thể gây ảnh hưởng và tạo động cơ cho thân chủ tạo được những thay đổi tích cực trong cuộc sống của họ.

Mặt khác, cho dù có nhấn mạnh bao nhiêu cũng không đủ rằng tham vấn không chỉ nghĩa là giúp thân chủ tiếp cận với các nguồn lực hoặc đưa ra lời khuyên, ví dụ, nói với thân chủ cách họ có thể tự bảo vệ mình khi lang thang trên phố. Tham vấn còn hơn thế rất nhiều. Tham vấn mang lại những hỗ trợ trực tiếp và sự khuyến khích cho thân chủ, giúp đỡ họ tăng cường lòng tự trọng bằng cách đề cao những thế mạnh của họ và khuyến khích họ sử dụng những thế mạnh đó để giải quyết vấn đề của chính họ. Tham vấn liên quan đến việc chỉ ra cho thân chủ/trẻ thấy rằng nhà tham vấn tin tưởng họ và sẵn lòng lắng nghe mỗi khi họ cần một ai đó để bày tỏ.

Khả năng thảo luận những chủ đề nhạy cảm một cách tích cực mà không bối rối hay sợ hãi.

Thân chủ thường chia sẻ những câu chuyện và trải nghiệm gây sửng sốt cho nhà tham vấn. Những chuyện này có thể làm cho những nhà tham vấn không thoải mái. Nếu thân chủ phát hiện ra rằng nhà tham vấn của họ cảm thấy sợ hãi hay bối rối bởi những câu chuyện của họ. Họ sẽ miễn cưỡng không muốn chia sẻ chút nào nữa; tồi tệ hơn là họ cảm thấy có lỗi vì đã gây ra sự không thoải mái cho nhà tham vấn, hoặc họ đã là “điều gì đó sai” khi chia sẻ. Họ thậm chí cảm thấy họ cần phải “bảo vệ” nhà tham vấn bằng cách giấu đi hoặc giảm thiểu các chi tiết nhất định. Trong trường hợp đó trọng tâm được chuyển từ thân chủ sang nhà tham vấn.

Trẻ em cần sự hỗ trợ và tính khách quan. Trẻ cần cảm thấy rằng các em có thể chia sẻ mọi chuyện với nhà tham vấn mà không thể chia sẻ với ai khác mà không bị phán xét. Ví dụ, nếu một trẻ kể với bố mẹ, anh trai, chị gái, hoặc bạn bè của em rằng em vừa thử dùng ma tuý lần đầu tiên. Bố mẹ có thể (một cách dễ hiểu) đáp lại bằng cách quát vào mặt em vì họ lo lắng cho em và sợ rằng em sẽ làm hại chính bản thân mình. Một nhà tham vấn chuyên nghiệp sẽ không bỏ qua hành vi đó nhưng sẽ không phán xét em. Nhà tham vấn sẽ giúp trẻ tìm hiểu tại sao em đã hành động như vậy. Sau đó em suy nghĩ và cảm thấy gì. Giờ đây em suy nghĩ và cảm thấy gì. Có thể làm gì để thay đổi các cảm giác đó để em sẽ không cần sử dụng thuốc nữa. Có cảm giác phán xét hay sợ hãi bởi những điều trẻ kể, nhà tham vấn sẽ không giúp đỡ được trẻ; thể hiện sự sửng sốt hoặc ngay lập tức chuyển đề tài,thân chủ sẽ cho rằng vấn đề của thân chủ là quá sức đối với nhà tham vấn.

Khả năng sử dụng các nguồn lực một cách sáng tạo nhằm giúp đỡ thân chủ xây dựng các giải pháp sáng kiến để đáp ứng các nhu cầu của họ

Nhà tham vấn phải có khả năng giúp thân chủ sử dụng các nguồn lực có thể hỗ trợ thân chủ để cải thiện tình huống của họ. Nhưng luôn nhớ rằng: nhà tham vấn không phải là cán bộ xã hội!

Nhà tham vấn đặc biệt quan tâm trong việc hỗ trợ các vấn đề tâm lý của thân chủ hơn là các khía cạnh tình huống của vấn đề họ đang gặp phải. Nhiều nhà tham vấn ở Việt nam chỉ tập trung vào việc cải thiện tình hình tài chính của thân chủ – họ không xem xét đến việc thân chủ của họ suy nghĩ và cảm giác như thế nào về một số điều cụ thể. Nhưng đây lại là một vấn đề tuyệt đối quan trọng. Ngày nay nhiều kẻ tội phạm, kẻ mại dâm, và người sử dụng ma tuý đã từng có những trải nghiệm đau đớn khi còn trẻ thơ mà họ không thể chia sẻ cùng ai. Sự hiện diện của MỘT người hỗ trợ trong cuộc sống thời trẻ thơ có thể đã làm mọi chuyện khác đi.

Khả năng đánh giá sâu sắc các nhu cầu của thân chủ và đặt thứ tự ưu tiên cho các bước giải quyết vấn đề.

Nhà tham vấn phải có khả năng nhận ra những nhu cầu nào của thân chủ là rất cần thiết. Phần sau của khoá tập huấn này, chúng ta sẽ học cách đặt thứ tự ưu tiên cho các nhu cầu của thân chủ, và cho mỗi giai đoạn của quá trình giải quyết vấn đề.

Khả năng xác định thế mạnh của thân chủ

Trong bất cứ mối quan hệ tham vấn nào, việc xác định và đề cao thế mạnh của thân chủ là những việc rất quan trọng. Thân chủ có thể được khuyến khích để sử dụng những thế mạnh và khả năng của riêng họ để chịu đựng hoặc vượt qua những khó khăn, khủng hoảng, và thách thức. Khi tình huống của thân chủ quá tối tăm hoặc họ cảm thấy quá chán nản, thất vọng, thì mọi chuyện trong cuộc sống của họ cũng trở nên tiêu cực. Điều này thường khiến thân chủ bỏ qua hoặc bỏ lỡ những mặt tích cực trong cuộc sống, tính cách của họ. Trong những tình huống đó, nhà tham vấn có thể lái thân chủ tập trung vào những điều tốt hoặc những cá tính tốt để thân chủ có cái nhìn thực tế hơn về hoàn cảnh của họ.

CÁC THÁI ĐỘ THAM VẤN

Quan tâm đến người khác và sẵn lòng giúp đỡ

Điểm này khá rõ ràng, nhưng việc nhà tham vấn quan tâm đến người khác, đặc biệt là những người đang bị tổn thương hoặc yếu ớt là vô cùng quan trọng. Nếu không thực sự quan tâm đến lợi ích của thân chủ, nhà tham vấn sẽ rất khó thông cảm với họ và giúp đỡ họ đạt được những mục tiêu đặt ra và sống có ích hơn.

Tôn trọng

Tôn trọng nghĩa là"cảm thấy hoặc thể hiện sự coi trọng hoặc sự quý mến; xem xét hoặc đối xử một cách khác biệt hoặc kính trọng " (Từ điển New Collegiate của Webster, 1981). Về phương diện lịch sử, tôn trọng đã được cá nhà khoa học xã hội và khoa học tâm lý xem như là một trong những nhu cầu thiết yếu của con người (Long, 1996). Chỉ khi nào thân chủ cảm thấy được tôn trọng họ sẽ cởi mở với nhà tham vấn, nói một cách tự nhiên và thoải mái về những ý nghĩ và cảm giác riêng tư của họ.

• Tôn trọng là cho mọi người quyền là chính bản thân họ và có các quan điểm, ý nghĩ và những cảm giác riêng của riêng họ. Điều này nói lên rằng nhà tham vấn nên tránh thúc ép thân chủ ra quyết định khi họ chưa sẵn sàng. Thân chủ sẽ không tin tưởng một người mà họ cảm thấy người này đang phán xét hoặc thúc ép họ.

• Tôn trọng thân chủ cũng có nghĩa là không bao giờ tạo ra một cách cố ý các tình huống làm thân chủ phải phụ thuộc vào nhà tham vấn. Tôn trọng thân chủ cũng có nghĩa là để thân chủ có trách nhiệm với thay đổi mà nhà tham vấn hướng dẫn họ trong quá trình tìm kiếm mục tiêu họ đặt ra. Tôn trọng thân chủ đồng nghĩa với việc tin tưởng vào khả năng thay đổi và cải thiện cuộc sống bằng chính những khả năng vốn có của thân chủ.

• Nhà tham vấn có thể thể hiện sự tôn trọng với thân chủ bằng cách lắng nghe và thông cảm với họ.

Cởi mở

Để tạo ra một bầu không khí tin tưởng, nhà tham vấn phải thể hiện thái độ cởi mở và thân thiện với thân chủ, không kể đến độ tuổi, giới tính và trình độ giáo dục của họ... Thái độ cởi mở có thể thể hiện bằng lời hoặc không bằng lời nói. Cởi mở có thể được thể hiên bằng việc mỉm cười và động chạm phù hợp, nói giọng bình tĩnh và thẳng thắn (nhưng không xoa dịu hay trịch thượng)

Chấp nhận

Hầu hết thân chủ của anh/ chị sẽ khác anh/ chị - cả về độ tuổi, giới tính, địa vị, tình hình kinh tế, tôn giáo hay trình độ giáo dục. Với tư cách là một nhà tham vấn, nhiệm vụ của anh/ chị là chấp nhận thân chủ như chính bản thân họ chứ không phải là anh/chị nghĩ họ nên là thế nào. Điều này có nghĩa là anh/ chị chấp nhận quyết định, niềm tin, và những lo lắng của họ cho dù anh/ chị có đồng ý với họ hay không. Hãy luôn nhớ rằng anh/ chị có thể không tán thành cách cư xử hay hành động của một người nào đó nhưng anh/ chị vẫn chấp nhận họ như một con người; "Không nên phán xét cũng như bỏ qua các hành vi của thân chủ " (Long, 1996).

Một phản ví dụ về sự chấp nhận là xu hướng tiêu cực đối với những trẻ bị gọi là "trẻ hư". Điều này không chỉ làm tổn thương đến lòng tự trọng của trẻ mà còn có thể trở thành một "lời báo trước về ý nguyện". Việc anh/ chị tách bạch hành vi khỏi con người là vô cùng quan trọng, nó chuyển tải tới thân chủ một nội dung rằng: “Hành vi của cháu là không thể chấp nhận, nhưng tôi vẫn tôn trọng và chấp nhận bản thân cháu”

Chấp nhận cũng có nghĩa là sẵn sàng đánh giá cao thân chủ mà không kể đến những gì xấu xa, tồi tệ đã xảy ra với họ trong quá khứ, hoặc những cá tính làm anh/ chị cảm thấy không vừa lòng (chẳng hạn, nếu trẻ là một kẻ phạm tội, trẻ sử dụng thuốc phiện hoặc trẻ bán dâm). Nếu anh/ chị phải đối mặt với một trường hợp mà anh/ chị khó chấp nhận thân chủ hoặc cảm thấy không thể giúp gì được, thì anh/ chị nên giới thiệu thân chủ đến với nhà tham vấn khác (trên thực tế đó là một trách nhiệm mang tính nguyên lý/đạo đức nghề nghiệp của nhà tham vấn).

Quan tâm đến nhu cầu của thân chủ

Tham vấn đòi hỏi một mức độ của lòng vị tha; đặt những nhu cầu của anh/ chị sang một bên và chỉ tập trung vào nhu cầu của thân chủ. Việc này đòi hỏi anh/ chị phải thực sự chân thành với việc đeo đuổi những mối quan tâm của thân chủ và ủng hộ những cố gắng để thay đổi của họ. Điều này sẽ rất khó nếu anh/ chị không tôn trọng, tin tưởng thân chủ hoặc anh chị bất đồng với các hành vi của họ.

Ví dụ: giả sử anh/ chị đang tham vấn cho một trẻ 13 tuổi, được giới thiệu đến chỗ anh/chị vì cô bé quan hệ tình dục không đứng đắn và có những hành vi có nguy cơ. Cô bé tỏ ra rắn rỏi và không cần bất cứ một sự giúp đỡ nào. Lúc đầu cô bé không tôn trọng anh/ chị và tuyên bố một cách khiếm nhã rằng "anh/ chị sẽ không bao giờ hiểu cô bé ". Anh/ chị thường thấy không thích những trẻ như thế này. Nhưng việc "thích" hay "không thích" cô bé độc lập với việc cô bé đang cần sự giúp đỡ của anh/ chị. Với tư cách là nhà tham vấn của cô bé, anh/ chị phải đặt các cảm giác của anh/ chị sang một bên (điều này có thể là một thách thức lớn) và cố gắng xây dựng lòng tin với cô bé. Đó là bước đầu tiên để giúp đỡ cô bé thoát khỏi nguy hiểm. Khi anh/ chị đã xây dựng được lòng tin với cô bé và anh/chị thể hiện sự chấp nhận của mình không kể đến hành vi của cô bé thì cô bé sẽ có ý thức hơn trong việc xem xét hoặc chấp nhận một cách nhìn mới .

Nhà tham vấn thường không nhận được những sự ghi nhận hoặc đánh giá cao cho những nỗ lực của họ. Nhà tham vấn sẽ hài lòng khi điều đó xảy ra, nhưng nếu chúng không xảy ra, nhà tham vấn vẫn phải sẵn lòng theo đuổi các nhu cầu của thân chủ.

Sự chân thành

Một nhà tham vấn chân thành là người đáng tin cậy, chân chính và thành thật với thân chủ. Nếu nhà tham vấn đối xử giả dối hoặc không thành thật với thân chủ, họ sẽ không cởi mở và tiết lộ với nhà tham vấn những ý nghĩ, cảm giác thật và những hy vọng về tương lại của họ. Sự thành thật ở đây nghĩa là mọi hành vi của chúng ta không được che đậy bởi một thứ vỏ bọc nào; giao tiếp cởi mở với thân chủ mà không che dấu bởi một sự nguỵ biện về vai trò của mình (Long, 1996). Thân chủ hầu hết là thường rất nhạy cảm khi nhà tham vấn "chỉ đơn thuần làm công việc của họ", khi nhà tham vấn không chân thành hoặc không hứng thú và không quan tâm tới họ, hoặc khi nhà tham vấn đang “giả vờ” lắng nghe.

Thông cảm

Thông cảm là một trong những nguyên tắc giao tiếp quan trọng nhất trong tham vấn. Thông cảm được định nghĩa như là việc nhận ra và hiểu thấu quan điểm và các cảm giác của người khác. Hãy nhớ rằng anh/ chị chỉ hiểu người khác không có nghĩa là anh/ chị đồng ý với họ. Thông cảm có nghĩa là tôn trọng quan điểm của thân chủ mà không bị lôi cuốn cảm xúc vào quan điểm đó. Cần phải nhấn mạnh rằng thông cảm ở đây KHÔNG đồng nghĩa với đồng cảm! Đồng cảm được định nghĩa như là sự đồng tình với cách suy nghĩ và cách cảm nhận của người khác. Trong tham vấn, việc nhà tham vấn cảm nhận giống thân chủ là không phù hợp. Nếu nhà tham vấn bị lôi cuốn cảm xúc vào những khó khăn của thân chủ, đánh giá của nhà tham vấn sẽ bị ảnh hưởng và công việc của họ sẽ kém hiệu quả hơn.

