Hiển thị các bài đăng có nhãn Xoá đói giảm nghèo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Xoá đói giảm nghèo. Hiển thị tất cả bài đăng

7 tháng 12, 2008

Hội thảo quốc tế Việt Nam học: Hội nhập và khoảng cách giàu nghèo


Hội thảo quốc tế Việt Nam học: Hội nhập và khoảng cách giàu nghèo

TT (Hà Nội) - Trong ngày thứ hai của Hội thảo quốc tế VN học lần thứ ba (6-12), các nhà khoa học tiếp tục trình bày các tham luận và thảo luận tại 18 tiểu ban.

Ở nhiều góc độ khác nhau, các nhà khoa học đã đề cập những thách thức của VN trong quá trình hội nhập. Những chủ đề được thảo luận sôi nổi nhất là về sự thay đổi của xã hội VN dưới tác động của toàn cầu hóa và hội nhập, kinh tế thị trường, quá trình đô thị hóa và các vấn đề đô thị, giáo dục ĐH…

Nhiều nhà khoa học cùng đề cập một thực tế: ngoài những lợi ích và cơ hội phát triển có được từ toàn cầu hóa, hội nhập và mở cửa còn tạo ra những tác động đến bộ phận “thiệt thòi” trong xã hội là nông dân và những người nghèo đô thị. Theo PGS-TS Lê Xuân Đình (ban kinh tế, Tạp chí Cộng Sản), chênh lệch lớn về năng suất lao động giữa công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp là một trong những nguyên nhân chính đang khoét sâu thêm khoảng cách cả thu nhập lẫn mức chi tiêu giữa nông thôn và thành thị.

Trong khi tỉ lệ hộ nghèo trên toàn quốc giảm thì tại khu vực nông thôn, hộ nghèo vẫn còn chiếm tỉ trọng cao. PGS-TS Lê Xuân Đình phân tích: “Khó khăn lớn hiện nay là diện tích đất nông nghiệp đang mất vào các khu công nghiệp, khu đô thị và đường giao thông với tốc độ quá nhanh. Tư liệu sản xuất bị mất hoặc giảm đi trong lúc chưa chuẩn bị kịp các điều kiện để chuyển đổi nghề nghiệp, phần đông nông dân có tiền (từ đền bù thu hồi đất) cũng khó tìm phương án nào cho hiệu quả để sử dụng. Trong khi đó công nghiệp phát triển chưa đủ mạnh để thu hút một lượng lớn lao động nông thôn. Và dù có nhu cầu lao động thì trình độ đào tạo của lực lượng lao động này cũng chưa thể đáp ứng kịp”.

Ông Timothy Gorman (ĐH Khoa học xã hội & nhân văn Hà Nội) đặt vấn đề “nền kinh tế hằng ngày” và đề nghị “suy nghĩ lại về tính chất không chính thống ở VN”. Theo ông, các nhà hoạch định chính sách phải đặt đúng vị trí của thương nghiệp đường phố và hộ gia đình trong nền kinh tế hằng ngày. Nên coi không gian đô thị như một nguồn sản xuất cần thiết, cũng không được bỏ qua tầm quan trọng của các quy tắc đạo đức văn hóa trong thương nghiệp đường phố, từ đó có những chính sách cụ thể cho hàng rong vỉa hè, xe ba bánh, xích lô…, tránh tạo thêm những tiền đề để khoét sâu thêm khoảng cách giàu nghèo.

Tuy nghiên cứu độc lập, nhưng cùng quan điểm với ông Gorman còn có các báo cáo của KTS Nguyễn Hữu Thái, GS Rolf Jensen, Donald Peppard (ĐH Connecticut) và thạc sĩ Vũ Minh Thắng (ĐH KHXH & NV Hà Nội). Những nghiên cứu đầy thuyết phục cho thấy người phụ nữ bán hàng rong ở đô thị với mức thu nhập thật sự chỉ từ 0,36 - 0,7 USD/ngày đã góp phần duy trì cuộc sống của cả một gia đình nông thôn, trong khi vẫn duy trì được mô hình gia đình truyền thống với hầu hết các tập quán và nghĩa vụ.

Hầu hết các học giả trong các nghiên cứu của mình đều đi đến kết luận: VN còn rất nhiều việc phải làm để xóa nghèo và rút ngắn khoảng cách giàu nghèo.

THANH HÀ - THU HÀ
(Báo Tuổi Trẻ ngày 07/12/2008)

15 tháng 10, 2008

Nhận thức về nghèo đói


"Cùng với những thành tựu nổi bật, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao và thừa nhận, công tác giảm nghèo cũng đang đứng trước hàng loạt những thách thức mà một trong những tồn tại là công tác thông tin, truyền thông giảm nghèo còn chưa được quan tâm đúng mức, chưa làm cho người dân và cộng đồng xã hội nhận thức được sâu sắc vấn đề nghèo đói, đặc biệt là chưa làm cho người nghèo cảm nhận được sự nghèo khó của chính họ là đáng phê phán cũng như tình trạng nghèo của họ là đáng xấu hổ trước cộng đồng. Do đó, chưa làm cho họ có động lực, ý chí, quyết tâm vươn lên thoát nghèo, thậm chí có nơi, có hộ gia đình còn mong muốn được đưa vào diện nghèo đói để được hưởng chế độ, chính sách, gây nên tư tưởng ỷ lại, thói quen trông chờ vào sự trợ giúp của Nhà nước."
(Phát biểu khai mạc buổi toạ đàm của Thứ trưởng Lê Bạch Hồng Bộ LĐTB&XH ngày 13/10/2008 nhân Ngày Thế giới xoá đói nghèo và Ngày Vì người nghèo Việt Nam 17/10)
Ý kiến:
Tại sao chúng ta không lập quỹ "Phát triển cộng đồng"dành cho các cộng đồng nghèo để có những dự án phát triển do những người được đào tạo chuyên môn về phát triển cộng đồng thực hiện. Những người này biết cách giáo dục nhận thức cho người nghèo và giúp người nghèo được tăng năng lực để tự vươn lên trong cuộc sống một cách bền vững mà nguồn vốn không bị mất đi. Trong khi hiện nay chúng ta có những buổi văn nghệ trên truyền hình quyên góp tiền hằng trăm tỷ đồng rồi số tiền khổng lồ đó đi đâu, chẳng ai biết, chúng ta chỉ biết cho và cho, tạo sự ỷ lại để rồi tình trạng nghèo của họ vẫn nghèo mãi thôi. Phải chi nguồn vốn huy động này được vào Quỹ phát triển cộng đồng và thông qua những dự án phát triển cho những vùng nghèo thì hay biết mấy.
Những tổ chức xã hội đang quyên góp tiền và cho tiền như vậy cần suy tính lại và những số tiền đó bỏ ra sẽ mang lợi ích cho người nghèo vô cùng và cho đất nước một cách hiệu quả nhiều hơn, cả cộng đồng được hưởng lợi.
Nhiều người được đào tạo về phương pháp phát triển cộng đồng này đang chờ đợi có cách làm như vậy để được thực hành chuyên môn và chung tay góp phần phát triển đất nước một cách có căn cơ hơn.Các bạn có đồng tình không?
Nguyễn Ngọc Lâm

19 tháng 7, 2008

Điều chỉnh chuẩn nghèo theo CPI năm 2008 (18/7/2008)


Điều chỉnh chuẩn nghèo theo CPI năm 2008 (18/7/2008)
Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về việc xem xét điều chỉnh chuẩn nghèo giai đoạn 2006-2010, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch Đầu tư nghiên cứu đề xuất phương án chuẩn nghèo trình Thủ tướng phê chuẩn theo chỉ số thực tế giá cả của năm 2008.

