Hiển thị các bài đăng có nhãn công tác xã hội với trẻ em. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn công tác xã hội với trẻ em. Hiển thị tất cả bài đăng

23 tháng 4, 2008

Nghề công tác xã hội với bảo vệ và chăm sóc trẻ em ở Vương quốc Anh


Nghề công tác xã hội với bảo vệ và chăm sóc trẻ em ở Vương quốc Anh
Lịch sử hình thành nghề công tác xã hội hướng đến bảo vệ trẻ em Lịch sử phát triển công tác xã hội ở nước Anh được xuất phát từ ý tưởng đầu tiên là lòng từ thiện. Để làm việc thiện, các giáo phái và nhóm người đã trợ giúp cho người nghèo trực tiếp tiền, thực phẩm, quần áo.... Cho đến thế kỷ thứ 19, khi cuộc cách mạng công nghiệp bùng nổ thì cũng là lúc các hoạt động từ thiện đã bắt đầu chuyển thành một nghề chuyên nghiệp gọi là nghề công tác xã hội ( CTXH) có mục tiêu nhằm giải quyết những vấn đề xã hội bức xúc của chủ nghĩa tư bản, đặc biệt là vấn đề nghèo đói và bất bình đẳng xã hội. Cùng với sự phát triển nhanh của kinh tế, các vấn đề xã hội phức tạp nảy sinh ngày càng nhiều, CTXH ngày càng phát triển nhằm đối phó với các vấn đề lớn như: điều kiện sống của người di cư từ nông thôn ra thành thị, tệ nạn xã hội, tình trạng trẻ em lang thang, kiếm sống trên đường phố, tệ bóc lột lao động và lạm dụng tình dục trẻ em....Từ đó, Chính phủ Anh bắt đầu nghiên cứu và ban hành các chính sách, pháp luật để chỉ rõ trách nhiệm của gia đình, chính quyền địa phương đối với lĩnh vực này.
Sau chiến tranh thế giới thứ 2, Chính phủ Anh ngày càng quan tâm nhiều hơn đến chính sách chăm sóc, bảo vệ trẻ em bị bỏ rơi và trẻ em bị lạm dụng. Đến những năm 1970-1980, đã có những điều luật cấp cơ sở, có các uỷ ban và các văn phòng bảo vệ trẻ em.... Sau đó, để nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan có trách nhiệm, Chính phủ đã cơ cấu lại và quy định trách nhiệm rõ ràng của các cơ quan như hội đồng dịch vụ xã hội, y tế, giáo dục, cảnh sát, toà án, cũng như trách nhiệm làm việc theo đội liên ngành, đồng thời thiết lập cơ sở dữ liệu điện tử trẻ em “nhạy cảm” trong đó chứa đựng các thông tin chi tiết của từng trẻ (11 triệu trẻ em) nhằm giúp cho các cơ quan điều phối công việc với gia đình tốt hơn, hoàn thiện công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.
Ngày nay, dịch vụ chăm sóc xã hội trẻ em ở Anh được tập trung vào việc thúc đẩy hạnh phúc của trẻ em. Đó là những trẻ em có nhu cầu bảo vệ “in need” hoặc trẻ em trong danh sách chăm sóc “looked after”, đó là những trẻ được nhận nuôi, làm con nuôi hoặc trẻ em trong các nhà chăm sóc trẻ em (residential care), bao gồm cả cha mẹ và trẻ em khuyết tật cần sự giúp đỡ. Hiện tại, con số trẻ cần bảo vệ là khoảng 400.000 em, trong đó số nằm trong danh sách chăm sóc là 300.000 em. Các công việc chăm sóc xã hội trẻ em thường bao gồm: Bảo vệ trẻ em bị xâm hại và bị sao nhãng; Cung cấp gia đình nhận nuôi, nhà chăm sóc trẻ em và con nuôi; Hỗ trợ các gia đình trẻ và trợ giúp các gia đình có trẻ khuyết tật trong thời gian nghỉ ngơi. Và 5 định hướng ưu tiên cho trẻ là: Nơi ở an toàn, Sức khoẻ, ước mơ và hiện thực hoá, Huy động sự đóng góp và Hướng tới sự thành đạt.