Để bắt đầu quá trình tham vấn, trước tiên nhà tham vấn phải hiểu thấu thân chủ họ đang giúp đỡ. Hãy xem ví dụ sau:

Giả sử rằng anh/ chị đang có vấn đề về mắt và quyết định đến một bác sĩ về mắt để khám. Sau khi nghe anh/ chị kể vắn tắt về tình hình, bác sĩ liền tháo kính của ông ra và đưa cho anh/ chị. "Đeo cặp kính này vào," bác sĩ nói. "Tôi đã đeo cặp kính này mười năm rồi, nó thực sự giúp đỡ tôi rất nhiều. Tôi có một cặp khác ở nhà; anh/ chị có thể dùng cặp kính này." Anh/ chị đeo kính vào nhưng chỉ thấy mọi thứ trở nên tồi tệ hơn. "Thật là tệ" anh/ chị kêu lên. "Tôi chẳng nhìn thấy gì cả!", "ồ, có gì không ổn vậy?" bác sĩ hỏi. "Cặp kính đó đã rất tốt đối với tôi. Cố lên nào." "Tôi đang cố," anh/ chị khẳng định. "Mọi thứ đều mờ ảo." "ồ có vấn đề gì với anh/ chị vậy?. Hãy nghĩ một cách tích cực lên xem nào." "Vâng tôi tuyệt đối không thể nhìn thấy gì ." "Anh/ chị có thấy mình vô ơn không?, "Sau tất cả những gì tôi đã làm để giúp đỡ anh/ chị !"" bác sĩ trách móc. Còn anh/ chị liệu có khi nào anh/ chị quay lại với vị bác sĩ đó nữa không?. Tôi có thể hình dung như thế là không tốt. (Trích từ Bảy thói quen của những người thành đạt của Stephen Covey, trang 236).

Thông cảm nghĩa là anh/ chị nhìn sự việc trên quan điểm của người khác; nó không có nghĩa là anh/ chị trông đợi mọi người nhìn sự việc qua con mắt của anh/ chị. Thông cảm theo nghĩa đen là hiểu trải nghiệm của người khác – bao gồm cảm giác ý nghĩ và hành vi của người đó.

Ghi nhớ:

1. Hãy cho người khác có những quyền mà anh/ chị có theo quan điểm của riêng anh/ chị. Hãy chuyển tới thân chủ bức thông điệp rằng:"Việc anh/ chị nghĩ khác tôi là không sao cả." Việc này quả là khó đặc biệt khi anh/ chị bất đồng quan điểm với người khác, nhưng anh/ chị hãy nhớ rằng trong tham vấn việc anh/ chị thể hiện có cùng quan điểm với thân chủ là không quan trọng.
2. Không nên để thân chủ bị cuốn vào thế giới quan của anh/ chị. Thay vào đó nhà tham vấn phải hoà nhập với cách nhìn nhận của thân chủ để giúp họ đi theo hướng phù hợp nhất với tính cách và tình huống của họ.

Thông cảm sẽ giúp anh/ chị thay đổi, thuyết phục và tạo động cơ cho thân chủ. Thông cảm cũng giúp anh/ chị tăng cường khả năng khoan dung, kiên nhẫn và yêu thương.

Phản hồi thể hiện sự thông cảm nghĩa là thể hiện với thân chủ rằng anh/chị đã lắng nghe những quan điểm của họ. Nó đồng nghĩa với việc phản hồi lại những từ ngữ/cảm xúc của thân chủ.

Hãy luôn nhớ rằng việc thể hiện sự thông cảm với tất cả các thân chủ không kể đến việc họ xử sự như thế nào là rất quan trọng. (Minh hoạ trường hợp của Dung). Đôi khi, trẻ xử sự một cách hiếu chiến hoặc với một sự giận dữ nhằm khoả lấp những cảm giác đau đớn sâu thẳm trong các em. Các em quen với việc được đối xử theo kiểu tương ứng . Nếu nhà tham vấn thay đổi cách phản hồi lại hành vi của các em thì các em cũng sẽ thay đổi cách xử sự của mình. “Hôm nay, cháu có vẻ giận dữ và không muốn nói chuyện. Vậy cũng được và cô sẽ ở đây nếu cháu cần ai đó để chia sẻ ”


Tổng kết:

• Lòng tin là nền tảng của mọi mối quan hệ lành mạnh, và là yếu tố đặc biệt quan trọng trong tham vấn có hiệu quả.

• Một số thái độ chủ yếu trong nghề tham vấn, bao gồm tôn trọng, cởi mở, chấp nhận, quan tâm đến nhu cầu của thân chủ, và thành thật. Đặc biệt quan trọng là thái độ thông cảm, thái độ này giúp anh/chị nhìn nhận tình huống từ góc độ của thân chủ chứ không phải của anh/chị. Thái độ này khác với thái độ đồng cảm - thái độ thể hiện sự đáng tiếc cho thân chủ. Thân chủ không cần sự thương hại của anh/chị; họ cần sự cảm thông và hỗ trợ của anh/chị.

• Các kỹ năng tham vấn quan trọng gồm khả năng giao tiếp rõ ràng và cởi mở với thân chủ, khả năng nhận ra và đề cao thế mạnh của thân chủ, đặc biệt hướng dẫn thân chủ sử dụng các thế mạnh đó để giúp họ vượt qua những khó khăn họ đang phải đối mặt.


Phỏng theo P.K. Odhner. (1998). Introduction to Social Work Practice, Volume I, Module II, and V. Long. (1998). Communication Skills in Helping Relationships, pp. 76-81.

Tham vấn là gì?


Tham vấn là gì?
Tham vấn là một mối quan hệ, một quá trình nhằm giúp giúp đỡ thân chủ cải thiện cuộc sống của họ bằng cách khai thác, nắm bắt, và thấu hiểu những ý nghĩ, cảm giác, và hành vi của họ.

Quan hệ tham vấn cá nhân (đối lập với tham vấn nhóm hoặc tham vấn gia đình) gồm hai người, nhà tham vấn và “thân chủ” . Họ gặp nhau một tuần một lần (hoặc nhiều hơn tuỳ thuộc vào mức độ của vấn đề mà thân chủ đang gặp phải) trong một khoảng thời gian cố định, thường là 50 phút đến một tiếng cho “một cuộc gặp gỡ”.

Ban đầu khi thân chủ gặp gỡ nhà tham vấn, nhà tham vấn nên chỉ dẫn cho thân chủ hiểu về mục đích và các mục tiêu của tham vấn, giải thích các cuộc tham vấn diễn ra như thế nào. Bởi vì tham vấn còn tương đối mới ở Việt nam, những người đang tìm kiếm các dịch vụ tham vấn có thể còn chưa hiểu nhà tham vấn làm gì. Họ sẽ trông đợi ở nhà tham vấn những lời khuyên hoặc “các giải pháp” cho vấn đề của họ. Họ có thể ngạc nhiên khi biết rằng công việc của nhà tham vấn là lắng nghe và hỗ trợ họ trong việc tìm ra các cách mới để nhận thức và giải quyết vấn đề của họ. Và bởi vì tham vấn là một mối quan hệ bình đẳng, nhà tham vấn nên làm tất cả những gì có thể để giúp thân chủ cảm thấy được chủ động tham dự vào quá trình giải quyết các vấn đề, cảnh huống của họ. Nếu thân chủ không nhận thức đầy đủ vai trò của nhà tham vấn trong quan hệ đó, thân chủ sẽ ở vào thế rất bất lợi.

Một nhà tham vấn gặp thân chủ lần đầu tiên có thể mở đầu cuộc gặp gỡ với câu tương tự như sau:
Trong vài tuần tới, Cô/chú sẽ là nhà tham vấn của cháu. Nghĩa là cô/chú sẽ lắng nghe khi cháukể cho cô/chú về những vấn đề và nhzững lo lắng của cháu. Chúng ta có thể cùng nhau tìm hiểu xem làm thế nào để cháu có thểtự giải quyết tốt hơn những vấn đề của mình. Cháu có thể đặt ra các mục tiêu cho bản thân nhằm cải thiện tình huống của cháu, và cô/chú cháu mình có thể làm việc để giúp cháu đạt được những mục tiêu này. Bất cứ lúc nào cháu thấy không thoải mái hoặc cảm thấy tham vấn không giúp gì được cháu, cháu có thể lựa chọn tiếp tục hay dừng quá trình tham vấn. Khi chúng ta làm việc với nhau, cháu có thể chia sẻ những thông tin cá nhân với cô/chú. Mọi điều cháu chia sẻ với cô/chú trong quá trình tham vấn sẽ được giữ kín giữa chúng ta; cô/chú sẽ không nói với bất kỳ ai những gì cháu đã chia sẻ. Có duy nhất một ngoại lệ là trong trường hợp cháu nói với cô/chú rằng cháu đang bị lạm dụng hoặc cháu sẽ huỷ hoại mình hay người khác, thì trách nhiệm nghề nghiệp của cô/chú là làm bất cứ điều gì để ngăn chặn cháu hoặc người khác khỏi ý đồ đó, cho dù điều đó nghĩa là phải thông báo với người có thể giúp đỡ (ví dụ: các nhà chức trách). Sau vài cuộc gặp gỡ tham vấn, nếu cả hai chúng ta đều cảm thấy rằng cháu đã có những tiến triển dáng kể so với các mục tiêu đặt ra, chúng ta sẽ chia tay. Hy vọng rằng qua thời gian tinh thần của cháu sẽ tốt hơn và cháu sẽ tạo nên những thay đổi tích cực trong cuộc sống của mình. Cháu có thắc mắc gì không?”

Nhà tham vấn:

• Lắng nghe thân chủ, để thân chủ làm chủ quá trình nói chuyện trong các cuộc gặp gỡ tham vấn.
• Sử dụng các kỹ năng giao tiếp cụ thể để “khai thác” các cảm giác, trải nghiệm, ý nghĩ và quan điểm của thân chủ, và tập hợp các thông tin giúp thân chủ hiểu rõ về cảnh huống của họ.
• Thể hiện sự thông cảm và thấu hiểu với thân chủ, làm việc với họ để xác định các bước họ có thể thực hiện để sống một cuộc sống lành mạnh hơn, có ích hơn. (CHÚ Ý: Nhà tham vấn làm việc với mà không phải là cho thân chủ trong mối quan hệ hỗ trợ. Cả hai bên cùng chịu trách nhiệm trong việc thực hiện các mục tiêu của tham vấn).
• Giúp thân chủ hiểu được các sự kiện trong quá khứ có thể đã góp phần vào các vấn đề hiện tại, giúp thân chủ suy nghĩ và xử sự theo cách khác nhằm giảm thiểu những ảnh hưởng tiêu cực của các sự kiện trong quá khứ.
• Giúp thân chủ “ phân loại” các vấn đề trong cuộc sống của họ và hiểu sâu hơn về bản thân mình.
• Giúp thân chủ bày tỏ các cảm giác của họ và nhìn thấu được các cảm giác này tác động đến cách họ suy nghĩ, xử sự, và ra các quyết định như thế nào (tham khảo Môđun III, Bài I-III về mối quan hệ giữa ý nghĩ, cảm giác và hành vi) . Chẳng hạn, nhiều trẻ có vấn đề về hành vi, thường dùng các hành vi tiêu cực như là một cách để đối mặt với các cảm giác giận dữ bị kìm nén; nhà tham vấn có thể giúp những trẻ này sử dụng các cách khác, ít tiêu cực hơn để giải toả các cảm giác đó.

Các khía cạnh khác nhau của mối quan hệ tham vấn gồm:

• Giúp thân chủ xác định vấn đề/các vấn đề của họ và đặt sự ưu tiên cho các hoạt động can thiệp. Hay nói cách khác, nhà tham vấn giúp thân chủ hiểu được “ Vấn đề là gì?” “ Vấn đề nằm ở đâu?” “Tôi có thể thực hiện những bước nào để giải quyết hoặc đấu tranh với vấn đề đó?” .
• Giúp thân chủ hiểu rõ căn nguyên của vấn đề họ đang gặp phải và giúp họ xác định các cách để cải thiện tình huống của họ. Ví dụ, nhà tham vấn đang tham vấn với một cậu bé 15 tuổi nghiện ma tuý. Thường là, người lớn có xu hướng mắng mỏ cậu bé theo cách của cha mẹ, ví như, họ nói rằng cậu bé rất “xấu xa” vì đã nghiện ngập và yêu cầu cậu “bỏ” ngay lập tức. Cách đó sẽ không giúp ích gì cho cậu bé cả. Cậu bé không muốn nghe một người lớn không hề thực sự quan tâm đến cậu và cũng không hề cố gắng để hiểu những ý nghĩ và cảm giác của cậu. Trái lại, nhà tham vấn, sẽ cố gắng hiểu cậu bé, quan tâm đến những yếu tố trong cuộc sống của cậu đã đưa cậu đến việc nghiện hút (ví dụ, có phải cậu bé sử dụng thuốc như một giải pháp tinh thần thoát khỏi cuộc sống bị lạm dụng ở nhà không?, Có phải cậu bé đang chán nản không? Cậu bé có giao du với những người đang lôi kéo cậu vào sự nghiện ngập không?). Nhà tham vấn nên gặp gỡ nói chuyện vài lần để giúp cậu hiểu được “gốc rễ” của việc cậu nghiện ngập, và thay vì phản đối cậu bé, cho cậu là “xấu xa”, nhà tham vấn nên trở thành “đồng minh” của cậu bé, làm việc với cậu bé để tìm ra cách có thể giúp cậu cai nghiện và tìm ra những cách lành mạnh hơn để giải quyết vấn đề cậu đang gặp phải trước khi chúng vượt ra ngoài sự kiểm soát.