Theo phân tích của Cục Bảo trợ xã hội (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội): Chi cho nhu cầu ăn khoảng 60% tổng chi tiêu và 40% dành cho phi lương thực, thực phẩm. Cách tính này để thuận lợi cho việc điều chỉnh, rà soát và tiết kiệm chi phí, nhận diện hộ nghèo ở các địa phương cơ sở, chuẩn nghèo được chuyển đổi tính theo thu nhập bình quân đầu người của các hộ gia đình.
Nhưng do chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng nhanh, năm 2007 là 12,63%, 6 tháng đầu năm 2008 là 18,44%, ước tính cả năm 2008 từ 24,5-28,5%, làm cho giá trị thực của chuẩn nghèo giảm xuống. Để bảo đảm đúng giá trị thực của chuẩn nghèo như khi đã ban hành thì phải tính them vào chuẩn nghèo chỉ số CPI từ năm 2007 và năm 2008.

Sau khi thống nhất với Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã đề xuất phương án điều chỉnh chuẩn nghèo theo phương án: Chuẩn nghèo điều chỉnh giá năm 2008 sẽ bằng chuẩn nghèo hiện nay cộng với chỉ số giá CPI trong 2 năm 2007-2008 (khi xây dựng đã ước tính chỉ số năm 2006 là 6,5%); nếu cập nhật giá, giá trị chuẩn nghèo sẽ tăng khoảng 40-45% so với chuẩn nghèo hiện tại.

Theo đề xuất của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Phương án 1: Chuẩn nghèo được cập nhật chỉ số CPI năm 2007 (12,63%) và năm 2008 (dự kiến là 24,5%). Do vậy chuẩn nghèo được cập nhật chỉ số CPI năm 2007 (12,63%) và năm 2008 (dự kiến là 24,5%). Chuẩn nghèo được tính ở 2 khu vực: Nông thôn-những hộ có mức thu nhập bình quân từ 270.000 đồng/người/tháng trở xuống là hộ nghèo.

Khu vực thành thị: Những hộ có mức thu nhập bình quân từ 360.000 đồng/ người/tháng trở xuống là hộ nghèo. Theo phương án này, dự báo tỷ lệ hộ nghèo của cả nước đến cuối năm 2008 khoảng 15-16%, tương ứng với 2,9-3,1 triệu hộ. Với Phương án 2, chuẩn nghèo được cập nhật theo chỉ số CPI năm 2007 (12,63%) và năm 2008 (dự kiến là 27,5%).

Theo đó chuẩn nghèo cụ thể như sau: Khu vực nông thôn: Những hộ có mức thu nhập bình quân từ 300.000 đồng/người/tháng trở xuống là hộ nghèo. Đối với khu vực thành thị, những hộ có mức thu nhập bình quân từ 390.000 đồng/người/tháng trở xuống là hộ nghèo. Theo phương án này, dự báo tỷ lệ hộ nghèo cả nước đến cuối năm 2008 khoảng 16,5-17,5%, tương ứng với 3,2-3,4 triệu hộ.
Kinh phí thực hiện các chính sách giảm nghèo như sau: đối với chính sách giảm nghèo tác động trực tiếp tới hộ nghèo (y tế, giáo dục) các bộ ngành chức năng sẽ tính toán cụ thể kinh phí tăng thêm và bổ sung từ năm 2009; đối với các chính sách liên quan đến đối tượng đồng bào dân tộc thiểu số, đề nghị Uỷ ban Dân tộc căn cứ vào chuẩn nghèo mới tính toán đề nghị bổ sung kinh phí thực hiện.
Theo TBKTVN

23 tháng 4, 2008

Nâng cao Hiệu quả Thị trường cho Người nghèo (M4P)