Khuôn khổ pháp luật và bộ máy phát triển công tác xã hội
ở nước Anh đã có một khuôn khổ pháp luật hoàn chỉnh liên quan đến quản lý, tác nghiệp và giám sát các hoạt động nghề CTXH, được thể hiện trong 3 văn bản quan trọng. Đó là Luật tác nghiệp cho nhân viên chăm sóc xã hội; Luật tác nghiệp cho chủ thuê nhân viên chăm sóc xã hội và Bộ tiêu chuẩn nghề CTXH. Bộ luật Tác nghiệp cho chủ thuê nhân viên chăm sóc xã hội quy định trách nhiệm của chủ thuê trong việc điều hành nhân viên chăm sóc xã hội. Theo đó, các chủ thuê phải tuân thủ các tiêu chuẩn được thể hiện trong bộ luật, giúp các nhân viên chăm sóc xã hội đáp ứng được và được phép thực hiện một số hành động cần thiết khi các nhân viên không đáp ứng được các tiêu chuẩn đạo đức như bộ luật quy định. Bộ luật Tác nghiệp cho Nhân viên chăm sóc xã hội là một danh mục các tiêu chuẩn đạo đức và thực hành nghề nghiệp quy định cho các nhân viên khi họ thực hiện các công việc hàng ngày.
Hai bộ luật tác nghiệp được Quốc hội Anh phê chuẩn vào tháng 9/2002 được thiết kế theo hướng bổ sung cho nhau và quy định các trách nhiệm chung của chủ thuê và nhân viên chăm sóc xã hội trong việc đảm bảo các tiêu chuẩn phục vụ xã hội cao. Cùng với Bộ tiêu chuẩn nghề CTXH, ba văn bản nói trên tạo thành một hệ thống các quy định cho việc hành nghề chăm sóc xã hội được áp dụng trong phạm vi 4 quốc gia thuộc Vương quốc Liên hiệp Anh.
Nhằm bảo vệ và chăm sóc trẻ em, vị thành niên ở Anh đã hình thành được một hệ thống chính sách chuẩn đóng vai trò là khuôn khổ dịch vụ quốc gia cho trẻ em, người trẻ tuổi và những dịch vụ cho sản phụ
Khuôn khổ dịch vụ quốc gia cho trẻ em bao gồm các tiêu chuẩn y tế và chăm sóc xã hội cho trẻ em; các dịch vụ giải trí, dịch vụ cá nhân và các dịch vụ hoà nhập; từ lọt lòng đến tuổi trưởng thành; Khuôn khổ dịch vụ quốc gia là có tính bắt buộc và các dịch vụ được thanh tra định kỳ.
Những tiêu chuẩn chính của khuôn khổ này bao gồm: Sức khoẻ và hạnh phúc, xác định các nhu cầu và phát hiện sớm; Hỗ trợ cha mẹ và người chăm sóc; Các dịch vụ trẻ em, người trẻ tuổi và gia đình; Trưởng thành; An toàn và thúc đẩy phúc lợi cho trẻ em và người trẻ tuổi.
Cùng với đó còn có các tiêu chuẩn chi tiết khác nhằm hỗ trợ thực hiện và hướng dẫn, làm rõ các vấn đề như:Trẻ em và người trẻ bị bệnh; Trẻ em và người trẻ trong bệnh viện; Trẻ em khuyết tật, người trẻ tuổi và nhu cầu y tế; Sức khoẻ tâm thần và tâm lý hạnh phúc của trẻ em và người trẻ và việc quản lý thuốc cho trẻ em.
Để thực hiện các hoạt động gần như quản lý Nhà nước về công tác xã hội, Chính phủ Anh đã thành lập cơ quan gọi là Tổng hội đồng chăm sóc xã hội (GSCC). Cơ quan này hoạt động theo các quy định của 3 bộ: Giáo dục, Bộ Đại học và Bộ Y tế, nhưng Tổng hội đồng lại trực thuộc Thủ tướng; phối hợp với các bộ, ngành để thực thi các chỉ đạo của Thủ tướng và hoạt động mang tính chính sách, chiến lược chứ không chịu trách nhiệm. Tổng hội đồng có trách nhiệm xây dựng các tiêu chuẩn nghề CTXH như: Định nghĩa hành nghề theo các cấp độ năng lực khác nhau (kỹ năng, hiểu biết, các giá trị và tình huống); Đánh giá, giám sát đội ngũ nhân viên chăm sóc xã hội; Cung cấp cơ sở cho đào tạo ở các cấp độ khác nhau...