Giúp thân chủ nhận ra các ý nghĩ và cảm giác của họ đóng góp hoặc liên quan đến vấn đề của họ như thế nào, từ đó nhận thức thế giới theo cách thực tế và tích cực hơn (tham khảo Môđun III, Bài I-III để có thêm thông tin)

Hỗ trợ thân chủ trong quá trình ra quyết định bằng cách giúp họ xác định các lựa chọn và cân nhắc “mặt trái” và ”mặt phải” của từng lựa chọn (tham khảo Môđun II, Bài III để có thêm thông tin). Thân chủ thường đến với nhà tham vấn để tìm sự giúp đỡ khi phải đưa ra các quyết định khó khăn. Chẳng hạn, người vị thành niên có thai có thể cần sự giúp đỡ để ra quyết định giữ lại hay phá thai đi, hoặc bà mẹ rất nghèo có thể cần giúp đỡ để quyết định có cho con mình ra phố lang thang kiếm thêm tiền không?. Hơn nữa, nhà tham vấn không chỉ đơn thuần đưa ra một “câu trả lời” hay “một giải pháp” cho thân chủ. Nhà tham vấn hướng dẫn thân chủ các kỹ năng giải quyết vấn đề, giúp họ có thể sử dụng các kỹ năng đó để đưa ra các quyết định cho bản thân họ. Những kỹ năng này sẽ giúp thân chủ đối mặt với mọi vấn đề họ gặp phải trong cuộc sống (xem lời trích dẫn ở phần mở đầu của phần Nội dung tham khảo).

Khuyến khích thân chủ đưa ra những lựa chọn và các thay đổi tốt nhất cho chính cuộc sống của họ. Việc nhận thức rằng nhà tham vấn không bao giờ ra quyết định thay cho thân chủ là tuyệt đối quan trọng. Nhà tham vấn giúp thân chủ làm chủ cuộc sống của chính họ, và tránh áp đặt các quan điểm cho thân chủ, trừ khi có mối đe doạ nào đó sắp xảy ra và nhà tham vấn cần phải ngăn ngừa. Những lựa chọn tốt nhất với người này có thể không hoàn toàn phù hợp với những người khác. Tham vấn là một quá trình tăng cường năng lực, giúp thân chủ học cách tin vào chính bản thân mình và đưa ra các lựa chọn lành mạnh mang lại lợi ích tốt nhất cho họ. Đó không phải là một quá trình trong đó người này nói người kia nên định hướng cho cuộc sống của mình như thế nào.

Nhấn mạnh những đặc điểm tích cực của thân chủ và giúp họ sử dụng những thế mạnh này để vượt qua những trở ngại và thách thức. Chẳng hạn, một nhà tham vấn tham vấn với một trẻ đường phố, trẻ này đang có vấn đề về việc tiết kiệm tiền vì em cảm thấy thương những trẻ đường phố nhỏ tuổi hơn, em đã cho các bạn số tiền em kiếm được. Kết quả là em thường xuyên bị đói và suy dinh dưỡng. Nhà tham vấn nên khen ngợi lòng tốt và sự hào hiệp của em (nhấn mạnh điểm tích cực của em), nhưng cũng nên chỉ ra cho em thấy rằng em cũng cần tiền để nuôi sống bản thân cho khoẻ mạnh. Sau đó, nhà tham vấn và thân chủ có thể nêu ra các cách mà em có thể thể hiện lòng tốt và thiện ý của mình với người khác mà không nguy hại đến bản thân, (ví như, nói chuyện hoặc chơi với những trẻ đó thay vì cho các em tiền).

Tham vấn không đưa ra lời khuyên, đề nghị, hoặc các quan điểm riêng

Nói với một ai đó những điều anh/chị nghĩ họ nên làm để “giải quyết” một vấn đề là đưa ra lời khuyên, không phải là tham vấn. Nhà tham vấn sẽ xây dựng một mối quan hệ (khác với quan hệ bạn bè) với thân chủ và làm việc với họ để xác định những nguyên nhân sâu xa của vấn đề/ các vấn đề thân chủ đang gặp phải. Tham vấn là lắng nghe chăm chú câu chuyện của thân chủ và cùng với thân chủ xác định các kế hoạch để giải quyết tình huống khó khăn hiện tại hay xoa dịu những nỗi đau tinh thần của thân chủ. Tham vấn tập trung vào các khía cạnh tâm lý của vấn đề và giúp thân chủ tự tìm ra các khả năng lựa chọn cho bản thân họ. Có đôi khi mọi người “bị tắc” và không thể nhận ra những khả năng tiềm ẩn, và nhà tham vấn có thể thể hiện cách nhìn nhận hoặc quan điểm riêng của mình, nhưng không được “ép buộc” hoặc cố thuyết phục thân chủ chấp nhận những quan điểm này.

Tham vấn có thể diễn ra ở mọi nơi từ vài tuần tới vài tháng

Bởi vì những vấn đề của mỗi người hình thành và phát triển trong một khoảng thời gian, do đó cũng cần có thời gian để giải quyết chúng. Những vấn đề phức tạp không thể giải quyết tận gốc qua một cuộc giao tiếp trong vòng năm phút với nhà cố vấn. Tham vấn kéo theo rất nhiều thứ mà không chỉ đơn thuần là giúp thân chủ giải quyết được từng vấn đề nhỏ một. Ví dụ, cho một trẻ đường phố một ít tiền để trẻ đó có thể sống qua bữa trưa trong ngày hôm đó là một việc làm từ thiện, không phải là tham vấn. Lắng nghe trẻ và qua quá trình tham vấn, cho trẻ thấy được rằng anh/chị quan tâm đến phúc lợi và quan tâm đến tâm tư, suy nghĩ của trẻ có thể là một món quà lớn lao hơn cả việc làm từ thiện đó.

Nếu một trẻ đường phố anh/chị đang tham vấn có sử dụng thuốc phiện, việc chỉ đơn thuần nói với em rằng em không nên sử dụng thuốc phiện nữa (giống như bất cứ người nào đó đều có thể nói) không phải là tham vấn và sẽ chẳng giúp ích được cho trẻ lâu dài. Tham vấn trong trường hợp đó cần xây dựng một mối quan hệ với cậu bé và gặp gỡ cậu thường xuyên cho đến khi thiết lập được một mối quan hệ tin cậy. Nó cũng liên quan đến việc tìm hiểu về cậu bé, đồng thời lắng nghe, cố gắng tìm hiểu các yếu tố khác nhau có thể đã góp phần dẫn đến sự nghiện ngập của cậu bé. Có phải cậu bé dùng thuốc phiện để che đậy sự đau đớn? để phản đối lại bố mẹ? bởi vì cậu đau khổ? Những hoạt động nào có thể giúp cậu bé chọn các cách khác để giải quyết các vấn đề và những cảm giác? Nếu cậu bé bị bạn bè lôi kéo thì làm thế nào để hướng em quan tâm đến những hoạt động khác tích cực hơn và tăng cường lòng tự trọng của em?

Tham vấn không giống như một cuộc trò chuyện hoặc một quan hệ bằng hữu

Nhà tham vấn phải luôn luôn tôn trọng các ranh giới chuyên môn giữa thân chủ và nhà tham vấn (CHÚ Ý: chủ đề này được trình bày kỹ hơn trong Môđun IV, Bài I Các nguyên tắc trong tham vấn). Ví dụ, giống như những người chuyên nghiệp hỗ trợ khác (bác sĩ, luật sư), nhà tham vấn không xây dựng “quan hệ bằng hữu” với thân chủ của mình. Vì sao vậy? Lý do thứ nhất là mọi người dường như khó có thể khách quan với những người bạn của mình. Nếu không có tính khách quan chuyên nghiệp, nhà tham vấn không thể trở thành những người giúp đỡ có hiệu quả. Một lý do quan trọng khác là quan hệ bằng hữu luôn mang tính tương hỗ; mọi người dựa vào những người bạn của mình khi gặp khó khăn và ngược lại. Chúng ta chọn những người bạn cho mình vì chúng ta quý mến họ và/hoặc chúng ta tìm thấy sự vui vẻ trong những quan hệ đó. Khi nói chuyện hoặc tham gia vào các cuộc đàm luận với bạn bè, một người có thể “độc chiếm”cuộc đàm thoại với những chuyện vặt vãnh về họ hoặc có thể chuyển sang một đề tài khác không mấy thú vị, và chuyển sang một người nào đó. Ngược lại, các nhà tham vấn đặt các nhu cầu của mình sang một bên và chỉ tập trung vào (các) thân chủ. Việc các nhà tham vấn giữ được sự khách quan và không “trông đợi” gì từ phía thân chủ là rất cần thiết (giống như việc chúng ta có thể trông đợi từ những bạn bè của mình). Nhà tham vấn không bao giờ áp đặt những gì họ cho là tốt nhất cho thân chủ (giống như chúng ta thườnglàm đối với bạn bè hoặc người thân trong gia đình).

Tham vấn không phải là cố vấn

Ở Việt nam vẫn có những sự nhầm lẫn về định nghĩa tham vấn và thuật ngữ thích hợp nên sử dụng để định danh nghề tham vấn. Thuật ngữ "tư vấn"hay "cố vấn" được sử dụng rộng rãi với nghĩa tham vấn, hiểu theo nghĩa đen là " consultant " người cung cấp sự hỗ trợ cho thân chủ (giống như trong hợp đồng kinh tế ). Thuật ngữ "tham vấn" được sử dụng phổ biến hơn ở miền Nam, ngụ ý rằng yếu tố tâm lý giúp ích cho việc tăng cường khả năng cho thân chủ. Do đó thuật ngữ "tham vấn" tương đối phù hợp nhằm mô tả quá trình hỗ trợ của tham vấn vì nó biểu đạt chính xác hơn các kỹ năng, kiến thức và chuyên môn mà công việc đòi hỏi.

Nhà tham vấn thường bị hiểu nhầm như một người đưa ra những lời khuyên hoặc các gợi ý cho thân chủ để giải quyết các vấn đề của họ (giống như nhà cố vấn). Nhưng những cuộc giao tiếp giống kiểu cố vấn này hàm chứa một mối quan hệ “phụ thuộc” trong đó một “chuyên gia” "đầy hiểu biết" và "năng lực" sẽ cung cấp "cách giải quyết" vấn đề cho người kia, giống như một bác sĩ kê đơn thuốc cho bệnh nhân.

Việc đưa ra lời khuyên chuyển tải tới thân chủ một bức thông điệp rằng: "Tôi hiểu vấn đề của anh chị và xử lý nó tốt hơn anh/ chị. Anh/ chị không thể tự giải quyết vấn đề của mình". Nói thân chủ “nên”làm gì không chỉ làm họ chán nản mà còn thể hiện sự thiếu tôn trọng khả năng tự giải quyết vấn đề của thân chủ.

Nhiều vấn đề thân chủ trình bày mang tính chất tâm lý, nghĩa là cách thân chủ suy nghĩ và cảm nhận về bản thân họ và cuộc sống của họ đã tạo nên những khó khăn cho họ. Vì lý do này nên trong quá trình giúp đỡ, các hoạt động công tác xã hội như kết nối mọi người với các nguồn lực hoặc giúp đỡ họ tìm việc làm phải được thực hiện kèm theo tham vấn trực tiếp, nhằm giải quyết các vấn đề về tâm lý tình cảm của thân chủ.

Bất cứ ai cũng có thể đưa ra lời khuyên – việc đó không đòi hỏi quá trình tập huấn đặc biệt cũng như tính chất chuyên nghiệp. Tuy nhiên, tham vấn là một nghề nghiệp và là một quá trình giúp đỡ mọi người xác định và giải quyết các nguyên nhân “gốc rễ” của vấn đề họ đang gặp phải. Tham vấn được xây dựng dựa trên cơ sở kiến thức và các kỹ năng cụ thể. Khoá tập huấn này được thực hiện để giới thiệu một số kỹ năng cơ bản trong tham vấn nhằm giúp đỡ thân chủ tạo nên những thay đổi tích cực và lâu dài trong cuộc sống của họ.

Tham vấn và Công tác xã hội khác nhau ở những điểm gì?

Tham vấn và công tác xã hội đều là những nghề nghiệp nhằm giúp đỡ thân chủ cải thiện cuộc sống và cảnh huống của họ; chúng khá giống nhau ở chỗ chúng đều là những công việc trợ giúp. Phạm vi của công tác xã hội rộng hơn. Công tác xã hội đưa ra sự can thiệp ở các lĩnh vực khác nhau nhằm giúp đỡ các cá nhân, gia đình, và/hoặc cộngđồng. Chẳng hạn, các cán bộ xã hội giúp thân chủ tiếp cận các nguồn lực, ủng hộ các quyền của thân chủ ở cấp chính quyền, và làm việc để cải thiện tình hình kinh tế của trẻ em, gia đình, và cộng đồng.

Phạm vi của tham vấn cụ thể hơn phạm vi của công tác xã hội, chủ yếu tập trung vào các vấn đề tâm lý và tình cảm của các cá nhân, nhóm, và gia đình. Tham vấn là một phần của công tác xã hội, và là một công cụ chủ yếu giúp đỡ mọi người cải thiện chất lượng cuộc sống của họ. Nhà tham vấn thường sử dụng các hoạt động công tác xã hội để giúp đỡ thân chủ, ví dụ, hoạt động như một người kết nối hoặc giúp thân chủ tìm đến các nguồn lực có thể mang lại lợi ích cho họ trong cộng đồng. Chẳng hạn công việc của nhà tham vấn có thể bao gồm, giúp trẻ đường phố trở thành thành viên của các lớp học cơ sở, tìm câc mái ấm, hoặc giúp gia đình trẻ tiếp cận với những chương trình tín dụng để cải thiện tình hình tài chính của họ. Nói cách khác, nhà tham vấn tham gia vào các hoạt động công tác xã hội và ngược lại.

Một ví dụ khác, việc khuyến khích một trẻ là nạn nhân của sự loạn luân đã bỏ học quay trở lại trường nhằm tăng cường lòng tự trọng của em là sự hỗ trợ theo một nghĩa nào đó, nhưng để thực sự thành công trong việc giúp đỡ em thì sự can thiệp không thể chỉ dừng ở đó. Cô bé cần sự giúp đỡ để hiểu và giải quyết cốt lõi của vấn đề/khó khăn em đang gặp phải. Những trải nghiệm đau đớn vì bị lạm dụng đã ảnh hưởng đến trạng thái tinh thần hiện tại của em như thế nào? Em nghĩ và cảm nhận về bản thân như thế nào? Em có cảm giác gì về những chuyện đã xảy ra với em? (chẳng hạn, em có tự trách mình không? Em có bị mặc cảm tội lỗi ám ảnh không?). Tham vấn với cô bé này đòi hỏi phải hình dung được sự lạm dụng đã tác động đến ý nghĩ và cảm giác của em như thế nào qua việc lắng nghe và sử dụng các kỹ năng giao tiếp. Có thể cần thiết phải giúp cô bé tìm ra một vài cách sắp xếp lại cuộc sống nếu em vẫn đang bị ngược đãi (một ví dụ về hoạt động công tác xã hội). Nếu tình huống đã thay đổi, (chẳng hạn, thủ phạm lúc này không còn sống trong nhà nữa), nhà tham vấn sẽ làm việc với gia đình cô bé, nếu có thể, để giúp họ thay đổi cách xử sự có nguy cơ dẫn đến vấn đề của cô bé trở nên nghiêm trọng (chẳng hạn, bác bỏ sự lạm dụng đã xảy ra trong gia đình, bếu xấu cô bé, không thừa nhận những tổn thương đã gây ra cho cô bé). Tham vấn sẽ giúp cô bé thay đổi cách nghĩ và cảm nhận về bản thân em (tăng cường lòng tự trọng và cải thiện trạng thái tâm lý của em)

Tham vấn có thể hỗ trợ như thế nào?