Giới thiệu tóm tắt về M4P
www.markets4poor.org

Cơ quan Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID)
Giới thiệu tóm tắt về khái niệm
Nâng cao Hiệu quả Thị trường cho Người nghèo (M4P)
Khung M4P đang tiến triển được mô tả bao gồm những cơ sở gốc của M4P cũng như những nỗ lực gần đây trong việc ứng dụng khung M4P vào những quốc gia cụ thể. M4P là công việc vẫn đang tiếp diễn. Mục đích của bài giới thiệu này là cung cấp hiểu biết tốt hơn về khái niệm M4P và khuyến khích thảo luận về những phương pháp hoàn thiện và cải tiến để giúp M4P trở thànhmột công cụ có hiệu quả hơn trong việc thúc đẩy tăng trưởng giảm nghèo.
Bối cảnh Mục tiêu Phát triển Thiên Niên Kỷ. Khi chỉ còn một thập kỷ nữa để đạt được Mục tiêu Phát triển Thiên Niên Kỷ về việc giảm một nửa số người sống chỉ với ít hơn 1 đô la mỗi ngày, chúng ta cần quan tâm hơn nữa đến tỷ lệ tăng thu nhập của người nghèo. Việc thị trường hoạt động có hiệu quả đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng thông qua khả năng tạo ra những động lực khuyến khích đầu tư và thương mại, và qua việc phân phối các nguồn lực trong phạm vi nền kinh tế. Tuy nhiên, bằng chứng cho thấy mức độ tăng thu nhập của người nghèo như là kết quả của tăng trưởng lại rất khác nhau giữa các nước.
Nói cách khác, kiểu mẫu tăng trưởng cũng quan trọng đối với việc giảm nghèo. Sự tham gia của người nghèo vào thị trường và những điều kiện cho sự tham gia của họ là những yếu tố mang tính then chốt quyết định xem việc tăng trưởng đó có lợi cho người nghèo hay không.
Hiểu rõ hơn về vai trò của các thị trường trong việc tạo ra tăng trưởng có lợi cho người nghèo sẽ giúp hình thành các chính sách và chương trình có hiệu quả hơn trong công cuộc giảm nghèo.
Thất bại của Thị trường và Nhà nước. Theo truyền thống, khi các kết quả thị trường chưa có lợi cho người nghèo, thì trách nhiệm thuộc về chính phủ - với nội lực hoặc nhờ sự trợ giúp của các nhà tài trợ - trong việc tự cung cấp hàng hoá và dịch vụ. Thông thường, kết quả của sự can thiệp này là làm lệch lạc thị trường và “xua đuổi” khối tư nhân. Và vì nguồn lực của Chính phủ và các nhà tài trợ là hạn chế, những can thiệp trực tiếp này hoặc đã thất bại trong việc đáp ứng nhu cầu của người nghèo, hoặc chỉ tạo ra một nguồn cung mang tính chất tạm thời và không bền vững. Trong trường hợp xấu nhất, việc cung cấp hàng hoá và dịch vụ trở thành một hình thức bảo trợ. Vào những năm 1980, các vấn đề “ thất bại của nhà nước” - những can thiệp kém hiệu quả của nhà nước vào thị trường – lan rộng đã tạo cơ sở cho “Sự đồng thuận Washington” - một sự quay trở lại với khung chính sách kinh tế dựa trên sự vận động của thị trường tự do. Nâng cao hiệu quả thị trường cho người nghèo (M4P) mở ra một phương pháp tiếp cận mới để hỗ trợ tăng trưởng có lợi cho người nghèo, dựa trên những điều học hỏi được từ các vấn đề được nhiều người biết đến về thất bại của cả nhà nước và thị trường. M4P có mục đích thúc đẩy tăng trưởng giảm nghèo bằng cách cải thiện những kết quả thị trường có ý nghĩa với người nghèo trong vai trò của họ là các doanh nghiệp, người lao động hay người tiêu dùng.
M4P tập trung vào việc làm thay đổi cấu trúc và các đặc tính của thị trường để làm tăng sự tham gia của người nghèo vào những lĩnh vực mang lại lợi ích cho họ. M4P chú trọng vào những hoạt động của khối doanh nghiệp tư nhân và vì thế củng cố những sức mạnh của hệ thống thị trường chứ không làm tổn hại nó.
Ý tưởng về M4P có thể được tìm thấy từ quan điểm Kinh tế học Thể chế Mới và những tư
tưởng gần đây về việc làm thế nào để sử dụng hệ thống thị trường vào việc đáp ứng nhu cầu của người nghèo và hỗ trợ khối kinh tế tư nhân thông qua cơ chế thị trường. Một tài liệu khung mang tên “nâng cao hiệu quả thị trường cho người nghèo” được DFID/OPM giới thiệu vào năm 2000. Khung ban đầu này trình bày 4 phạm vi phân tích thị trường, bao gồm (a) Môi trường thuận lợi, (b) Thất bại thị trường, (c) Quan hệ quyền lực đối nghịch và (d) Các kết nối liên-thị trường. Công trình này đã mở đường cho các hoạt động mang tên M4P tại Nam Phi, Nigeria, Bangladesh, Lào, Campuchia và Việt Nam và một số nước khác. Thêm vào đó, những phát triển có tính lý thuyết mới trong một loạt các lĩnh vực có liên quan bao gồm: Vai trò của thể chế, phân tích kinh tế chính trị (“Động lực thúc đẩy thay đổi”), lý thuyết Phát triển (“Phát triển như là Tự Do”), việc cung cấp dịch vụ kinh doanh qua hệ thống thị trường (“Sách Xanh”; CGAP, “sách
vỡ lòng” của ILO) và các chuỗi giá trị đã làm giàu thêm khung M4P đang tiến triển.
M4P với vai trò là một khung nhận thức. Trước khi một thị trường có thể vận động vì người nghèo, trước hết, nó phải có khả năng vận động. Những nỗ lực ban đầu nhằm hiện thực hóa những khái niệm M4P giúp nghiên cứu những yếu tố chính trong sự vận động của thị trường một cách có hệ thống hơn. Những yếu tố này được xác định là (a) “thị trường nòng cốt” bao gồm nhà sản xuất và người tiêu dùng, (b) các lớp dịch vụ và cơ sở hạ tầng bên ngoài và (c) các thể chế . Một thị trường vận động vì người nghèo là thị trường mở rộng lựa chọn cho người nghèo và đạt được những thành quả có lợi cho người nghèo. Những thành quả này bao gồm cơ hội việc làm với mức lương hấp dẫn, lợi nhuận bán hàng khá hơn, có khả năng thanh toán các sản phẩm và dịch vụ quan trọng. Xét về mặt đóng góp cho sự tăng trưởng giảm nghèo, tiêu chí chính của sự thành công là tốc độ tăng trưởng trung bình trong thu nhập của người nghèo.
Một đặc điểm quan trọng của thị trường vận động vì người nghèo là tốc độ mở rộng thị trường cùng với sự tham gia ngày càng tăng của người nghèo vào thị trường.
Ranh giới tiếp cận,được định nghĩa là ‘tỷ lệ khả dụng tối đa công nghệ, hạ tầng và quy chế theo những điều kiện cấu trúc hiện hành về công nghệ, cơ sở hạ tầng và quy định’, là một công cụ phân tích hữu ích.
Vị trí của Ranh giới, và tốc độ tiến về phía ranh giới này, phản ánh cả chiều sâu của thị trường và mức độ vì người nghèo của thị trường. Những vấn đề chính sách chính thường liên quan đến việc liệu nhà nước có muốn tăng mức độ sử dụng của loại hàng hóa và dịch vụ nhất định ở phía bên kia Ranh giới tiếp cận (được gọi theo thuật ngữ “khu vực siêu thị trường”), và tăng cường những phương tiện can thiệp của mình hay không - điều này có thể làm nảy sinh những vấn đề về ngân sách và làm lệch lạc thị trường.
Những thay đổi mang tính thể chế và hệ thống trong sự vận động của thị trường có vai trò quan trọng đối với người nghèo là lĩnh vực tập trung chính của M4P. Mối tương tác phức tạp giữa các yếu tố kinh tế, chính trị, thể chế và xã hội giải thích tại sao có những thu xếp hợp đồng nhất định, và xác định mức độ tác động của chúng đối với khả năng tiếp cận thị trường và sinh kế của người nghèo.
Động lực thúc đẩy Thay đổi là cách nhận thức về mặt kinh tế chính trị của tăng trưởng và giảm nghèo tập trung vào những vấn đề cơ bản và lâu dài có ảnh hưởng
đến biện pháp khuyến khích và năng lực thay đổi giảm nghèo, cũng như những triển vọng đổi mới. Phương pháp tiếp cận này bắt đầu từ tình hình ở địa phương và xem xét vai trò tương ứng của các tác nhân thay đổi, các thể chế và các vấn đề cấu trúc.
M4P với vai trò là một khung hành động. Phương pháp tiếp cận M4P có thể được ứng dụng
như một công cụ phân tích để làm sáng tỏ vấn đề phát triển chính sách và thiết kế chương trình, và cũng có thể được ứng dụng như một công cụ can thiệp.
M4P với vai trò là một công cụ phân tích có 3 khía cạnh chính:
a) Phân tích chiến lược sinh kế và đói nghèo bao gồm việc hiểu rõ hơn hệ thống thị
trường mà trong đó có người nghèo và hiểu rõ về các chiến lược sinh kế. Những chiến
lược sinh kế chính của người nghèo được xác định là:
• ‘Duy trì hay ‘treo’ - bảo vệ mức độ phúc lợi hiện tại với những danh mục công
việc hiện tại.
• ‘Bước lên’ – nâng cao năng suất và thu nhập trong những ngành nghề mà
người nghèo hiện đang mưu sinh.
• ‘Bước ra” - chuyển đổi sang những hình thức sinh kế mới mà có thể mang lại mức thu nhập cao hơn, nhất là những công việc tự doanh hoặc làm công ăn lương trong ngành sản xuất hoặc dịch vụ.
b) Phân tích thị trường - những chức năng của thị trường quan trọng với người nghèo, cả trực tiếp và gián tiếp; mức độ có lợi của những kết quả thị trường đối với người nghèo và những lĩnh vực can thiệp tiềm năng.
c) Phân tích sự thay đổi kinh tế mang tính thể chế và chính trị M4P với vai trò là một bộ công cụ thực hành can thiệp. Tiếp sau những phân tích trên đây, sẽ có thể có trường hợp cần đến một hoặc nhiều can thiệp phát triển kinh tế. Những can thiệp
này cần phải được sàng lọc thông qua “lăng kính giảm nghèo” M4P, có nghĩa là phải xem xét số lượng người nghèo sẽ được hưởng lợi từ những can thiệp đó, cũng như khả năng đóng góp cho công cuộc tăng trưởng giảm nghèo trong mối tương quan với quy mô của can thiệp. Ngoài ra, cần phải xác định rõ lý do tại sao hàng hóa và dịch vụ đang bị đặt dấu hỏi lại được cung cấp một cách dưới-mức-tối ưu. Không phải lúc nào thất bại thị trường cũng xảy ra, và không phảilúc nào thất bại thị trường cũng có thể được sửa chữa một cách dễ dàng và ít tốn kém. Có ba lĩnh vực hạn chế mà có thể làm nản lòng các nhà đầu tư thuộc khối tư nhân, và ở đó những biện pháp can thiệp thích hợp đã được xác định:
a) “Nền tảng” yếu kém, ví dụ như mức cầu thấp, giá cả thấp, chi phí sản xuất cao và
xa giá thị trường. Phạm vi phát triển thị trường bị hạn chế rất lớn nếu không có sự
đầu tư mạnh của nhà nước vào cơ sở hạ tầng và thay đổi công nghệ hoặc các hình
thức Hợp tác Nhà nước – Tư nhân khác nhau.
b) Thất bại lớn của thị trường và/hoặc chính quyền đòi hỏi các cơ chế để giảm nhẹ
và kiềm chế thiệt hại, ví dụ như bảo hiểm, bảo lãnh và các công cụ tài chính khác,
nhưng cũng có thể thông qua việc tăng cường thể chế, các hình thức hợp tác mới
và các sắp xếp hợp đồng.
c) Khó tiếp cận với các khoản vay và tài trợ vốn, đòi hỏi phải có các biện pháp tăng
cường khối tài chính nông thôn, bao gồm cả việc tăng cường thể chế và thiết kế các
sản phẩm tài chính mới.
Mức độ lệch lạc của thị trường cũng cần được cân nhắc, bởi vì các biện pháp can thiệp có thể là:
a) Trung lập – Tháo dỡ những lệch hiện tại, cải thiện môi trường đầu tư.
b) Trung gian. Những biện pháp can thiệp phi-giao dịch nhằm nâng cao cung cầu
hàng hoá và dịch vụ thông qua giáo dục và đào tạo, cải thiện nguồn thông tin, và các
biện pháp mang tính thể chế nhằm giảm chi phí giao dịch.
c) Có nguy cơ lệch lạc – Các biện pháp can thiệp ảnh hưởng trực tiếp đến giá cả
hàng hoá và dịch vụ thông qua một số hình thức bao cấp. Những biện pháp đó nếu
được duy trì vô thời hạn sẽ làm lệch hướng những quyết định về tiêu dùng và đầu
tư.
Tiếp tục tiến triển và hoàn thiện. Còn một số công việc cần làm để cải thiện hơn nữa tính hữu ích của khái niệm M4P, trong đó có:
• Tiếp tục hoàn thiện định hướng M4P thông qua phát triển đối thoại.
• Tiếp tục hợp nhất “các động lực thúc đẩy thay đổi” và những phương pháp kinh tế chính trị khác vào hạt nhân của phương pháp tiếp cận M4P.
• Xác định những thể chế thích đáng cần thiết để thị trường hoạt động hiệu quả.
• Các thị trường và mối liên hệ của chúng với các hình thức trao đổi kinh tế khác, trong đó có các hệ thống phân cấp quản lý, các chuỗi giá trị và việc hội nhập theo chiều dọc.
• Có được sự tham gia thực sự của thành phần kinh tế tư nhân. Thành công của phương
pháp tiếp cận M4P được đoán trước dựa vào việc thành phần kinh tế tư nhân đảm
nhiệm các chức năng thị trường trên một quy mô lớn hơn khả năng của họ nhờ vào sự
hỗ trợ của chính phủ và các nhà tài trợ.
• Có được năng lực quản lý tri thức, truyền đạt thông tin và vận động ủng hộ tốt hơn và chuyên nghiệp hơn để hỗ trợ cho việc truyền bá M4P.