Tổng hội đồng cũng quy định các tiêu chuẩn cho khung đào tạo CTXH và công nhận các trường đạt chuẩn đào tạo CTXH; giám sát và thanh tra các trường đại học đào tạo CTXH và nếu ai đó đăng ký hành nghề với Tổng hội đồng (GSCC) thì có nghĩa là phải tuân thủ Luật hành nghề. Điều kiện để đăng ký là trình độ nghề nghiệp phù hợp và không có tiền án, tiền sự hình sự, đặc biệt liên quan đến trẻ em. Sau khi đăng ký thì được Tổng hội đồng cấp giấy phép hành nghề.
Hiện nay ở Anh có 1,2 triệu người làm trong lĩnh vực chăm sóc xã hội (social care), trong đó có 77.000 nhân viên CTXH làm việc trong lĩnh vực công cộng, tư nhân và tình nguyện viên. ít nhất 2/3 số người làm việc trong lĩnh vực chăm sóc xã hội là tình nguyện viên và làm việc trong khu vực tư nhân. Những người làm công việc chăm sóc xã hội và các nhân viên CTXH làm việc theo đội, vì vậy họ có thể cung cấp dịch vụ đa ngành cho trẻ em.
Về trình độ của nhân viên chăm sóc xã hội và nhân viên CTXH: 75 % tốt nghiệp đại học và cao đẳng, 25% trình độ sau đại học; 50% thời gian đào tạo lý thuyết khoa học và 50% thực hành; Chuẩn đào tạo dựa vào yêu cầu của Bộ Y tế, chuẩn nghề CTXH và Luật tác nghiệp. Nếu tốt nghiệp CTXH cơ bản thì có thể làm việc trong tất cả các lĩnh vực người già, người tàn tật, trẻ em và gia đình.
Các sinh viên theo học chuyên ngành CTXH ở Anh được cấp học bổng 3000 bảng Anh/năm và được miễn học phí. Đồng thời, phải qua phỏng vấn, đáp ứng các yêu cầu của chuẩn tuyển dụng; Số sinh viên nữ theo học ngành này là chính, số nam chỉ là 15%; Sinh viên đại học CTXH phải có 200 ngày thực hành ở cấp cộng đồng với tối thiểu là 2 nhóm công việc khác nhau, ví dụ lĩnh vực trẻ em hoặc sức khoẻ tâm thần. Nơi thực tập có thể là bệnh viện, toà án, trường học... Các chuyên ngành CTXH trong đào tạo được chia ra theo lĩnh vực chuyên sâu là:Trẻ em, người trẻ, gia đình và người chăm sóc; Sức khoẻ tâm thần; Làm việc với người lớn; Lãnh đạo và quản lý và Hướng dẫn thực hành.
Một điều đặc biệt hơn nữa là tại thủ đô nước Anh có hẳn một cơ quan chuyên trách công tác chăm sóc trẻ em gọi là Uỷ ban bảo vệ trẻ em Luân Đôn. Đây là cơ quan riêng có của thành phố này ( các tỉnh, thành phố khác không có). Mục tiêu của Uỷ ban này là tăng cường tính nhất quán của các tổ chức thành viên trong việc giải quyết các vấn đề của trẻ em; tạo động lực; xác định và tìm các biện pháp ứng phó thích hợp đối với các nhân tố ảnh hưởng; xây dựng quy trình bảo vệ trẻ em liên ngành; xây dựng chiến lược truyền thông; tạo ảnh hưởng và cung cấp thông tin cho việc xây dựng các chính sách liên quan đến BVTE. Uỷ ban này bao gồm các thành viên: Giám đốc điều hành; Đại diện của các chính quyền địa phương ( gồm 32 quận) thuộc TP.Luân Đôn; Cảnh sát trẻ em Luân Đôn....