Nhiều người trong lúc cố gắng thoát khỏi sự đau khổ của mình đã gây ra những vấn đề xã hội. Những hành vi tiêu cực và các vấn đề xã hội thường bắt nguồn từ những nỗi đau không được giải toả, nghĩa là những nỗi đau mọi ngưòi không thể hoặc không sẵn lòng đối mặt với chúng mà phải chịu đựng chúng. Những người không giải toả được các nỗi đau thường có cảm giác muốn uống rượu, đánh đập vợ, con; đánh bạc, tự huỷ hoại bản thân bằng dao lam, thậm chí tự tử để giải thoát khỏi những cảm giác không thể chịu đựng được.

Tham vấn bao gồm việc hướng dẫn mọi người cách kiềm chế và giải toả những nỗi đau của họ, lắng nghe chúng để có được những thông tin về cuộc sống, thừa nhận, và mô tả thay vì trốn chạy chúng. Ví dụ, nhà tham vấn hướng dẫn mọi người cách viết về nỗi đau của họ, thảo luận về chúng, và diễn đạt chúng qua mỹ thuật, bài tập, khiêu vũ, hoặc âm nhạc. Trẻ em cần những cách có thể dự đoán để trấn tĩnh và kiềm chế các cảm giác lấn át như cảm giác giận dữ, thịnh nộ, đau buồn, thất vọng, và tội lỗi. Thiếu những kỹ năng đương đầu tich cực, trẻ em (và người lớn) thường chọn các cách tiêu cực hoặc mang tính huỷ diệt để giải tỏa nỗi đau của họ (ví dụ, uống rượu hoặc sử dụng ma tuý). Trẻ em, nhất là những trẻ cần hỗ trợ dặc biệt, có thể có lợi rất lớn từ việc gặp gỡ các nhà tham vấn, những người có thể hỗ trợ các em, hợp lý hoá những cảm giác của các em, và giúp các em thừa nhận và giải quyết những khó khăn trong cuộc sống.

Sự tự do hóa nền kinh tế của Việt nam đã mang lại rất nhiều lợi ích cho đất nước, nhưng nó cũng tạo ra không ít các vấn đề xã hội (như, lạm dụng thuốc, tình trạng vô gia cư, và bạo lực) đặc biệt là ở những khu vực thành thị. Tình trạng này còn khá mới đối với Việt nam, do đó cũng đòi hỏi những sự can thiệp mới như tham vấn và công tác xã hội. Các nhà giúp đỡ chuyên nghiệp trong lĩnh vực này có thể giúp đỡ những người bị ảnh hưởng theo hướng tiêu cực bởi sự hện đại hoá đang ngày càng tăng và những ảnh hưởng của Phương Tây, đặc biệt là giúp đỡ những trẻ em dễ bị tác động, những đại diện cho tương lai của Việt nam.

Tham vấn là một nghề nghiệp đầy thách thức

Những người không nắm được các kỹ năng tham vấn và những yêu cầu của tập huấn tham vấn thường cho rằng đó là một nghề “dễ dàng”; xét cho cùng thì có việc gì dễ hơn là chỉ nghe người khác nói? Nhưng đây là một sự hiểu nhầm đáng tiếc; trên thực tế tham vấn là một nghề rất khó. Hàng ngày, nhà tham vấn phải đối mặt với những vấn đề rất phức tạp và đau đầu. Chẳng hạn, khi tham vấn với trẻ em, nhà tham vấn thường phải đối mặt với những tình huống như bị bỏ rơi, và/hoặc lạm dụng tình dục hoặc thân thể. Nhiều thân chủ không muốn gặp gỡ nhà tham vấn, hoặc có thể miến cưỡng khi phải thay đổi nhận thức, tình cảm, và những cách xử sự đã hình thành từ lâu trong cuộc sống của họ. Thân chủ thường bày tỏ các vấn đề thuộc về hành vi và cảm giác (thường là kết quả của những nỗi đau hay các vấn đề tâm lý khác).

Một nhà tham vấn cần hiểu rằng những vấn đề phức tạp trong cuộc sống của thân chủ không thể giải quyết được trong một khoảng thời gian ngắn. Quá trình tham vấn đòi hỏi sự kiên nhẫn và khả năng giải quyết các vấn đề trong sự kiểm soát của thân chủ. Chẳng hạn, không thể lấy sự đau khổ ra khỏi những trải nghiệm đau đớn, hoặc xoá đi những ký ức không vui từ ý thức của họ. Tuy nhiên vẫn có thể giúp thân chủ giải toả những cảm giác liên quan đến những sự kiện đó, đặt những sự kiện này vào bối cảnh và triển khai. Mặc dù việc “khoét sâu” vào những trải nghiệm đau đớn là không dễ dàng cho thân chủ nhưng cũng không nên khuyến khích họ “quên” chúng. Nhà tham vấn cố gắng giúp đỡ thân chủ “làm rõ” những điều sai trái trong cuộc sống của họ và tiếp cận cuộc sống với thái độ mới và tích cực hơn. Cho dù tham vấn không thể làm cho những vấn đề biến mất một cách kỳ diệu nhưng sức mạnh của sự lắng nghe và được lắng nghe là một phần quan trọng của quá trình chữa lành vết thương và có thể ngăn chặn thân chủ khỏi việc sử dụng những hành vi mang tính huỷ hoại như những biện pháp để đối diện với những cảm giác áp chế.

Mọi người thường muốn trốn tránh hoặc phớt lờ những vấn đề tâm lý. Ví dụ, người lớn thường nói với trẻ em rằng: “đừng băn khoăn” “những điều phiền muộn của cháu sẽ qua đi cùng với thời gian” “Đừng nghĩ về những chuyện buồn của cháu nữa”. Trái lại, nhà tham vấn thừa nhận rằng các cảm giác là những khía cạnh tự nhiên trong hành vi của con người. Những cảm giác đó nên được biểu đạt ra ngoài và giải toả. Những cảm giác không được giải toả sẽ bị” kìm nén” và những người chôn giấu các cảm giác cuối cùng sẽ thể hiện bản thân theo những cách tiêu cực.

Nhà tham vấn không nên hy vọng có thể giải quyết các vấn đề của mọi thân chủ mà họ làm tham vấn. Họ có thể giúp đỡ thân chủ rất nhiều bằng cách lắng nghe, ủng hộ, thông cảm, và hiểu thân chủ. Nhà tham vấn hướng dẫn các kỹ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề để thân chủ có thể sử dụng trong cuộc sống của họ. Luôn luôn ghi nhớ rằng thay đổi nhằm cải thiện trạng thái tâm lý là trách nhiệm của thân chủ; nhà tham vấn hỗ trợ và hướng dẫn thân chủ trong quá trình tạo ra những thay đổi tích cực cho cuộc sống, nhưng sự lựa chọn cuối cùng nằm ở thân chủ.


Phỏng theo J. Mielke. (1999). Counselling and Support for People Living with and affected by HIV/AIDS. Hanoi, Vietnam: UNAIDS, p. 18, and V. Long. (1996). Communication Skills in Helping Relationships, pp. 7-26.

KỸ NĂNG THAM VẤN PHÒNG NGỪA HIV/AIDS




KỸ NĂNG THAM VẤN PHÒNG NGỪA HIV/AIDS
Th.S.Nguyễn Ngọc Lâm, biên sọan theo tài liệu của Edward Wolf
BUILDING QUALITY HIV PREVENTION COUNSELING SKILLS

I. CÁC NGUYÊN TẮC TỔNG QUÁT TRONG THAM VẤN HIV/AIDS.

1. Tham vấn lấy thân chủ làm trọng tâm : với mục tiêu rộng lớn của phòng ngừa HIV, tham vấn lấy thân chủ làm trọng tâm chú trọng đến các mối quan tâm và lợi ích của cá nhân thân chủ. Các kỹ thuật này nhằm tìm hiểu thân chủ suy nghĩ gì về các vấn đề được thảo luận.

2. Bối cảnh : Tác động của tham vấn sẽ tốt hơn khi nhà tham vấn có thể khai phá và tìm hiểu những tình huống cảm xúc và thể trạng đã có trong cuộc sống của thân chủ và hậu quả là hành vi nguy cơ HIV.

3. Các buổi tham vấn cá nhân hóa : Tác động của tham vấn sẽ tốt hơn khi nhà tham vấn đáp ứng được các buổi tham vấn dựa trên các nhu cầu riêng biệt và tình hình của mỗi cá nhân thân chủ.

4. Chỉ có thông tin thôi không thể đưa đến thay đổi hành vi : Thay đổi hành vi là một tiến trình phức tạp đòi hỏi những can thiệp dựa trên các tình huống cá nhân thân chủ. Chỉ đơn thuần hoặc chủ yếu là cung cấp thông tin, sự can thiệp không thể giúp một người thay đổi hành vi.

5. Thái độ khách quan : Nhà tham vấn cần phải có thái độ khách quan khi trao đổi thông tin khó hiểu với thân chủ và duy trì thái độ không phê phán khi thảo luận về thực hành tình dục, sử dụng ma túy, hoặc hành vi cá nhân.

6. Vai trò giới hạn : điều quan trọng cho nhà tham vấn HIV là nhận biết các giới hạn của vai trò tham vấn.

II. THAM VẤN LẤY THÂN CHỦ LÀM TRỌNG TÂM.

Tham vấn lấy thân chủ làm trọng tâm chú trọng đến các mối quan tâm và các lợi ích của thân chủ. Các kỹ thuật tham vấn được sử dụng để tìm hiểu thân chủ suy nghĩ gì về các vấn đề được thảo luận.

Nếu các sự kiện đã được trình bày, nhà tham vấn khám phá xem những sự kiện đó đưa đến điều gì trong cuộc sống của thân chủ. Nếu có gợi ý, những gợi ý này phải phù hợp với quan điểm, cách sống và tài nguyên của thân chủ.
Tham vấn lấy thân chủ làm trọng tâm chú trọng đến những chọn lựa cá nhân khả thi làm giảm hay phòng ngừa việc lây lan HIV. Tham vấn lấy thân chủ làm trọng tâm hiệu quả có thể :

• Cải thiện khái niệm bản thân của thân chủ về nguy cơ.
• Giúp thân chủ xác định ưu tiên các nhu cầu.
• Hỗ trợ thay đổi hành vi đã thực hiện hay đang cố gắng thực hiện.
• Thương lượng về một kế hoạch khả thi giảm nguy cơ.
• Hỗ trợ quyết định có đi xét nghiệm hay không.
• Giúp thân chủ khi có kết quả xét nghiệm và chọn những bước thích hợp để bảo vệ sức khỏe của họ trong tương lai.

III. GIẢM SỰ TỔN HẠI

Giảm sự tổn hại là một tập hợp các chiến lược khuyến khích thân chủ giảm sự tổn hại cho chính họ và cho cộng đồng của họ, ngay cả nếu họ không thể loại bỏ sự tổn hại bằng cách kềm chế hành vi nguy cơ. Khi sự tiết chế là hình thức cao của sự gia giảm tổn hại, điều này giúp cải thiện sức khỏe cho cá nhân và cho cộng đồng.

Nguyên tắc hướng dẫn giảm tổn hại là nguyên tắc thay đổi tích cực trong đời sống của thân chủ. Điều quan trọng là bắt đầu từ thân chủ như thế nào và đưa họ bước đi từng bước theo cách riêng của họ.

IV. CÁC TIÊU CHUẨN THAM VẤN PHÒNG NGỪA HIV.

Thiết lập hoặc cải thiện khái niệm bản thân của thân chủ về nguy cơ.
Giúp thân chủ đánh giá và nhận lấy “ trách nhiệm” về sự lây lan HIV của mình. Đánh giá nguy cơ không phải là đánh giá thụ động của nhà tham vấn về hành vi của thân chủ, như kiểm lại các nguy cơ từ một danh sách đã liệt kê mà là một tiến trình tương tác giữa nhà tham vấn và thân chủ.

Nhận diện và hỗ trợ thay đổi hành vi mà thân chủ đã cố gắng.
Nhận diện và thảo luận những thất bại phòng ngừa đã qua va thực tế những thành công giúp bảo đảm kế hoạch giảm nguy cơ, chú ý đến các nhu cầu phòng ngừa của thân chủ, và các cản trở hiện nay để thực hiện những hành vi an toàn. Nhận diện những thành công phòng ngừa trước đây ( ví dụ, thương lượng thành công về việc sử dụng bao cao-su với bạn tình mới ) giúp cho nhà tham vấn có cơ hội tăng cường và hỗ trợ những chọn lựa phòng ngừa tích cực.

Thương lượng một kế hoạch hành động khả thi để giảm nguy cơ.
Kế hoạch phải dựa trên các kỹ năng của thân chủ, các nhu cầu và tình huống, và phải phù hợp với các ý định thay đổi hành vi được bộc lộ hoặc ngụ ý. Nhà tham vấn phải xác định với thân chủ là kế hoạch giảm nguy cơ là thực tế và khả thi – nếu không thì dễ thất bại.

V. CÁC KHÁI NIỆM CHÍNH TRONG THAM VẤN HIV.

QUAN HỆ ĐỐI TÁC

Tham vấn HIV thành công là một quan hệ đối tác giữa nhà tham vấn và thân chủ. Thân chủ là chuyên gia trong các vấn đề, kinh nghiệm, động lực và cảm nhận của chính họ. Vai trò của nhà tham vấn là làm sáng tỏ con đường có lợi cho thân chủ.

CÁC BUỔI THAM VẤN CÁ NHÂN HÓA

Mỗi thân chủ đều khác nhau. Các nhà tham vấn có kỹ năng sử dụng những vấn đề và tính chất riêng biệt để làm cho từng buổi tham vấn được hiệu quả hơn.

TÍNH KHÁCH QUAN CỦA NHÀ THAM VẤN.

Công việc chỉ hiệu quả nhất khi nhà tham vấn thể hiện thái độ khách quan, không phê phán các vấn đề và kinh nghiệm của thân chủ.

ĐƯA RA NHỮNG CHỌN LỰA

Nhà tham vấn hiệu quả là người đưa ra những chọn lựa cho thân chủ, chứ không đưa ra những hướng dẫn.