14 tháng 4, 2008

VN: chênh lệch giàu nghèo 34,4 lần


VN: chênh lệch giàu nghèo 34,4 lần
10% dân số nghèo nhất chỉ chiếm 4,2% thu nhập và chi tiêu quốc gia.

10% giàu nhất chiếm 28,8% thu nhập và chi tiêu quốc gia.

20% dân số nghèo nhất chiếm 9% tổng thu nhập và chi tiêu quốc gia.

20% dân số giàu nhất chiếm 44,3% tổng thu nhập và chi tiêu quốc gia.

Chênh lệch giữa 10% dân số giàu nhất với 10% dân số nghèo nhất là 6,9 lần, còn theo chỉ số Gini (chỉ số chênh lệch giàu nghèo) ở VN là 34,4 lần.

(Nguồn: Báo cáo phát triển con người 2007-2008 của UNDP

Đừng để người nghèo bị gạt ra bên lề


Đừng để người nghèo bị gạt ra bên lề

TT - " Người nghèo - những hộ thu nhập thấp, những người phải chạy ăn từng bữa - trên thực tế chỉ được thụ hưởng rất ít các kết quả tăng trưởng, trong khi chính họ phải gần như lãnh trọn những hậu quả do lạm phát đang diễn ra. Muốn đất nước có được sự phát triển bền vững, tôi cho rằng chúng ta không thể thiếu những chính sách cốt lõi để giải quyết căn cơ vấn đề dân nghèo"

Kinh tế mấy năm qua vẫn tăng trưởng khá, nhưng sau những bão lụt - thiên tai, cuộc sống của người dân lại đang phải trải qua những đợt giá cả thiết yếu bất ổn liên tục. Người nghèo - những hộ thu nhập thấp, những người phải chạy ăn từng bữa - trên thực tế chỉ được thụ hưởng rất ít các kết quả tăng trưởng, trong khi chính họ phải gần như lãnh trọn những hậu quả do lạm phát đang diễn ra. Muốn đất nước có được sự phát triển bền vững, tôi cho rằng chúng ta không thể thiếu những chính sách cốt lõi để giải quyết căn cơ vấn đề dân nghèo.

Cam kết lịch sử

Trong suốt hai thập niên đổi mới, Đảng và Nhà nước đã có nhiều nỗ lực để xóa đói giảm nghèo. Tỉ lệ người nghèo, tính theo chuẩn mực quốc tế (có mức sống dưới 1 USD/ngày), đã giảm từ 58% năm 1993 xuống 14,7% năm 2007. Một số viên chức quốc tế đã đánh giá cao những nỗ lực của VN. Nhưng những đánh giá ấy chủ yếu dựa trên các báo cáo trong nước và chúng ta hiểu khoảng cách giữa thực tế và báo cáo là còn đáng kể.

Tôi nhớ cách đây không lâu, báo chí phát hiện thêm rất nhiều nhà tranh vách đất ở một số địa phương mà theo báo cáo trước đó đã "100% ngói hóa". Mặt khác, dù phần lớn dân chúng đã "thoát nghèo" nhưng chỉ cần sau một mùa bão lụt, sau một đợt rét hại, những thành quả kinh tế mà những người dân này tần tảo để có lại gần như bị xóa sạch. Tôi vừa đến một số vùng như vậy và không khó lắm để thấy người nghèo đang chiếm một tỉ lệ lớn thế nào, đang phải sống vất vả ra sao.

Chăm lo cho người nghèo hiện nay không đơn giản chỉ là thực hiện một cam kết có tính lịch sử, mà còn là bảo vệ tôn chỉ mục đích của một đảng cách mạng luôn nhận mình đứng về phía nhân dân. Thực hiện cam kết đó không chỉ căn cứ vào những chính sách trực tiếp, mà trước khi ban hành những chính sách lớn cần phải phân tích, đánh giá sâu sắc những tác động của chúng lên các tầng lớp dân nghèo.

Chúng ta chưa có những đánh giá đầy đủ về tiến trình công nghiệp hóa xảy ra ở các vùng nông thôn và đặc biệt là nông thôn miền núi. Tiến trình này đúng là đã góp phần làm tăng trưởng kinh tế, đưa được một số nông dân vào lao động trong các công xưởng sử dụng lao động đơn giản. Nhưng mức tiền công quá thấp mà những nông dân này được trả không đủ tạo lập vị trí kinh tế cho họ, nói chi đến địa vị chính trị vinh dự mà chúng ta thường đề cập của giai cấp công nhân.

Công nghiệp hóa, đô thị hóa là một hướng đi cần thiết nhưng phải cân nhắc lợi ích lâu dài. Khi trở lại một số địa phương, thăm một số công trình, trong đó có những công trình được bắt đầu từ khi tôi còn công tác ở Chính phủ, tôi rút ra bài học rằng: nếu đô thị hóa hay công nghiệp hóa mà không cân nhắc đầy đủ sẽ dễ dẫn đến tình trạng các ngôi nhà, làng bản, thị trấn đặc trưng của các vùng cao dần được thay thế bằng những ngôi nhà, phố xá chen chúc, hình ảnh vẫn thường thấy ở vùng xuôi. Khi đó chúng ta không chỉ gây ra những tổn thất về văn hóa mà còn đánh mất cả lợi ích kinh tế lâu dài.

Đầu tư phát triển, một mặt không thể thiếu những giải pháp bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, gìn giữ bản sắc văn hóa; mặt khác phải có chính sách để người nghèo, đặc biệt là nông dân, bà con các vùng nông thôn, vùng dân tộc... không bị gạt ra bên lề tiến trình phát triển, nhất là tiến trình xây dựng các khu đô thị, nhà máy trên làng bản, ruộng đất lâu đời của họ.

Từ thiện không thể thay chính sách


Chúng ta nghiên cứu và giảng dạy khá đầy đủ về sự dã man của tư bản trong giai đoạn "tích lũy tư bản hoang dã”. Nhưng chúng ta đã chưa cập nhật để thấy khả năng tự điều chỉnh ở các quốc gia này. Phúc lợi cho người lao động, người nghèo ở nhiều nước tư bản hiện cao đến mức mà tôi nghĩ các nhà lý luận rất cần tham khảo. Kinh nghiệm sau hơn hai thập niên đổi mới cho thấy không thể có "công bằng" đúng nghĩa trong một xã hội mà tất cả đều nghèo (như chúng ta thời bao cấp).

Cũng không thể cào bằng bằng cách điều tiết hết lợi ích của người giàu để chia cho người nghèo. Xã hội sẽ không phát triển nếu không có chính sách kích thích một bộ phận dân chúng vươn lên làm giàu chính đáng. Nhưng, nếu không có chính sách hợp lý và không chống được tham nhũng để quá trình "tích lũy tư bản" diễn ra như thời "hoang dã” (nhờ hối mại quyền lực và có được đặc quyền khai thác tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên đất đai), thì không bao giờ tạo ra được công bằng và sự phát triển bền vững.

Có lẽ chưa có một quốc gia nào bày tỏ sự quan tâm đến người nghèo một cách thường xuyên như ta. Thậm chí với nhiều người, nó đã dần trở thành một thứ khẩu hiệu. Sự quan tâm đến người nghèo bằng các phương tiện truyền thông, qua các bài phát biểu, cuộc nói chuyện hay bài viết, tôi nghĩ là đã quá đủ. Nhưng chúng ta hãy nhìn vào các số liệu điều tra sau đây của UNDP để thấy chúng ta đã thật sự làm được những gì: nhóm 20% những người giàu nhất ở VN hiện đang hưởng tới 40% lợi ích từ các chính sách an sinh xã hội của Nhà nước; trong khi nhóm 20% những người nghèo nhất chỉ nhận được 7% lợi ích từ nguồn này.

Gần như thường xuyên chúng ta chứng kiến những hoạt động quyên góp, đấu giá... được tổ chức rầm rộ trên truyền hình, phần lớn những hoạt động ấy do Ủy ban T.Ư MTTQ VN tổ chức. Tôi không phản đối cách làm đó, nhưng tôi nghĩ công việc ấy để các nhà hoạt động từ thiện chuyên nghiệp hoặc bán chuyên nghiệp, các nhà hảo tâm làm thay thì tốt hơn rất nhiều.

Theo kinh nghiệm của tôi, những người có nguyện vọng từ thiện đúng nghĩa thường chọn cách làm từ thiện trực tiếp hoặc thông qua các tổ chức từ thiện chuyên nghiệp, vì họ tin đồng tiền đi qua các tổ chức như thế sẽ không bị xà xẻo trên đường đến với người nghèo. Những người muốn giúp đỡ người nghèo thay vì dùng tiền bạc để mua danh và khoa trương, thường không chọn cách làm từ thiện theo kiểu "đấu giá” ồn ào trên các phương tiện thông tin đại chúng. Có tạo được những nền tảng pháp lý cho xã hội dân sự phát triển, để những tổ chức từ thiện đúng nghĩa có thể xuất hiện thì tình cảm cộng đồng mới thức dậy một cách chân thành, người nghèo từ đó mới được phần nào chia sẻ.

Tuy nhiên, các hoạt động từ thiện chỉ có thể khơi gợi một nguồn lực khác của xã hội chứ không thể thay thế các chính sách của Nhà nước. Sứ mệnh chính trị của những tổ chức như Mặt trận, vì vậy lớn hơn là việc quyên góp, xin - cho rất nhiều. Mặt trận có thể tham gia xóa đói giảm nghèo một cách hiệu quả hơn, thông qua việc đề xuất và phân tích chính sách, sao cho: lợi ích từ các nguồn tài nguyên quốc gia được phân phối hợp lý cho các chủ nhân của nó; người nghèo được hỗ trợ để có thể tiếp cận được với những quyền lợi căn bản nhất.

Đầu tư của Nhà nước vào các công trình phúc lợi y tế, giáo dục, văn hóa... không nên tập trung ở các đô thị, nơi mà các nguồn lực khác của xã hội có thể tham gia. Nhà nước cũng cần sớm hoàn thiện các thiết chế như: bảo hiểm y tế, quĩ trợ cấp, tín dụng giáo dục... cho người nghèo ở cả đô thị và nông thôn.

Tạo điều kiện cho người có năng lực, có khát vọng có thể làm giàu tối đa nhưng cũng không bỏ mặc những người không có khả năng tự bươn chải. Chấp nhận một khoảng cách không thể tránh khỏi giữa tầng lớp những người giàu và nghèo, nhưng phải nâng được mặt bằng mức sống của người nghèo lên để họ có thể tiếp cận được những phúc lợi tối thiểu về nhà ở, y tế, giáo dục; để không có người dân nào không được chữa bệnh, không được đi học chỉ bởi họ nghèo.

VÕ VĂN KIỆT
Nguồn: Báo Tuổi trẻ ngày 12/04/2008

3 tháng 3, 2008

Vấn đề nghèo đói ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp



Vấn đề nghèo đói ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
Xoá đói, giảm nghèo ở nước ta là một chủ trương lớn, một quyết sách lớn, là sự quan tâm hàng đầu của Đảng, nhà nước trong những thập kỷ qua. Xoá đói, giảm nghèo theo hướng bền vững là mục tiêu xuyên suốt trong quá trình phát triển kinh tế- xã hội của đất nước.
Những thành tựu giảm nghèo ở Việt Nam

Từ năm 1998 đến nay, chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo và chương trình 135 ra đời và đi vào hoạt động đã tạo sự chuyển biến sâu sắc trong toàn xã hội, huy động được sức mạnh của cả hệ thống chính trị, huy động và đa dạng hoá các nguồn lực cho giảm nghèo, bộ mặt các xã nghèo, xã đặc biệt khó khăn được cải thiện rõ nét, đời sống của người nghèo, đồng bào dân tộc đã được nâng lên một bước.

Thành quả xoá đói, giảm nghèo của Việt Nam đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao, báo cáo phát triển Việt Nam năm 2004 đã ghi nhận: “Những thành tựu giảm nghèo của Việt Nam là một trong những câu chuyện thành công nhất trong phát triển kinh tế” tạo được sự đồng thuận xã hội cao, góp phần ổn định chính trị, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, tăng trưởng kinh tế của đất nước, thực hiện cam kết thiên niên kỷ, góp phần nâng cao uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

Tỷ lệ hộ nghèo ở Việt Nam giảm nhanh, từ 17,2% năm 2001 xuống còn 6,3% năm 2005 (theo chuẩn nghèo cũ), bình quân mỗi năm giảm được trên 30 vạn hộ, đạt được mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII và IX đề ra.