CẢM NHẬN LÀ SỨC MẠNH – VÀ LAN TRUYỀN

Cảm nhận là một phần sức mạnh của kinh nghiệm của mọi người. Nhà tham vấn không được làm mất hoặc “ áp đặt” cảm nhận của thân chủ. Cái gì mà nhà tham vấn cảm nhận được trong lần tham vấn ( lo âu, sợ hãi, sự khuây khỏa, sợ chết, tức giận, u buồn, bị lấn áp ) đôi khi cũng là cảm nhận của thân chủ.

BẠN KHÔNG PHẢI LÀ MỤC ĐÍCH

Thân chủ đến với các buổi tham vấn mang theo một câu chuyện dài của các vấn đề, những cảm nhận và kinh nghiệm. Khi thân chủ đối đầu với nhà tham vần với những thể hiện thách thức ( như tức giận, sợ, hoặc nghi ngờ ), đó là do kinh nghiệm của quá khứ.

VI. CÁC VẤN ĐỀ QUYỀN LỰC VÀ KIỂM SOÁT TRONG THAM VẤN HIV.

NÓI VỀ CÁC HÀNH VI NGUY CƠ.

Nói về các hành vi nguy cơ tất nhiên làm nảy sinh các vấn đề cơ bản của quyền lực và kiểm soát trong mối quan hệ tham vấn. Thân chủ được mong đợi tiết lộ các nguy cơ của mình, có thể bao gồm các hành vi làm nổi rõ tính cách không tốt hoặc các hành vi bị xã hội đánh giá là tiêu cực. Thân chủ tiết lộ các hành vi này cho nhà tham vấn nếu họ tin rằng những điều đó sẽ được giử bí mật.

QUYỀN LỰC TỔ CHỨC.

Theo tính chất tổ chức như thế nào trong xét nghiệm HIV va của các tổ chức xã hội, các nhà tham vấn thường bắt đầu với nhiều quyền lực hơn thân chủ. Một vài ví dụ của quyền lực này là :

1. Cơ quan kiểm soát các lần hẹn và thân chủ phải theo lịch hẹn cũng như các kết quả.
2. Thân chủ phải tuân theo các quy định của một số cơ quan để thụ hưởng các dịch vụ.
3. Cơ quan chỉ nghe theo chuyên môn của nhà tham vấn chứ không theo thân chủ.
4. Nhà tham vấn hoặc cơ quan biết kết quả trước thân chủ.
5. Nhà tham vấn hoặc cơ quan có thể tiếp cận những thông tin khác về cá nhân thân chủ.

VỊ THẾ LÀ MỘT THÂN CHỦ CÓ THỂ LÀM GIẢM Ý NGHĨA CỦA SỰ KIỂM SOÁT HAY QUYỀN LỰC CÁ NHÂN CỦA HỌ.

o Con người có nhu cầu về quyền lực để kiểm soát cuộc sống của mình và thực hiện những thay đổi. Nếu hoàn cảnh tham vấn làm cho thân chủ cảm thấy mất quyền lực, họ không cảm thấy là họ có thể thay đổi được.
o Nếu thực chất thân chủ cảm thấy ít quyền lực hơn nhà tham vấn, họ sẽ không thể nhận thức được những giá trị từ buổi tham vấn, hoặc sử dụng sự hỗ trợ và tài nguyên của dịch vụ.

THAM VẤN LẤY THÂN CHỦ LÀM TRỌNG TÂM CÓ THỂ GIẢI QUYẾT VÀ CÂN BẰNG CÁC VẤN ĐỀ QUYỀN LỰC VÀ KIỂM SOÁT TRONG THAM VẤN HIV.

o Các nhà tham vấn có thể nhận biết các ức chế của thân chủ nếu nó nảy sinh, thể hiện mối quan tâm chân thật trong các hoàn cảnh và kinh nghiệm của thân chủ, nhấn mạnh đến các vấn đề cần quan tâm với thân chủ, và công nhận sự hiểu biết của thân chủ về cuộc sống của chính họ, các hành vi và cách thay đổi hành vi.
o Chú trọng đến tham vấn lấy thân chủ làm trọng tâm là giúp giải quyết và cân bằng quyền lực và kiểm soát trong tham vấn HIV.

o Điều quan trọng là đưa khái niệm quyền lực và kiểm soát vào tham vấn HIV vì các học viên tham gia tập huấn có thể không biết rằng các nhà tham vấn có quyền lực trong buổi tham vấn. Điều quan trọng là họ nhận biết là trong bối cảnh tham vấn HIV, thân chủ coi nhà tham vấn là người có quyền lực.

VII. CÁC GIAI ĐOẠN CỦA THAY ĐỔI HÀNH VI.

GIAI ĐOẠN TIỀN DỰ ĐỊNH

Ở giai doạn này, thân chủ chưa nghĩ đến sự thay đổi. Họ chưa nhận thức về nguy cơ hoặc biết nhưng quyết định không thay đổi hành vi. Họ không muốn được giúp đỡ tìm kiếm giải pháp vì họ thật sự không thấy rõ vấn đề.

Cách giải quyết : Giúp họ nhìn rõ vấn đề, không buộc họ phải thay đổi, lắng nghe họ một cách có phản hồi, tìm hiểu quan điểm của thân chủ.

GIAI ĐOẠN DỰ ĐỊNH.

Thân chủ có ý nghĩ thay đổi, nhưng chưa có kế hoạch cụ thể riêng biệt để thay đổi trong tương lai gần. Họ còn cân nhắc cái được và cái mất trong sự thay đổi. Giai đoạn này có thể là giai đoạn lâu dài.

Cách giải quyết : Gíup họ suy nghĩ và tìm ra những điều nào có lợi và bất lợi khi họ thay đổi hoặc khi họ không thay đổi.

GIAI ĐOẠN CHUẨN BỊ HÀNH ĐỘNG ( giai đoạn quyết định ).

Thân chủ có kế hoạch thay đổi hành vi trong tương lai gần và có thể đã có vài hành động ban đầu.

Cách giải quyết : thúc đẫy sự thay đổi, cùng thân chủ bàn về kế hoạch thay đổi và cung cấp cho họ những lựa chọn.

GIAI ĐOẠN HÀNH ĐỘNG.

Thân chủ ở giai đoạn bắt đầu thay đổi hành vi, nhưng thay đổi hành vi chỉ mới mẽ. Đây là giai đoạn khó khăn nhất và thấy rõ sự thay đổi nhất. Thường là hay quay trở lại giai đoạn trước.

Cách giải quyết : Giúp thực hiện hành động và hỗ trợ các mặt mạnh của họ, theo dõi để giúp họ vượt qua những khó khăn.

GIAI ĐOẠN DUY TRÌ.

Thân chủ đã duy trì thay đổi hành vi thích hợp trong một thời gian dài và hành vi mới có được trở thành một phần của cuộc sống của họ.

Cách giải quyết : Giúp họ những kỹ năng từ chối không trở lại hành vi cũ, giúp họ giải quyết những vấn đề phát sinh khi thay đổi.

GIAI ĐOẠN TRỞ LẠI.

Đặc điểm của giai đoạn này là tái hiện những hành vi cũ, tức là quay lại các giai đoạn trước. Cần lưu ý là con đường thay đổi không bao giờ là con đường thẳng và những thay đổi thành công không chỉ tái lập mẫu hành vi mới mà còn tái lập những suy nghĩ mới về mình và về các hành động.

Cách giải quyết : Nên cảm thông họ, xem có điều gì liên quan đến hành động đó và cho họ thấy họ phải làm gì và cho họ biết thay đổi là một công việc rất khó khăn.

VIII. CÁC KỸ THUẬT LẮNG NGHE TÍCH CỰC

Các kỹ thuật tham vấn dựa trên những gì mà thân chủ bộc lộ – các từ, hành động, thái độ. Đó là :

NHỮNG CÂU HỎI MỞ

Những câu hỏi không thể trả lời bằng “ vâng” hoặc “không”, có thể giúp thân chủ bộc lộ sâu hơn các vấn đề cá nhân riêng tư, tạo thuận lợi cho tham vấn lấy thân chủ làm trọng tâm và thân chủ tích cực hơn lúc tham vấn.

LẬP LẠI

Lập lại chính xác các từ của thân chủ nói có thể làm cho thân chủ cảm thấy được lắng nghe.

Thân chủ : “ Tôi biết tôi phải dùng bao cao-su với bạn tình, nhưng đôi khi tôi không làm và không biết tại sao thế, nó làm tôi băn khoăn.”
Nhà tham vấn : “ Nó làm cho anh lo lắng à ?”.

DIỄN GIẢI

Nói lại những gì thân chủ vừa nói, nhưng với những từ khác, không mở rộng đề tài, là cách giúp thân chủ cảm thấy được lắng nghe và nhận thức hơn về chính mình.

Thân chủ : “ Tôi biết tôi phải dùng bao cao-su với bạn tình, nhưng đôi khi tôi không làm và không biết tại sao thế, nó làm tôi băn khoăn.”
Nhà tham vấn : “ Hình như anh có khái niệm việc gì anh cần phải làm và khi anh không làm thì anh cảm thấy bối rối và không ổn. “

PHẢN HỒI

Mở rộng đề tài, công nhận, thăm dò các cảm nhận, hoặc những suy nghĩ chưa được nói ra. Nhà tham vấn thường nắm bắt tín hiệu từ truyền thông không lời của thân chủ như nét mặt, ngôn ngữ cơ thể, âm tiếng. Đi sâu vào nội dung của buổi tham vấn bằng cách khuyến khích thân chủ thăm dò cảm nhận của họ, suy nghĩ, giá trị và động lực một cách chi tiết hơn.

Thân chủ : “ Tôi biết tôi phải dùng bao cao-su với bạn tình, nhưng đôi khi tôi không làm và không biết tại sao thế, nó làm tôi băn khoăn.”
Nhà tham vấn : “ Hình như bạn đang bối rối ? đôi khi bạn không chắc điều gì xảy ra cho bạn, cũng sợ lắm phải không ?”

TÒ MÒ

Thể hiện sự tò mò chân thật và quan tâm trong các tình huống của thân chủ và mời gọi bộc lộ thêm. Dùng kỹ năng trong tò mò như là một kỹ thuật là ở nơi sức diễn cảm của chính nhà tham vấn. Các từ phải được lập lại bằng sự tò mò chân thật và chú ý đến âm tiếng và thái độ.

Thân chủ : “ Tôi biết tôi phải dùng bao cao-su với bạn tình, nhưng đôi khi tôi không làm và không biết tại sao thế, nó làm tôi băn khoăn.”
Nhà tham vấn : “ Tôi tự hỏi nếu chúng ta có thể thử xem điều gì xảy ra ? Có thể cho tôi biết nhiều hơn về những gì anh biết khi dùng và khi không dùng bao cao-su ?”.

HỆ THỐNG LẠI


Cung cấp một cách có lựa chọn khi xem xét một hoàn cảnh, thường một cách xây dựng và tích cực hơn.

Thân chủ : “ Tôi biết tôi phải dùng bao cao-su với bạn tình, nhưng đôi khi tôi không làm và không biết tại sao thế, nó làm tôi băn khoăn.”
Nhà tham vấn : “ Vâng, tôi hiểu điều đó. Đôi khi bạn có sử dụng bao cao-su là điều tốt – Không phải ai cũng làm được điều đó. Và khi bạn lo lắng về những lúc mà bạn không sử dụng là dấu hiệu tốt – đó có nghĩa là phản ứng của bản năng lo lắng về mình.”

IX. HƯỚNG DẪN DÀNH CHO NHÀ THAM VẤN : THAM VẤN TÌM HIỂU NGUY CƠ

Cá nhân hóa và thiết lập buổi tham vấn.

Chào thân chủ, tự giới thiệu về mình, và giúp cho thân chủ có chổ ngồi thoải mái và mô tả sơ qua những gì sẽ diễn ra trong buổi tham vấn.

Điều quan trọng : lắng nghe chăm chú và chân thật.

Làm sáng tỏ các vấn đề của riêng tư và có tính chất nặc danh.

Giải thích ý nghĩa của xét nghiệm riêng tư và nặc danh.

Hỏi thân chủ về nguy cơ.

Hỏi thân chủ về sự tìm hiểu nguy cơ của chính họ.

Ví dụ :
Nặc danh : “ Điều gì thúc đẫy bạn đi xét nghiệm ?”
Riêng tư : “ Từ trước đến nay, bạn có nghĩ đến việc đi xét nghiệm HIV hay không ?”

Chăm chỉ lắng nghe. Hỏi thêm thông tin nếu cần thiết.

Giúp thân chủ ý thức về những nguy cơ tình dục hiện thời, nguy cơ khi dùng chung ống tiêm chích, về sử dụng rượu và ma túy. Giúp thân chủ hiểu các nguy cơ khi thích hợp.

Điều quan trọng : Thường dùng các câu hỏi mở. Giử giọng nói chân thành, thể hiện sụ quan tâm mà không tỏ ra thâm nhập mạnh.

Ví dụ :
Thân chủ có hành vi nguy cơ : “ HIV có thể lây lan từ người nay qua người khác thông qua quan hệ tình dục không an toàn – âm đạo, miệng hoặc hậu môn không có bao cao-su hoặc dùng chung ống tiêm chích ma túy. Khi biết điều này thì bạn có quan tâm gì về các hành vi tình dục hiện nay cũng như trong thời gian qua?”
Các vấn đề liên quan đến HIV/ nguy cơ : “ Nếu bạn đến đây để trị liệu về bệnh lây lan qua đường tình dục, hình như bạn không sử dụng bao cao-su khi bạn quan hệ tình dục. Bạn có biết hay không cách bạn bị bệnh hoa liễu giống như cách bạn bị nhiểm HIV, bệnh lây lan qua đường tình dục không thể trị liệu được ?”

Rượu hoặc sử dụng ma túy : “ Chúng ta đã biết là dùng rượu hoặc ma túy thường liên quan đến các hành vi không an toàn. Khi người ta nổi hứng thì khó mà áp dụng tình dục an toàn hoặc sử dụng ống tiêm chích theo hướng dẫn. Bạn có thể giúp tôi nói về cách sử dụng của bạn, đặc biệt lúc bạn uống rược cũng như lúc quan hệ tình dục ?”
“ Từ khi bạn chích ma túy, tôi mong muốn được biết thêm việc sử dụng ống tiêm của bạn. Bạn có thể cho tôi biết các bước nào bạn áp dụng để bảo vệ bạn khỏi bị nhiểm HIV ? Có được ống tiêm chích sạch dễ dàng không và như vậy có tốt không ?”.

Giảm nguy cơ : “ Một chiến lược quan trọng cho việc phòng ngừa HIV là sử dụng bao cao –su trong quan hệ tình dục qua miệng, âm đạo và hậu môn. Ngoài ra, nhiều người không nghĩ rằng bao cao su thật sự tăng cường kinh nghiệm tình dục. Bạn có thể cho tôi biết kinh nghiệm nào của chính bạn về bao cao su ?”