Cơ sở hạ tầng thiết yếu của các xã nghèo, xã đặc biệt khó khăn từng bước được xây dựng, năm 2000 có khoảng 4.000 công trình được đưa vào sử dụng, đến năm 2006 đã có trên 30.000 công trình được xây dựng và đưa vào sử dụng đã làm cho bộ mặt của xã nghèo, xã đặc biệt khó khăn được cải thiện đáng kể nhất là trường học, trạm y tế, thuỷ lợi nhỏ, đường giao thông, nước sạch và vệ sinh môi trường…

Chất lượng cuộc sống của người dân ở các xã nghèo đã được nâng lên một bước, thu nhập bình quân của 20% nhóm nghèo nhất năm 2001 đạt 107.000 đồng/người/tháng và tăng 1,45 lần vào năm 2005. Với phương châm huy động đa nguồn, qua các kênh, các hình thức huy động phong phú, từ năm 2001 đến 2005 tổng nguồn lực để thực hiện mục tiêu giảm nghèo đạt khoảng 41 nghìn tỷ đồng.

Để tiếp tục phát huy những thành quả giảm nghèo đạt được, đồng thời cũng là sự thể hiện cam kết mạnh mẽ của Việt Nam đối với cộng đồng quốc tế trong cuộc chiến chống đói nghèo, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành chuẩn nghèo mới giai đoạn 2006- 2010; phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2006- 2010 và chương trình 135 giai đoạn II; hình thành Ban Chỉ đạo thống nhất của Chính phủ để tổ chức thực hiện 02 Chương trình từ Trung ương đến địa phương, cơ sở, đồng thời ban hành nhiều chính sách mới như: tín dụng đối với học sinh, sinh viên nghèo; cho vay vốn phát triển sản xuất đối với hộ đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn; tín dụng đối với hộ gia đình sản xuất- kinh doanh tại vùng khó khăn…

Sau 2 năm thực hiện, đã có 2,866 triệu hộ nghèo được vay vốn tín dụng ưu đãi; 1,330 triệu lượt người nghèo được hướng dẫn cách làm ăn; 20 ngàn lao động nghèo được hỗ trợ dạy nghề miễn phí; 62 ngàn lượt cán bộ giảm nghèo các cấp được tập huấn nâng cao năng lực; 29 triệu lượt người nghèo được cấp thẻ BHYT; 2,4 triệu học sinh nghèo được miễn giảm học phí; 230 ngàn hộ nghèo được hỗ trợ về nhà ở; nhiều mô hình giảm nghèo ở các vùng đặc thù, mô hình giảm nghèo gắn với an sinh- quốc phòng và mô hình liên kết với các doanh nghiệp được xây dựng có hiệu quả và nhân rộng.

Với sự nỗ lực chung của cả nước, của các cấp, các ngành, các tổ chức đoàn thể, địa phương, tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh vượt mức kế hoạch đề ra, đến cuối năm 2007 tỷ lệ hộ nghèo cả nước còn 14,87% giảm 6,23% so với cuối năm 2005, trong đó: Tây Bắc 32,36%; Đông Bắc 23,44%; Đồng Bằng Sông Hồng 9,59%; Bắc Trung Bộ 23,44%; Duyên hải miền Trung 16,18%; Tây Nguyên 21,34%; Đông Nam Bộ 5,12%; Đồng bằng sông Cửu Long 12,85%. Một số địa phương đã cơ bản xoá hết hộ nghèo theo chuẩn quốc gia như Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh và áp dụng chuẩn nghèo mới của địa phương cao hơn từ 1 đến 2 lần chuẩn quốc gia.

Những khó khăn thách thức

Trong những năm qua, công cuộc phát triển kinh tế- xã hội của nước ta đạt được những thành tựu quan trọng, GDP hàng năm tăng cao từ 7,5- 8,5%, tuy nhiên Việt Nam vẫn là một nước nghèo. Công cuộc xoá đói giảm nghèo tuy đã đạt được một số kết quả, tạo được sự đồng thuận của người dân và ủng hộ của quốc tế song vẫn còn những thách thức, tồn tại lớn, cụ thể:

- Khả năng kinh tế và nguồn lực cho xoá đói giảm nghèo còn khó khăn, Nhà nước cùng một lúc phải đầu tư cho nhiều vấn đề xã hội bức xúc khác, việc sử dụng nguồn lực còn chưa tập trung và hiệu quả chưa cao. Bên cạnh đó, 10 năm tới chuẩn đói nghèo được nâng lên thì tỷ lệ hộ nghèo đói cũng tăng lên, chính sách giảm nghèo phải mở rộng do đó việc cân đối, huy động nguồn lực để đáp ứng yêu cầu sẽ khó khăn hơn.

- Tỷ lệ nghèo đói những năm qua tuy giảm mạnh nhưng vẫn còn ở mức cao và chưa vững chắc, nhất là vùng đồng bào dân tộc, vùng sâu, vùng thường xuyên bị thiên tai, bão lụt, mất mùa, tỷ lệ tái nghèo đói lớn (7- 10% tổng số hộ vừa thoát nghèo), đặc biệt đối với nhóm hộ nghèo nằm sát chuẩn đói nghèo (chiếm 70- 80%).

- Trong qúa trình phát triển, vùng miền núi, đồng bào dân tộc dân trí còn thấp, tập quán canh tác và tập tục lạc hậu, nhận thức còn nhiều hạn chế, việc tiếp cận thông tin còn nhiều khó khăn, các tệ nạn xã hội diễn biến phức tạp và có xu hướng gia tăng, cùng với mặt trái của cơ chế thị trường làm khoảng cách gia tăng thêm sự phân hoá giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng và tầng lớp dân cư. Bên cạnh đó, còn một bộ phận người nghèo chưa tiếp cận được chính sách, giải pháp trợ giúp của Nhà nước, chưa thực sự quyết tâm vươn lên, vượt qua ngưỡng nghèo đói.

- Giảm nghèo chưa gắn chặt với phát triển cộng đồng và phát triển nông thôn. Đầu tư cho xoá đói giảm nghèo chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế (cả vốn tín dụng và đầu từ từ Ngân sách Nhà nước). Nguồn lực dành cho chương trình còn rất hạn chế, chưa cân đối với mục tiêu đề ra và đảm bảo tiến độ thực hiện.

- Một số cơ chế, chính sách giảm nghèo chưa đồng bộ, cụ thể, một số chính sách chưa đến được bộ phận người nghèo; việc điều hành kế hoạch và lồng ghép các chương trình kinh tế xã hội với giảm nghèo còn lúng túng và một số nơi còn kém hiệu quả. Kết quả giảm nghèo còn có biểu hiện áp đặt từ trên xuống ở một số địa phương cơ sở, chính sách giải pháp hỗ trợ trực tiếp người nghèo vẫn là chính nên chỉ thích hợp trong ngắn hạn, trước mắt, hiệu quả lâu dài còn hạn chế và thiếu bền vững.

- Cơ chế hỗ trợ người nghèo chưa hướng vào nâng cao nhận thức, năng lực và tính làm chủ, người nghèo chưa thực sự tham gia được vào thị trường để phát triển kinh tế với vai trò người làm chủ. Người dân còn nặng tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào cấp trên, vào Nhà nước, chưa phát huy tính chủ động, tự lực của địa phương, cơ sở và của chính người nghèo để tự vươn lên.

- Nhận thức về trách nhiệm đối với công tác giảm nghèo ở một số địa phương, cơ sở chậm và chưa rõ gây nên tình trạng không có cán bộ am hiểu, nhiệt huyết làm công tác giảm nghèo. Đầu tư cho đào tạo cán bộ làm công tác giảm nghèo còn rất hạn chế dẫn đến tình trạng cán bộ làm công tác giảm nghèo, nhất là ở cơ sở vừa thiếu vừa yếu.

Mục tiêu

- giải pháp để đẩy nhanh tiến độ thực hiện mục tiêu giảm nghèo

Bước sang thế kỷ 21, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin và sự phát triển của nền kinh tế tri thức với xu hướng toàn cầu hoá, nhiều nước phát triển càng có lợi thế làm cho khoảng cách giữa các nước phát triển và đang phát triển ngày càng xa hơn. Tuy nhiên, các nước đang phát triển cũng có cơ hội để tạo ra những bước nhảy vọt trong phát triển kinh tế- xã hội.

Xoá đói giảm nghèo đã trở thành vấn đề mang tính toàn cầu, được nhiều quốc gia quan tâm giải quyết, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam. Đối với nước ta, xoá đói giảm nghèo và thực hiện công bằng xã hội càng trở thành vấn đề bức xúc. Do vậy, xoá đói giảm nghèo đang thực sự là một cuộc cách mạng xã hội mang tính nhân văn sâu sắc, là một chiến lược lâu dài, một quyết sách và một chương trình hành động quan trọng.

Để tiếp tục phát huy thành quả giảm nghèo bền vững, thực hiện nghị quyết kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá XII phấn đấu đến cuối năm 2008 tỷ lệ hộ nghèo cả nước giảm còn 11- 12%, về đích trước 2 năm mục tiêu giảm nghèo giai đoạn 2006- 2010 theo Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã đề ra. Chính phủ cũng đã chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ thực hiện mục tiêu giảm nghèo.

Mục tiêu tổng quát trong những năm tới là: Giảm nghèo nhanh và bền vững thông qua nâng cao năng lực và tính tự chủ tiếp cận cơ chế thị trường của người nghèo, tạo cơ hội cho người nghèo tiếp cận thuận lợi và bình đẳng hơn với các dịch vụ sản xuất, dịch vụ xã hội cơ bản; thu hẹp tốc độ gia tăng khoảng cách chênh lệch giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng kinh tế, giữa nhóm giàu và nhóm nghèo. Nâng cao năng lực và tính tự chủ của các huyện nghèo (huyện có tỷ lệ nghèo cao, cơ sở hạ tầng chưa phát triển) thông qua việc hỗ trợ tài chính trọn gói theo kế hoạch 5 năm và hàng năm cho các huyện nghèo để phát triển kinh tế- xã hội địa phương theo hướng có lợi cho người nghèo.

Mục tiêu cụ thể đến năm 2015, 2020:

- Tính tự chủ tiếp cận cơ chế thị trường của người nghèo được nâng cao, cơ bản thay đổi phương thức sản xuất kinh doanh, dịch vụ của người nghèo, xoá bỏ cách thức sản xuất tự túc, tự cấp chuyển sang sản xuất hàng hoá phục vụ nhu cầu của thị trường dựa vào lợi thế so sánh của từng địa phương để tăng thu nhập, xoá nghèo bền vững.

- Hàng năm giảm ít nhất 10% số hộ nghèo trong tổng số hộ nghèo, tỷ lệ tái nghèo giảm xuống dưới 10% so với số hộ thoát nghèo (tỷ lệ 1/10).

- Tốc độ tăng thu nhập của nhóm hộ nghèo ngang bằng hoặc cao hơn tốc độ tăng thu nhập trung bình của dân cư, góp phần thu hẹp khoảng cách giàu nghèo.

- Năng lực lập kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội theo hướng có lợi cho người nghèo của các huyện nghèo được nâng cao; cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển sản xuất và dịch vụ xã hội cơ bản được cải thiện một cách cơ bản, góp phần tích cực vào kết quả giảm nghèo bền vững của địa phương.

Giải pháp:

Trong năm 2008 và những năm tiếp theo, để thực hiện các mục tiêu trên cần thực hiện đồng bộ, mạnh mẽ một số giải pháp cơ bản sau:

Thứ nhất, đẩy mạnh công tác truyền thông để nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp Uỷ- chính quyền địa phương, các ban ngành đoàn thể và chính người dân có ý chí quyết tâm vượt nghèo làm giàu chính đáng. Khắc phục tư tưởng trông chờ, ỷ lại Trung ương, ỷ lại cộng đồng xã hội. Cấp Uỷ, chính quyền phải có sự chỉ đạo sát sao, nắm được nhu cầu của người dân xem họ có khó khăn gì cần Nhà nước- xã hội giúp gì thì sự giúp đỡ đó mới có hiệu quả.

Thứ hai, sự chỉ đạo và điều hành nguồn lực phải hướng vào vùng nghèo, hộ nghèo: 17 tỉnh kinh tế khó khăn; 58 huyện có tỷ lệ hộ nghèo trên 50%, 3100 xã tỷ lệ hộ nghèo cao. Đặc biệt khu vực miền núi phía Bắc, Tây nguyên, Bắc Trung bộ, Tây Nam bộ, vùng bãi ngang ven biển. Trong điều kiện kinh tế, nguồn lực của Nhà nước còn hạn hẹp mà đầu tư dàn trải thì khó có thể đạt được những mục tiêu đặt ra, nên phải tập trung vào những tỉnh, huyện, xã có tỷ lệ hộ nghèo cao, nhiều khó khăn, đặc biệt là những khu vực, vùng còn khó khăn. Cần tập trung sự chỉ đạo giảm nghèo nhanh ở các vùng, khu vực này để góp phần giảm nghèo bền vững, giảm nghèo nhanh hơn trên phạm vi cả nước.

Thứ ba, tiếp tục hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách hỗ trợ địa phương nghèo, hộ nghèo. Trong tình hình hiện nay cần thực hiện đồng bộ, hiệu quả, thiết thực:

- Cùng với chính sách hỗ trợ trực tiếp cho hộ nghèo, đối với vùng núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số mà nhận thức của đồng bào còn hạn chế , trình độ sản xuất thấp kém cần có chính sách hỗ trợ tín dụng, công nghệ, đào tạo cho doanh nghiệp hoặc một số hộ điển hình làm kinh tế giỏi để trở thành đầu tàu lôi cuốn, hướng dẫn, giúp đỡ các hộ nghèo phát triển sản xuất, tiêu thụ sản phẩm.

- Về chính sách hỗ trợ y tế: đề nghị tăng thời gian sử dụng của thẻ bảo hiểm y tế cho hộ nghèo lên 2 năm, đồng thời thực hiện cơ chế khuyến khích hộ mới thoát nghèo được tiếp tục hưởng chính sách bảo hiểm y tế sau 2 năm để đảm bảo cho hộ nghèo tránh tái nghèo do những nguyên nhân về ốm đau.

- Về chính sách hỗ trợ giáo dục- đào tạo: chuyển đổi cơ chế miễn, giảm học phí, các khoản đóng góp như hiện nay sang cơ chế nhà nước chi trả trực tiếp cho học sinh thuộc hộ nghèo thông qua hình thức trả tiền trực tiếp cho đối tượng hoặc thanh toán cho cơ sở giáo dục, đào tạo nhằm khuyến khích các trường, cơ sở đào tạo tuyển học sinh thuộc diện hộ nghèo vào học tập. Đặc biệt có chính sách hỗ trợ cho con em gia đình nghèo tới trường, không bỏ học: dự kiến hỗ trợ 10- 15kg gạo/tháng, phương tiện đi học, sách giáo khoa, vở viết…

- Bố trí một cán bộ chuyên trách làm công tác Lao động- Thương binh và xã hội cấp xã/phường, trong đó có nhiệm vụ theo dõi, quản lý chương trình giảm nghèo, đồng thời hướng dẫn và đảm bảo kinh phí để các xã có tỷ lệ hộ nghèo cao (25% trở lên) có cán bộ hợp đồng làm công tác giảm nghèo.