Những mối quan tâm về sinh sản : “ HIV có thể lây lan từ một người phụ nữ mang thai qua bào thai. Bạn đang có thai không ? ( Bạn tình của bạn có mang thai không ?) hoặc bạn suy nghĩ gì khi mang thai ?”

Tìm hiểu các nhu cầu của thân chủ.

Dựa trên những gì bạn nghe được, bắt đầu có vài quyết định về các nhu cầu của thân chủ, trong thời gian ngắn cần thiết của buổi tham vấn.

Điều quan trọng : Vì mỗi thân chủ đều khác nhau, các nhu cầu của mỗi thân chủ cũng khác nhau nhiều.

Ví dụ :
Cung cấp thông tin
Giúp thân chủ thêm sức mạnh
Những ví dụ về các hoạt động phòng ngừa thực hiện bởi các nhóm đồng đẳng hoặc các mô hình vai trò.
Lòng tự trọng hoặc sự quyết đoán.
Tăng cường tích cực cho sự thay đổi thành công.
Đối đầu xây dựng.
Phát triển mạng lưới hỗ trợ xã hội rộng lớn.
Hướng dẫn cải thiện kiểm soát.

Tìm hiểu khả năng của thân chủ nói về bạn tình của mình và thương lượng về sự an toàn của họ.

Hỏi thân chủ có nói cho bạn tình của mình về sự lây lan HIV hay không.

Ví dụ :
“ Bạn tình của bạn có biết ngày hôm nay bạn đang ở đây không?”
“ Bạn tình của bạn đã đi xét nghiệm chưa ?”
“ Bạn có thể nói với bạn tình của bạn về mối quan tâm của bạn về HIV hay không?”
Tìm hiểu xem có mối quan tâm về bạo lực gia đình.

Ví dụ :
“ Bạn có quan hệ với một người đe dọa bạn hoặc làm hại bạn về mặt thể chất dưới mọi hình thức không ?’
“ Bạn tình của bạn có làm tổn thương bạn hoặc con của bạn dưới mọi hình thức nào hay không ?”

Tham vấn bạn tình và quản lý các dịch vụ. Cho thân chủ biết là mọi người đã xét nghiệm với kết quả dương tính sẽ được khuyến khích cho bạn tình biết và sự hỗ trợ này là cần thiết.

Thông tin cho thân chủ là bất cứ ai đã xét nghiệm dương tính sẽ được khuyến khích khai báo cho những bạn tình đã có quan hệ tình dục với mình hoặc người đã dùng chung ống tiêm chích để được biết.

Trong lúc thân chủ chờ kết quả, khuyến khích thân chủ suy nghĩ về người mà họ phải thông tin và theo cách nào. Báo cho họ biết là cơ sở y tế địa phương có thể giúp họ khai báo cho bạn tình.

Tìm hiểu các mối quan tâm của thân chủ và những cản trở làm hạn chế tham vấn phù hợp và giới thiệu về bạn tình có nguy cơ.

Thu thập thêm thông tin.

Bổ sung những câu hỏi, nếu cần thiết.
Lên kế hoạch cho buổi tham vấn. Chọn một hoặc hai lãnh vực trọng tâm.

Hãy nghĩ về những thứ cần thiết và đặt ưu tiên. Chọn một hoặc hai lãnh vực trọng tâm. Bao gồm cả việc giới thiệu như là thành phần của kế hoạch này. Cần cho thân chủ biết nếu bạn vội và không thể đi sâu vào chi tiết được như mong muốn. Nếu thân chủ là người phải xét nghiệm lại, thử lên kế hoạch cho buổi tham vấn khác với cái đã dự trù.

Điều quan trọng : Biết quản lý thời gian.

Thu thập thêm thông tin nếu cần thiết.

Nếu bạn cảm thấy khó xác định ưu tiên, hãy hỏi thêm và thu thập thông tin đầy đủ.

Thực hiện sự can thiệp của mình. Chọn một hoặc hai lãnh vực trọng tâm.

Thực hiện can thiệp giới hạn, đặc biệt nhắm đến các nhu cầu cá nhân của thân chủ. Chọn một hoặc hai lãnh vực trọng tâm. Sử dụng tài liệu viết như tạp chí và sổ tay để tăng cường nội dung của buổi tham vấn.

Tóm lược và thỏa thuận các chiến lược giảm nguy cơ.

Xem xét lại các chiến lược giảm nguy cơ riêng biệt. Thiết lập thỏa thuận kế hoạch giảm nguy cơ nếu có thể được.

Xác nhận thỏa thuận đã được am hiểu tường tận.

Các chiến lược khắc phục khó khăn.

Hỏi thân chủ về thời gian chờ đợi kết quả sẽ như thế nào.

Ví dụ :
“ Bạn suy nghĩ gì về thời gian chờ đợi kết quả sẽ như thế nào cho bạn ?”
“ Bạn xử lý những hoàn cảnh căng thẳng như thế nào trong quá khứ ?”
“Loại hình mạng lưới hỗ trợ xã hội nào mà bạn đang thụ hưởng ? Có ai mà bạn cảm thấy có thể tâm sự một cách riêng tư và được hỗ trợ không ?”

Đưa ra những lý do khuyến khích thân chủ quay lại vì cần có kết quả.

Nhận thức rằng đôi khi người ta do dự quay trở lại vì kết quả xét nghiệm. Nhấn mạnh lợi ích khi nhận kết quả.

Ví dụ :
Biết được ai bị nhiễm HIV dương tính giúp có những can thiệp ban đầu.
Tăng cường dấn thân vào thực hành những hành vi an toàn.
Biết về việc tăng quyền lực
Theo dõi hướng của những người trách nhiệm khác trong cộng đồng
Làm giảm mối lo âu của “người không biết”, thường bị căng thẳng hơn người biết.
Tạo cơ hội cung cấp thông tin quan trọng cho các bạn tình trong quá khứ, hiện nay hoặc tương lai hoặc người sử dụng chung ống tiêm chích.

Giới thiệu thân chủ đến những nơi cần thiết trong mạng lưới liên kết.

Cung cấp những giới thiệu riêng biệt, phù hợp với sự liên kết đầy đủ. Chọn giới thiệu phải dựa trên những khảo sát của bạn, nên nhớ nhận diện các nhu cầu của thân chủ và mối quan tâm về những tương đồng hoặc khác biệt về văn hóa giữa thân chủ và nơi được giới thiệu.

X. HIV VÀ BỆNH LÂY LAN QUA ĐƯỜNG TÌNH DỤC : 4 ĐIỀU VÀ 4 NGUYÊN TẮC.

Có 4 điều cần ghi nhớ :

1. HIV là một bệnh lây lan qua đường tình dục.

2. Cùng những hành vi đưa đẩy một người đến nguy cơ lây lan bệnh qua đường tình dục cũng đưa họ đến nguy cơ nhiễm HIV. Tuy nhiên, một người được chẩn đoán có bệnh lây lan qua đường tình dục tất nhiên có nguy cơ nhiễm HIV, và một người được chẩn đoán bị nhiễm HIV thì tất nhiên có nguy cơ bị lây lan bệnh qua đường tình dục.
3. Việc bị nhiễm một bệnh lây lan qua đường tình dục có thể làm cho cơ thể dễ bị nhiễm HIV hơn. Nếu bị nhiễm thêm một bệnh lây lan qua đường tình dục khác nữa thì HIV sẽ tăng sự lây lan hơn.

4. Khi một người bị nhiễm HIV lại bị nhiễm một bệnh lây lan qua đường tình dục khác, bệnh này sẽ phát triển trầm trọng hơn và trị liệu sẽ khó khăn hơn.

Những điều này cũng đưa đến 4 nguyên tắc quan trọng cho tham vấn HIV :

1. Vì nhiều người tìm đến xét nghiệm HIV cũng cơ bản là có nguy cơ bị nhiễm bệnh lây lan qua đường tình dục khác, giới thiệu họ đến các bệnh viện chuyên về các bệnh lây lan qua đường tình dục là cần thiết trong tham vấn HIV.

2. Vì nhiều người đến được trị liệu về bệnh lây lan qua đường tình dục cũng là cơ bản có nguy cơ nhiễm HIV, giới thiệu đến chương trình xét nghiệm HIV là cần thiết cho các bệnh nhân này.

3. Vì khi bị nhiễm bệnh lây lan qua đường tình dục có thể làm người đó dễ bị nhiễm HIV hơn nên phòng ngừa bệnh lây lan qua đường tình dục là một chiến lược quan trọng trong mọi cố gắng phòng ngừa HIV.

4. Vì khi bị nhiễm bệnh lây lan qua đường tình dục có thể làm tổn hại nặng đến sức khỏe cho người bị nhiễm HIV, người có kết quả dương tính sau khi xét nghiệm HIV phải được chẩn đoán về các bệnh lây lan qua đường tình dục như là một phần trong tiến trình công tác y tế.

XI. MÔ HÌNH AWARE : TRUYỀN THÔNG XUYÊN VĂN HÓA

ACCEPT : Chấp nhận hành vi của người khác mà không phê phán, căn cứ trên hành vi đó có ý nghĩa gì trong nền văn hóa của bạn.
Tính khách quan của nhà tham vấn.

WONDER : Tự hỏi hành vi của người khác có ý nghĩa gì trong nền văn hóa của họ, hơn là có ý nghĩa gì trong nền văn hóa của bạn.
Mối quan tâm chân thành hoặc tò mò.

ASK : Hỏi người khác giải thích, chứng tỏ thái độ tôn trọng.
Tham vấn HIV như là mối quan hệ đối tác giữa nhà tham vấn và thân chủ; thân chủ là chuyên gia về các vấn đề, động lực và cảm nhận của họ.

RESEARCH : Nghiên cứu và đọc về nền văn hóa của người khác để bạn có thể đặt định hành vi của họ trong bối cảnh của thế giới nhãn quan văn hóa của họ.
Đối với các nhà tham vấn giỏi, học là một tiến trình liên tục. Chúng ta không bao giờ học “xong”.

EXPLAIN : Giải thích hành vi của họ có ý nghĩa gì trong văn hóa của bạn. Chứng minh hoặc mô tả các hành vi trong văn hóa của bạn có thể hiện cùng cảm nhận hay cùng ý nghĩa không.

Văn hóa của nhà tham vấn HIV đánh giá nhận thức về các nguy cơ HIV và sự dấn thân để giảm các nguy cơ. Trong tham vấn HIV, cải thiện khái niệm bản thân của thân chủ về nguy cơ; thương lượng một kế hoạch giảm nguy cơ khả thi; giúp thân chủ thực hiện các bước phù hợp để bảo vệ sức khỏe của mình.

XII. GIÚP THÂN CHỦ NÓI VỀ NGƯỜI BẠN TÌNH.

1. Tìm hiểu hành vi nguy cơ của thân chủ
2. Tìm hiểu mối quan tâm của thân chủ về nguy cơ.
3. Tìm hiểu sự sẵn sàng của thân chủ và /hoặc khả năng nói với người bạn tình, tỏ sự chú ý riêng biệt về các giá trị hay cảm nhận về tình dục và mối quan hệ và các vấn đề của sự tồn tại về kinh tế hay an toàn cá mhân.

• Tìm hiểu thân chủ muốn nói gì khi họ nói “tin ở người bạn tình”, hoặc “ Tôi quan hệ một vợ một chồng”.
• Lắng nghe những ý kiến cho rằng, ví như “ Co ta/anh ta không bao giờ làm thế đâu.”
• Đừng ngại hỏi thân chủ họ đã thỏa thuận những gì.
• Hỏi họ có bao giờ thảo luận với người bạn tình về “ cái gì, nếu “.
• Ghi nhận những mối quan tâm mà họ có được khi thảo luận những vấn đề này.
• Lắng nghe và ghi nhận những vấn đề về an toàn cá nhân hay sự sống còn của họ.
• Đưa ra những chọn lựa.
• Giúp phát triển các kỹ năng, ví dụ như sắm vai.
• Hỏi thân chủ nghĩ gì khi người bạn tình đề cập đến đề tài này.
• Hỏi thân chủ là người bạn tình có nói về vấn đề này như thế nào ? Những từ mà họ đã sử dụng ?
• Hỏi thân chủ “ Bây giờ bạn cảm thấy như thế nào, nói với tôi về cuộc nói chuyện của bạn với người bạn tình ? ( Đây có thể là một chỉ báo tốt của ý muốn của thân chủ, sự xoay xở và dấn thân của thân chủ.)
• Nếu thích hợp, nêu những mâu thuẩn : “ Bạn nói bạn yêu người bạn tình của bạn ( và ngược lại ). Bạn có thể cho tôi biết cái gì trong mối quan hệ mà bạn chưa nói về hậu quả đe dọa cuộc sống của HIV ?”
• Nêu ra những thành công trong quá khứ : “ Bạn nói bạn duy trì mối quan hệ này lâu dài. Bạn đã đạt thành công gì trong quá khứ ? ( ví dụ như ăn chậm thức ăn có dầu mỡ, cai thuốc lá… )
• Nên nhớ là hành vi thay đổi nho nhỏ, từng bước một.

XIII. HƯỚNG DẪN THAM VẤN THÂN CHỦ BỊ BẠO LỰC.
Tất cả các thân chủ đến với tham vấn phòng ngừa phải được xem xét về nguy cơ bị bạo lực gia đình và bị cưỡng hiếp

Đề tìm hiểu, nên hỏi :

Bạn có quan hệ với một người gây tổn thương cho bạn về mặt thể xác không ?”
Bạn tình của bạn có đánh bạn hay lạm dụng bạn không ?
Trong năm vừa qua, có ai thúc ép bạn vào các hoạt động tình dục không?
Trong năm vừa qua, bạn có bị ai đánh đập không ?
Nếu thân chủ mang thai, hoặc đang không có người bạn tình, bạn hỏi : “ Từ khi bạn mang thai, bạn có bị ai đánh đập không ?”

Kế đó, nếu thân chủ nói “có” :

Bạn có thể cho tôi biết điều gì xảy ra với bạn ? ( nếu thân chủ nói “ không”, họ cảm thấy chưa sẳn sàng, hoặc chưa cảm thấy an toàn ).
Khi nơi chốn nguy cơ lạm dụng đã được xác định, thân chủ phải cung cấp thông tin tham khảo và nhà tham vấn phải tìm hiểu về sự lạm dụng đó. Nếu cuộc sống của thân chủ có thể bị nguy hiểm, nên hỏi họ về một kế hoạch cho sự an toàn ( đặc biệt nếu xét nghiệm HIV dương tính ) :
Về nhà có an toàn không ?
Các con/ người phụ thuộc khác có an tòan không ?
Có cần một nơi an toàn không ? Có thể ở nhờ ở người bạn hay người thân không ?
Có cần gấp tham vấn khủng hoảng không ? ( tìm hiểu khả năng có thể gây chết người ). Giới thiệu đến đường dây nóng về bạo lực và tổ chức xã hội có thể cung cấp tham vấn về bạo lực .