- Nghiên cứu xây dựng và ban hành chuẩn nghèo mới áp dụng từ 2011- 2015 theo hướng hội nhập, toàn diện và linh hoạt hơn trong điều kiện hội nhập ngày càng sâu rộng hơn vào nền kinh tế thế giới và khu vực.

- Hỗ trợ gián tiếp cho hộ gia đình nghèo nhưng trực tiếp cho xã, thôn bản nghèo. Tiếp tục chương trình đầu tư cơ sở hạ tầng thiết yếu, ngoài khu vực Tây bắc, Tây nguyên, xã bãi ngang ven biển hướng tới các xã vùng sâu ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long…

Thứ tư, nhân rộng các mô hình , kinh nghiệm giảm nghèo hiệu quả. Trên thực tế hiện nay khu vực nào, vùng nào cũng có những mô hình hiệu quả hay, các chương trình dự án xoá đói giảm nghèo có hiệu quả nhưng chưa được địa phương quan tâm chỉ đạo và nhân rộng. Có vùng, bộ phận dân cư phải theo hướng cầm tay chỉ việc vì trình độ dân trí thấp, thiếu kỹ năng.

Thứ năm, phân công trách nhiệm cho các Bộ chức năng giúp đỡ chỉ đạo các tỉnh có tỷ lệ nghèo cao, không chỉ đi kiểm tra tình hình thực hiện các mục tiêu giảm nghèo, còn tham gia chỉ đạo, huy động sức mạnh của Bộ, ngành để giúp cho địa phương đó. Định kỳ có báo cáo Chính phủ, có cơ chế chính sách động viên khuyến khích các doanh nghiệp tham gia chương trình giảm nghèo ở vùng nghèo cao như miễn giảm thuế doanh thu để doanh nghiệp đầu tư vào các vùng nghèo, hỗ trợ phát triển sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, đầu tư hạ tầng cơ sở.

Thứ sáu, phải kiện toàn tổ chức cán bộ của các cấp, các ngành, đặc biệt là địa phương cơ sở làm công tác giảm nghèo, không ngừng nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác giảm nghèo ở cấp xã, cấp huyện đặc biệt các xã nghèo, các xã vùng sâu vùng xa có đông đồng bào dân tộc thiểu số. Gắn kết thực hiện chương trình giảm nghèo với thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, tăng cường phân cấp cho cơ sở, tạo cho cơ sở chủ động trong qúa trình lập kế hoạch, điều hành quản lý các hoạt động của chương trình giảm nghèo. Các xã có tỷ lệ hộ nghèo cao phải có cán bộ chuyên trách làm công tác giảm nghèo, cán bộ khuyến nông để hướng dẫn, giúp đỡ cho người dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi hiệu quả, tăng thu nhập, giảm nghèo bền vững.

Thứ bảy, đẩy mạnh hợp tác quốc tế để huy động và sử dụng có hiệu qủa sự hỗ trợ về kỹ thuật, kinh nghiệm và các nguồn lực cho thực hiện các mục tiêu giảm nghèo bền vững năm 2008 và những năm tiếp theo.

TS. Đàm Hữu Đắc Thứ trưởng Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội

Tổng kết Dự án “Xoá đói giảm nghèo thông qua tăng cường năng lực Công tác xã hội và sức khoẻ”



Tổng kết Dự án “Xoá đói giảm nghèo thông qua tăng cường năng lực Công tác xã hội và sức khoẻ”
Chiều ngày 1/11/2007, tại Hà Nội, Trường Đại học Lao động Xã hội phối hợp với Trường đại học Memorial Newfoundland, Canada tổ chức Tổng kết dự án “Xoá đói giảm nghèo thông qua tăng cường năng lực Công tác xã hội và sức khoẻ”. Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Đàm Hữu Đắc chủ trì Hội nghị. Tham dự tổng kết có GS.TS. Lan Trần Gien- Giám đốc dự án, PGS.TS. Nguyễn Tiệp - Hiệu trưởng trường Đại học Lao động Xã hội, đồng Giám đốc dự án cùng đại diện Ban điều hành dự án và những người đã được hưởng lợi từ dự án.
Dự án “Xoá đói giảm nghèo thông qua tăng cường năng lực Công tác xã hội và sức khoẻ” nhằm mục đích nâng cao chất lượng đào tạo cho các nhân viên xã hội và các nhà đào tạo CTXH. Việc thực hiện mục tiêu của dự án thông qua các hoạt động chính, bao gồm việc cung cấp các nguồn sách cho thư viện, các thiết bị dạy học và làm việc, đào tạo chuyên sâu ở Việt Nam cho các giáo viên dạy công tác xã hội và cho các cán bộ xã hội được lựa chọn; chương trình đào tạo cao học cho các giáo viên dạy công tác xã hội được chọn; và thành lập trung tâm thực hành công tác xã hội để phục vụ trực tiếp cho mọi người trong cộng đồng. Các hoạt động này sẽ được kết hợp chặt chẽ trong tất cả các thành phần của dự án.

Sau 8 năm được triển khai, dự án đã thu được nhiều kết quả hết sức to lớn như: đào tạo được 10 thạc sỹ Công tác xã hội cho trường Đại học Lao động – Xã hội, hàng chục giảng viên tham dự khoá tập huấn 8 tháng về Công tác xã hội, 12 khoá tập huấn với phương pháp cùng tham gia được thực hiện cho 372 cán bộ xã hội cộng đồng, 48 cán bộ xã hội tại cơ sở được tham dự khoá tập huấn công tác xã hội 8 tháng...; thông qua dự án, trường Đại học Lao động – Xã hội đã xây dựng được chương trình đào tạo công tác xã hội lần đầu tiên được công nhận tại Việt Nam, thành lập được trung tâm thực hành Công tác xã hội, góp phần thực hiện các hoạt động nâng cao năng lực nghiên cứu của cán bộ giảng dạy của Trường, cung cấp tài liệu và thiết bị phục vụ giảng dạy, học tập và nghiên cứu về công tác xã hội, tổ chức các hội thảo chia sẻ kinh nghiệm về đào tạo công tác xã hội và thực hành ...

Phát biểu tại hội nghị, Thứ trưởng Đàm Hữu Đắc đánh giá cao sự hợp tác của 2 trường Đại học, hoanh nghênh những thành quả của dự án đặc biệt là những thành quả liên quan đến đào tạo. Thứ trưởng mong muốn tiếp tục có những bước tiến mới về sự hợp tác tiếp theo, đặc biệt là hợp tác trong đào tạo, liên kết đào tạo, trao đổi giảng viên, học viên.

Thay mặt Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Thứ trưởng Đàm Hữu Đắc đã trao và gắn Kỷ niệm chương cho GS.TS. Lan Trần Gien để vinh danh và khẳng định những kết quả mà dự án đã đem lại, Thay mặt Nhà trường, PGS.TS. Nguyễn Tiệp đã trao tặng giấy khen đối với GS. TS. Lan Trần Gien, GS.TS. Sharon Taylor, GS.TS. Ken Barter. Hội nghị kết thúc trong không khí hân hoan với những thành quả đã đạt được, nó cũng mở ra một khả năng mới phát triển sự hợp tác trong tương lai của không chỉ 2 trường Đại học mà còn là sự hợp tác rộng rãi giữa trường Đại học Lao động – Xã hội và các trường đại học khác trên thế giới./.

Đăng Doanh