TÌM HIỂU MỐI NGUY HIỂM CÓ THỂ GÂY CHẾT NGƯỜI.

Người bạn tình của bạn có đe dọa giết bạn, con bạn, người thân của bạn hoặc chính họ ?
Có vũ khí ở nhà không ?
Người bạn tình của bạn có nghiện rượu hay sử dụng ma túy không ?
Người bạn tình của bạn co gây bạo lực ở bên ngoài gia đình không ?
Người bạn tình của bạn có gây bạo lực với vật nuôi trong nhà không ?
Mức độ bạo lực có gia tăng so với năm trước không ?

NHỮNG CÂU HỎI DÀNH CHO KẺ BẠO LỰC

Bạn có cảm thấy là bạn tức giận vì phiền muộn không ?
Bạn có bao giờ làm gì không khi bạn tức giận mà sau đó bạn hối tiếc ?
Bạn có bao giờ ân hận về cơn giận của bạn không ?
Bạn có bao giờ nghĩ là bạn làm gì đó về cơn giận của bạn không ?

MÔ HÌNH TRỌNG TÂM ( CORE ) VỀ THƯƠNG LƯỢNG TÌNH DỤC AN TOÀN
CLARIFY INTENTIONS – LÀM RÕ Ý ĐỊNH

Làm rõ cả ý định của chính bạn và ý định của người bạn tình của bạn.
Biết cái gì bạn muốn.
Đừng nghĩ rằng người bạn tình của bạn muốn điều như bạn làm.
Hãy cụ thể. Chung chung có thể đưa đến hiểu lầm.

Ví dụ : “ Tình dục an toàn “ là chung chung, nó có nghĩa khác ở những người khác nhau. “ Tôi muốn bạn sử dụng bao cao su khi chúng ta quan hệ tình dục” là rất cụ thể, có ý nghĩa giống nhau cho mọi người.
Hãy đặt vấn đề trước. Làm như thế, bạn quan tâm đến chính bạn hơn là phó mặc bạn vào nguy hiểm.
Sử dụng “ Tôi “. “ Tôi muốn đi xem xi-nê”; “Cái gì tôi làm hôm nay là …”
Tập nói về cái gì bạn muốn mọi ngày, với những người khác nhau, không chỉ với một người bạn tình của bạn khi quan hệ tình dục.
Tập sử dụng “ Tôi” và lời nói khác trước tấm gương.

OPTIONS – CHỌN LỰA

Tìm hiểu mọi thứ về người bạn tình của bạn. Lấy thông tin. Đừng vội kết luận.
Tìm hiểu nhiều chọn lựa. Có rất nhiều hoạt động an toàn để lựa chọn. Đừng thu hẹp thương lượng chỉ rồi đi đến hoạt động tình dục.
Nói về những hoạt động mà bạn muốn thực hiện, những hoạt động mà bạn quyết tâm thực hiện, và những hoạt động mà bạn không muốn làm.

REACH FOR AGREEMENT – ĐI ĐẾN SỰ THỎA THUẬN

Bắt đầu thương lượng. Bắt đầu với những phần dễ hơn. Bạn có sẵn sàng theo đuổi vài chọn lựa quan trọng đối với người bạn tình của bạn, nhưng lại không quan trọng đối với bạn ? Người bạn tình của bạn có sẵn sàng theo đuổi vài chọn lựa quan trọng đối với bạn, nhưng lại không quan trọng đối với người bạn tình của bạn.

Ví dụ, Hương muốn đi xem phim, và Tân nói cái đó chán lắm. Tân muốn Hương xem phim sex và Hương thì ngại xem loại phim này. Nếu Tân và Hương sẵn sàng làm cái người khác muốn trong những trường hợp cá biệt đó, họ đi vào thực hành kỹ năng có ích cho việc thương lượng các vấn đề thử thách hơn – như sử dụng bao cao su mỗi lần quan hệ tình dục.
Hãy thỏa thuận, hoặc thỏa thuận cái không thỏa thuận.

ENJOY OR EXIT – VUI THÍCH HAY THÔI ĐI

Nếu thỏa thuận đạt được thì cứ VUI THÍCH.
Nếu thỏa thuận không đạt được, đó là thời gian tốt để bỏ đi. Nói “ không” với quan hệ tình dục và thử thương lượng lại sau này.

XIV. HƯỚNG DẪN CHO NHÀ THAM VẤN: BUỔI CÔNG KHAI KẾT QUẢ XÉT NGHIỆM ÂM TÍNH ( phòng ngừa ban đầu )

HỘI NHẬP KẾT QUẢ XÉT NGHIỆM

Mục tiêu chính của buổi tham vấn này là giúp thân chủ hội nhập kết quả xét nghiệm âm tính này một cách có ý nghĩa và lợi ích. Thân chủ sẽ chuẩn bị tốt hơn để tự bảo vệ mình không bị nhiểm HIV trong tương lai. Nhà tham vấn sẽ sử dụng một số kỹ thuật và kỹ năng từ đầu đến cuối buổi tham vấn.

Điều quan trọng : Hãy lắng nghe và chân thành; dấn thân vào việc tìm hiểu cảm nhận của thân chủ và khả năng hòa nhập thông tin. Vài thân chủ sẽ cảm thấy bớt căng thẳng, có người lo lắng. Đừng cho rằng bạn biết rõ họ sẽ phản ứng như thế nào.
Nhớ rằng, mỗi thân chủ sẽ khác nhau, và bạn sẽ có khả năng hoàn thành những công việc khác nhau với những thân chủ khác nhau.

1.CHUẨN BỊ KẾ HOẠCH

Lên kế hoạch cho buổi tham vấn trước khi bắt đầu. Giử kế hoạch linh hoạt, tùy theo sự bộc lộ nhu cầu và mối quan tâm của thân chủ.

2. CÁ NHÂN HÓA BUỔI THAM VẤN

Chào thân chủ, tự giới thiệu về mình và mời thân chủ ngồi ở một nơi thoải mái. Điều quan trọng là lắng nghe và chân thành.

3.PHỔ BIẾN KẾT QUẢ.

Hỏi thân chủ xem có câu hỏi gì không.

Ví dụ : “ Bạn có hỏi gì không trước khi chúng ta bắt đầu ?”
Thông thường, thân chủ tỏ ra lo lắng, ít chủ động. Bạn tiến hành vào đề, nhưng không đột ngột.
Cho biết kết quả trực tiếp, giọng đều.
Ví như : “ Kết quả xét nghiệm của bạn là âm tính.”
Chờ sự phản ứng của thân chủ trước khi bắt đầu.
Bạn có thể cần chờ từ 15 đến 30 giây trước khi nói. Đừng vội. Cứ để thân chủ phản ứng trước kết quả theo cách của họ.

4. TÌM HIỂU TÂM TRẠNG CẢM XÚC CỦA THÂN CHỦ VÀ NHU CẦU THAM VẤN.

Dựa trên phản ứng của thân chủ sau khi nghe kết quả xét nghiệm, bạn quyết định về nhu cầu của thân chủ. Nên nhớ thời gian có giới hạn, giúp thân chủ hòa nhập kết quả xét nghiệm vào 4 lãnh vực chính yếu : thông tin và suy nghĩ; cảm nhận, hành vi và các vấn đề quan hệ con người với nhau.

1. TÌM HIỂU THÔNG TIN VÀ SUY NGHĨ

Tìm hiểu sự hiểu biết của thân chủ về kết quả xét nghiệm, và làm rõ những khái niệm sai nếu cần thiết.
Mô tả ý nghĩa của kết quả xét nghiệm.
Tìm hiểu nhu cầu tái xét nghiệm dựa trên giai đoạn cửa sổ và nguy cơ hiện thời.
Cung cấp thông tin khác.

Ví dụ : “Kết quả xét nghiệm có ý nghĩa gì đối với bạn ?”
“ Ý nghĩa của kết quả này tùy thuộc một phần vào việc gần đây bạn có nguy cơ nhiểm HIV. Bạn có thể cho tôi biết khi bạn có khả năng nhiểm HIV vừa qua bạn không được bảo vệ khi quan hệ tình dục qua miệng, hay âm đạo, hay hậu môn hoặc dùng chung ống tiêm chích ?”.

2. TÌM HIỂU CẢM NHẬN.

Tìm hiểu và nhận biết các cảm nhận của thân chủ phản ứng trước kết quả âm tính.
Cung cấp sự hỗ trợ.
Tìm hiểu sự cam kết để giử âm tính.
Đối với thân chủ tỏ ra lo lắng về kết quả âm tính, tìm hiểu điều mà thân chủ nghĩ là sai quấy và các vấn đề khác.

Ví dụ : “Bạn nghĩ điều gì sẽ tác động đến tương lai của bạn ?”
Hoặc
“ Bạn tự nhận thấy cần có những bước nào trong tương lai để bảo vệ chính bạn khỏi nguy cơ HIV ?”

3. TÌM HIỂU HÀNH VI

Tìm hiểu sự hiểu biết của và sự cam kết của thân chủ để hướng dẫn giảm nguy cơ.
Đánh giá các quy tắc của nhóm đồng đẳng.
Cung cấp sự tăng cường tích cực để có sự thay đổi.
Cung cấp các kỹ năng để tăng cường cải thiện sự kiểm soát.
Xây dựng các kỹ năng thương lượng.
Đối đầu xây dựng.

Ví dụ : “ Kết quả này có ảnh hưởng gì đến hành vi tình dục của bạn ?”

4. TÌM HIỂU CÁC VẤN ĐỀ TRONG QUAN HỆ

Tìm hiểu mạng lưới hỗ trợ xã hội của thân chủ, kế hoạch công khai kết quả và tác động của việc công khai này.
Nhận diện và tăng cường mạng lưới hỡ trợ xã hội.
Tìm hiểu các vấn đề của việc công khai : nói với ai, khi nào, như thế nào.
Xây dựng kế hoạch để tăng tối đa sự hỗ trợ và giảm tối thiểu các hậu quả tiêu cực của việc công khai.

Ví dụ : “ Bạn có nghĩ là ai sẽ thảo luận kết quả với bạn ? Kết quả xét nghiệm sẽ có ảnh hưởng gì trên mối quan hệ đó ?”.

5. ĐÁNH GIÁ CÁ NHÂN THEO NGUY CƠ CAO HAY THẤP

NGUY CƠ CAO :

Nếu có nguy cơ, đánh giá các chiến lược để có sự hỗ trợ theo chiều sâu hơn.
Tham vấn hoặc các dịch vụ hỗ trợ nhóm đặc biệt.
Giải thích những giới hạn của buổi tham vấn, thể hiện sự quan tâm chân thành.

Ví dụ : “ Có một số lý do phức tạp mà người ta tự lao vào nguy cơ HIV, và tôi biết chúng ta không có thời gian trong buổi này để làm trọn vẹn cho bạn. Nhưng tôi rất quan tâm về các hành vi mà bạn mô tả, và tôi muốn bạn biết sự cần thiết phải tham gia chương trình nhóm hỗ trợ này. Bạn cần quan tâm nhiều hơn vì một nhóm hỗ trợ có thể tạo sự quan tâm này.”

NGUY CƠ THẤP HOẶC KHÔNG CÓ NGUY CƠ :

Xem xét lại các yếu tố nguy cơ và nhấn mạnh nhu cầu đi xét nghiệm nếu có sự cố nguy cơ.

6. THÔNG HOẠT TĂNG NĂNG LỰC CHO THÂN CHỦ.

Tăng năng lực thân chủ để theo đuổi kế hoạch ngắn và dài hạn.
Khuyến khích thân chủ tham gia tích cực trong kế hoạch phòng ngừa.
Xây dựng kỹ năng trong việc lấy quyết định.

Ví dụ : “ Hãy nói về những quyết định mà bạn cần có bây giờ khi bạn đã có kết quả xét nghiệm HIV âm tính.”

7. GIỚI THIỆU THÂN CHỦ

Giới thiệu thân chủ đến nơi cần thiết trong mạng lưới liên kết.

XV. HƯỚNG DẪN NHÀ THAM VẤN : BUỔI CÔNG KHAI KẾT QUẢ DƯƠNG TÍNH.

HỘI NHẬP KẾT QUẢ XÉT NGHIỆM.

Mục đích của buổi này là giúp thân chủ hội nhập với kết quả xét nghiệm theo một cách có ý nghĩa và có lợi ích. Một thân chủ có thể có những bước thích hợp để tìm kiếm sự hỗ trợ xã hội và sự chăm sóc y tế, và chuẩn bị tốt hơn cho việc phòng tránh lây lan HIV cho người khác. Nhà tham vấn sẽ sử dụng các kỹ thuật và kỹ năng khác nhau từ đầu đến cuối buổi.
Điều quan trọng : Phải lắng nghe và chân thành; sử dụng các kỹ thuật để xây dựng niềm hy vọng, kỹ năng tự biện hộ và tăng năng lực; công nhận và bình thường hóa các cảm nhận và kinh nghiệm của thân chủ; luôn tìm hiểu các cảm nhận của thân chủ và khả năng hội nhập thông tin.

Nên nhớ là mỗi thân chủ sẽ khác nhau và bạn sẽ có thể hoàn thành những d0iều khác nhau với những thân chủ khác nhau.

1.CHUẨN BỊ KẾ HOẠCH

Lên kế hoạch cho buổi tham vấn trước khi bắt đầu. Giử kế hoạch linh hoạt, tùy theo sự bộc lộ nhu cầu và mối quan tâm của thân chủ.

2. CÁ NHÂN HÓA BUỔI THAM VẤN

Chào thân chủ, tự giới thiệu về mình và mời thân chủ ngồi ở một nơi thoải mái. Điều quan trọng là lắng nghe và chân thành.

3.PHỔ BIẾN KẾT QUẢ.

Hỏi thân chủ xem có câu hỏi gì không.

Ví dụ : “ Bạn có hỏi gì không trước khi chúng ta bắt đầu ?”
Thông thường, thân chủ tỏ ra lo lắng, ít chủ động. Bạn tiến hành vào đề, nhưng không đột ngột.
Cho biết kết quả trực tiếp, giọng đều.

Ví như : “ Kết quả xét nghiệm của bạn là dương tính.”
Chờ sự phản ứng của thân chủ trước khi bắt đầu.
Bạn có thể cần chờ từ 15 đến 30 giây trước khi nói. Đừng vội. Cú để thân chủ phản ứng trước kết quả theo cách của họ.

4. TÌM HIỂU TÂM TRẠNG CẢM XÚC CỦA THÂN CHỦ VÀ NHU CẦU THAM VẤN.

Dựa trên phản ứng của thân chủ sau khi nghe kết quả xét nghiệm, bạn quyết định về nhu cầu của thân chủ. Nên nhớ thời gian có giới hạn, giúp thân chủ hòa nhập kết quả xét nghiệm vào 4 lãnh vực chính yếu : thông tin và suy nghĩ; cảm nhận, hành vi và các vấn đề quan hệ con người với nhau.

5. TÌM HIỂU THÔNG TIN VÀ SUY NGHĨ

Tìm hiểu sự hiểu biết của thân chủ về kết quả xét nghiệm, và làm rõ những khái niệm sai nếu cần thiết.
Mô tả ý nghĩa của kết quả xét nghiệm về mặt y tế.
Cung cấp thông tin khác.

Ví dụ : “ Kết quả xét nghiệm này có ý nghĩa gì đối với bạn ?”

6. TÌM HIỂU CẢM NHẬN.

Tìm hiểu và nhận biết các cảm nhận của thân chủ phản ứng trước kết quả dương tính.
Cung cấp sự hỗ trợ.
Xây dựng lòng tự trọng và tính khẳng định.
Giúp khắc phục lo âu hay thất vọng.
Bình thường hóa các cảm nhận.

Ví dụ : “Bạn nghĩ điều gì sẽ tác động đến cuộc sống của bạn ?”
“ Hình như là kinh khủng, phải không ?”.
“ Nhiều người tiếp xúc với tôi cũng thể hiện cảm nhận như vậy khi họ biết mình bị nhiễm HIV.”
“ Tôi có thể cảm nhận giây phút này thật khó cho bạn. Bạn có thể nghĩ đến điều gì mà bạn có thể làm để tự chăm sóc cho mình ngay bây giờ không ? – sau buổi này, sau khi bạn đi, sau ngày hôm nay ?”

7.TÌM HIỂU HÀNH VI

Tìm hiểu sự hiểu biết của và sự cam kết của thân chủ để hướng dẫn giảm nguy cơ.
Đánh giá các quy tắc của nhóm đồng đẳng.
Cung cấp sự tăng cường tích cực để có sự thay đổi.
Cung cấp các kỹ năng để tăng cường cải thiện sự kiểm soát.
Xây dựng các kỹ năng thương lượng.
Đối đầu xây dựng.

Ví dụ : “ Kết quả này có ảnh hưởng gì đến hành vi tình dục của bạn ?”

8.TÌM HIỂU CÁC VẤN ĐỀ TRONG QUAN HỆ

Tìm hiểu mạng lưới hỗ trợ xã hội của thân chủ, kế hoạch công khai kết quả và tác động của việc công khai này.
Nhận diện và tăng cường mạng lưới hỡ trợ xã hội.
Tìm hiểu các vấn đề của việc công khai : nói với ai, khi nào, như thế nào.
Đánh giá mối quan tâm của thân chủ.
Xây dựng kế hoạch để tăng tối đa sự hỗ trợ và giảm tối thiểu các hậu quả tiêu cực của việc công khai.

Ví dụ : “ Bạn có nghĩ là ai sẽ thảo luận kết quả với bạn ?
“ Điều quan trọng là người bạn tình của bạn hiểu các nguy cơ HIV. Bạn có nghĩ là sẽ báo kết quả cho họ biết không ?”
“ Bạn có thảo luận với người bạn tình về vấn đề nếu kết quả xét nghiệm dương tính ? Bạn nghĩ họ sẽ phản ứng như thế nào ?”

9. THẢO LUẬN NHU CẦU THEO DÕI VỀ MẶT Y TẾ

Giải thích tầm quan trọng của sự theo dõi y tế, kể cả khi người ta cảm thấy hoàn toàn khỏe mạnh hay khi bị suy xụp vì biết mình bị nhiễm HIV.
Mô tả những lợi ích khi đến gặp nhân viên y tế.
Mô tả các tiêu chuẩn can thiệp cho người bị nhiễm HIV.
Mô tả ngắn gọn và cung cấp các tài liệu viết để thân chủ tham khảo.

10.THÔNG HOẠT TĂNG NĂNG LỰC CHO THÂN CHỦ.

Tăng năng lực thân chủ để theo đuổi kế hoạch ngắn và dài hạn.
Khuyến khích thân chủ tham gia tích cực trong kế hoạch phòng ngừa.
Xây dựng kỹ năng trong việc lấy quyết định.

Ví dụ : “ Bạn sẽ làm gì sau buổi này ? Bạn sẽ làm gì tối nay ? Bạn sẽ nói với ai về buổi này ?”
Hoặc
“ Bạn dự trù gặp ai để được chăm sóc về mặt y tế ? Bạn mong đợi gì ở lần gặp đầu tiên ?”
hoặc
“ Tôi biết nghe tin xấu là rất nặng nề và bạn suy xụp vì nó. Tôi muốn bạn biết là có nhiều lý do để hy vọng.”
Hoặc
“ Xin hãy cho tôi biết những quyết định mà bạn sẽ cần có khi bạn biết bạn bị nhiễm HIV ?”

11. GIỚI THIỆU THÂN CHỦ

Giới thiệu thân chủ đến nơi cần thiết trong mạng lưới liên kết.

XVI. TÓM LƯỢC TÌM HIỂU NHANH NGUY CƠ ĐỐI VỚI CÁC THÂN CHỦ KHÔNG CÓ NGUY CƠ VÀ NGUY CƠ THẤP

Thăm dò, thăm dò, thăm dò. Đặt những câu hỏi mở. Phải tò mò và thể hiện sự quan tâm. Có thân chủ do dự tiết lộ các hành vi nguy cơ và phải cần có thời gian. Đặt những câu hỏi theo cách khác nhau để đưa ra mọi thông tin.

Công nhận các cảm nhận, đặc biệt những sợ hãi và các mối quan tâm.

Lập lại sự hiểu biết của bạn về các hành vi nguy cơ của thân chủ và nắm chắc rằng sự hiểu biết của bạn là đúng.

Sửa lại mọi thông tin sai – sau đó thăm dò những sợ hãi và cảm nhận một lần nữa.

Giải thích những hướng dẫn cho người thực hành các loại hành vi nguy cơ mà họ đã mô tả cho bạn, việc xét nghiệm HIV lại là chỉ cần thiết nếu một người cảm thấy có điều gì đó có thể bị lây nhiểm HIV.

Hỏi thân chủ là họ suy nghĩ gì hay cảm nhận điều gì về những gì mà bạn đã nói với họ, chú ý riêng biệt các ý định của họ khi làm theo các hướng dẫn này. Nếu thân chủ cam đoan một lần nữa, cho họ ghi nhớ là “ cánh cửa lúc nào cũng mở”.

Nếu thân chủ không cảm thấy họ có thể hoặc muốn làm theo các hướng dẫn, tìm hiểu các lý do và làm rõ mọi thông tin sai. Tìm hiểu sợ hãi hay cảm nhận bằng các kỹ năng lắng nghe tích cực.

Nếu thân chủ tiếp tục hiểu sai hay sợ hãi, nhớ là vai trò của bạn bị giới hạn. Bạn biết là bạn không thể thay đổi vị trí của họ trong buổi này và giới thiệu họ đến nguồn tài nguyên khác để được giúp đỡ.

XVII. HƯỚNG DẪN THAM VẤN CHO CÁC THÂN CHỦ KHÔNG CÓ NGUY CƠ – NGUY CƠ THẤP

LÀM THẾ NÀO ĐỂ HIỂU MỘT NGƯỜI NÓI VỚI CHÚNG TA MỌI THỨ ?

Chúng ta không thể nào biết. Chúng ta chỉ có thể sử dụng các kỹ năng tham vấn lấy thân chủ làm trọng tâm để có thông tin tối đa có thể được. Chúng ta cũng có thể hy vọng là nếu thân chủ có kinh nghiệm xây dựng với chúng ta, họ nhận rõ các nguy cơ và có những bước để giảm thiểu sự tổn hại cho họ.

ĐIỀU GÌ VỀ TÌNH DỤC QUA MIỆNG ?

Tình dục qua miệng vẫn còn được xem là một nguy cơ, dù được mô tả là “ nguy cơ thấp nhất”. Một người thực hành tình dục qua miệng mà không được bảo vệ vẫn có nguy cơ lây nhiễm HIV. Xét nghiệm HIVchỉ có thể là cách bảo đảm là họ không bị lây nhiểm HIV. Điều này khác với việc một người không dính vào hoạt động nào cũng có thể bị lây nhiễm.

VẤN ĐỀ GÌ KHI THÂN CHỦ THẤY RẰNG XÉT NGHIỆM NHƯ LÀ ĐIỀU PHẢI LÀM ?

Xét nghiệm là quan trọng cho ai dính vào một hoạt động ở một thời điểm nào đó trong cuộc sống và có thể bị lây nhiễm HIV.Một lần khi xét nghiệm có kết quả âm tính, họ chỉ cần xét nghiệm lại nếu họ có hoạt động có thể làm cho họ bị lây nhiễm HIV sáu tháng trước khi xét nghiệm hoặc sau khi xét nghiệm.

XVIII. CÁC YẾU TỐ CỦA MỘT BUỔI KẾT THÚC THAM VẤN HIỆU QUẢ

1. TÓM TẮT NỘI DUNG

Lập lại nội dung tổng quát của buổi tham vấn : thân chủ đã ở đâu ? bây giờ đang ở đâu ?

Ví dụ : “ Trong năm vừa qua, bạn đã giảm tốt các hành vi nguy cơ nhiễm HIV. Bạn có vẻ rất muốn giảm nguy cơ đó hơn nữa bây giờ và trong tương lai.”

Xem lại thông tin mới chính yếu và cung cấp tài liệu viết để tham khảo.
( Thông tin mới là đối với thân chủ và giúp cho kế hoạch phòng ngừa của thân chủ. Đừng mất thời gian dành cho thông tin mà thân chủ đã quen thuộc )

2. XÁC ĐỊNH CÁC BƯỚC TIẾP THEO

Kế hoạch giảm nguy cơ
Ngắn hạn
Dài hạn
Các bước hành động và hành vi riêng biệt.
Ví dụ : “ Bạn hãy có những bước mà bạn tự nhận thấy để giảm hành vi nguy cơ nhiễm HIV của bạn trong các tuần lễ tới, và trong thời gian dài bao lâu – ví dụ một năm kể từ bây giờ.”

Các vấn đề hỗ trợ rộng hơn
Ví dụ :” Bạn cần sự hỗ trợ nào để bạn có thể theo suốt các kế hoạch này ?”

3. GIỚI THIỆU HIỆU QUẢ

Thân trọng trong chọn lựa và phù hợp
Giới hạn số lượng
Viết
Cho tên cá nhân và tham khảo khi cần thiết.

4. THĂM DÒ VÀ ĐÁP ỨNG CÁC CẢN TRỞ CÓ THỂ CÓ CHO VIỆC THỰC HIỆN

Tiến hành các bước tiếp theo
Tiến hành việc giới thiệu

5. KẾT THÚC BUỔI THAM VẤN, NHƯNG KHÔNG PHẢI ĐÓNG CỬA

Các vấn đề của mọi thân chủ sẽ không được giải quyết hết. Tuy nhiên, thân chủ rời khỏi với tâm trạng có những bước hành động riêng biệt và phù hợp cần có hiên nay, và những chọn lựa cần theo đuổi trong tương lai ( tại cơ quan của bạn hay ở các tài nguyên khác )

XIX. CÁC NHÀ THAM VẤN CẦN LƯU Ý

NÓI NHIỀU HƠN VỀ SỬ DỤNG BAO CAO SU

Điều nguy hiểm chung là định nghĩa can thiệp như là tham vấn một thân chủ về việc sử dụng bao cao su. Điều này chưa đầy đủ.

Nhận biết những phức tạp của động cơ con người và thay đổi hành vi. Phát triển kỹ năng giúp bạn nói với thân chủ về những vấn đề phức tạp. Sẵn sàng và có khả năng thảo luận về các lựa chọn giảm nguy cơ, bao gồm giảm sự tổn hại ( giảm nhưng không loại nguy cơ ).

ĐỪNG BAO GIỜ NGƯNG HỎI VỀ BẠN, “ TÔI CÓ CUNG CẤP THÔNG TIN MÀ THÂN CHỦ CẦN KHÔNG ?”

Cần xem lại bản ghi lại tiến trình tham vấn và đánh giá sự thành công của bạn với mọi thân chủ.

BIẾT NỘI DUNG VÀ CẤU TRÚC CỦA BẢN GHI LẠI CUỘC THAM VẤN

Biết nội dung của bản này và ý nghĩa của từng câu hỏi. Học đặt câu hỏi mà người khác chấp nhận và rõ ràng đối với bạn và đối với thân chủ, và theo phương cách duy trì tiến trình thân chủ là trọng tâm. Một cuộc đối thoại tự nhiên về các vấn đề nguy cơ phải được quan tâm trong tham vấn, hơn là “ khảo sát “ ( hỏi những câu hỏi riêng biệt để có thể ghi lại đầy đủ) hoặc thông tin đã được đưa ra.

CẦN CÓ SỰ PHẢN HỒI TỪ NHỮNG NGƯỜI HƯỚNG DẪN, ĐỒNG NGHIỆP CÓ KINH NGHIỆM HƠN

Nên thường xuyên có cơ hội đánh giá công việc đang làm và nói về những thân chủ mà mình đã gặp. Cần có tài nguyên để nhờ tới khi gặp khó khăn.

CẦN CÓ SỰ PHẢN HỒI TỪ CÁC THÂN CHỦ

Hỏi thân chủ là họ cảm thấy như thế nào về sự can thiệp của bạn. Các gợi ý có hợp lý không ? Thông tin có giúp ích gì không ? Cuộc tham vấn có giúp thân chủ suy nghĩ về việc giảm nguy cơ theo những cách mới và có lợi không ?

SỬ DỤNG TOÀN THỜI GIAN ĐƯỢC GIAO

Những buổi tham vấn ngắn ( ít thời gian hơn theo cơ quan phòng chống AIDS quy định là ít nhất phải 20 phút cho tham vấn về tìm hiểu nguy cơ và 20 đến 40 phút cho tham vấn công khai kết quả xét nghiệm ) có nghĩa là tham vấn không đầy đủ và không hiệu quả. Tình hình này phải được xem xét cẩn thận. Những nhà tham vấn có khó khăn “ suy nghĩ về những điều phải nói” trong thời gian được giao phó cần có sự phản hồi và sự hỗ trợ từ các người hướng dẫn, cố vấn hay đồng nghiệp.

KẾ HOẠCH HÀNH ĐỘNG

TRƯỚC KHI BẮT ĐẦU THAM VẤN

1.
2.
3.
4.
5.

CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH XÂY DỰNG KỸ NĂNG

1.
2.
3.
4.
5.