ở thủ đô còn có một lực lượng cảnh sát duy nhất làm các nhiệm vụ từ chống khủng bố đến điều tra các vụ việc ở cộng đồng, trong đó có một Phòng điều tra xâm hại trẻ em... Trong đơn vị này có 2 bộ phận: Điều tra các vụ trẻ em chết do bị người chăm sóc giết hại và điều tra những người ham mê tình dục trẻ em và xâm hại tình dục trẻ em qua Internet. Lực lượng cảnh sát này có nhiều cách để tiếp nhận thông tin, có thể do gia đình báo, trường học, cán bộ xã hội, đường dây nóng, người dân và trinh sát; Tỷ lệ điều tra, phá án thành công là 90%.
Trung tâm chăm sóc ban ngày Akwaaba và dịch vụ chăm sóc trẻ em ở quận Hackney
Trung tâm Akwaaba là một trung tâm chăm sóc ban ngày của tổ chức phi chính phủ Barnardos. Tổ chức Barnardos được thành lập từ năm 1867, đến nay, đã có tới 383 cơ sở tương tự như vậy trên toàn nước Anh. Các dịch vụ chủ yếu được thực hiện tại các trung tâm bao gồm: tham vấn cho trẻ em bị xâm hại, các trung tâm dành cho các gia đình, các dịch vụ chăm sóc thay thế và con nuôi và trợ giúp trẻ em bị bóc lột tình dục. Quy trình chăm sóc của các Trung tâm này hoạt động theo hướng dẫn và theo các quy định về tiêu chuẩn tối thiểu do Chính phủ quy định. Tuy nhiên các trung tâm khác nhau có thể có những lý thuyết giáo dục khác nhau.
Akwaaba hỗ trợ cho trẻ em dưới 5 tuổi và gia đình của chúng và thực hiện việc chăm sóc ban ngày cho những trẻ em dưới 5 tuổi. Đối tượng được trợ giúp bao gồm phần lớn là con em của những người nhập cư và cha mẹ của các cháu - những người cần có nhu cầu trợ giúp đặc biệt về sức khoẻ tâm thần, hoặc là những người không có việc làm. Các hoạt động trợ giúp cho cha mẹ chủ yếu là dạy các kỹ năng làm cha mẹ, chăm sóc dinh dưỡng và học tiếng Anh; những kỹ năng làm việc, máy tính văn phòng để giúp họ tìm việc làm.
Trước khi đưa trẻ vào trung tâm, các nhân viên của trung tâm phải đến thăm gia đình trẻ, đồng thời làm một đánh giá CTXH để xem xét các nhu cầu cần trợ giúp để xác lập mối quan hệ với gia đình.
Tất cả trẻ em đến Trung tâm Akwaaba đều thông qua các nhân viên công tác xã hội phát hiện và giới thiệu vào. Trong trung tâm, các nhân viên làm việc theo nhóm và từng người chịu trách nhiệm chăm sóc từ 3 đến 5 trẻ, mỗi trẻ có một chế độ chăm sóc cá nhân riêng. Các nhân viên của nhóm có thể thảo luận về những ca phức tạp để tìm cách giải quyết. Mối quan hệ đó giống như giáo viên chủ nhiệm và giáo viên phụ trách các chuyên môn như giáo viên thể dục ngoài trời, tổ chức các sự kiện để thu hút các em vui trơi giải trí, hoặc giáo viên dạy vẽ, .... Vấn đề ở từng môn được quan sát, ghi chép, giúp các giáo viên trong nhóm nghiên cứu, thảo luận để có giải pháp trợ giúp phù hợp. Trung tâm này cũng cung cấp các dịch vụ chăm sóc gia đình và chăm sóc thay thế cho những trẻ cách ly khỏi sự chăm sóc của cha mẹ, những em bị xâm hại hoặc bị lạm dụng hoặc bị sao nhãng từ những thành viên trong gia đình.
Về kinh phí hoạt động, Sở Giáo dục cung cấp 55 % ngân sách của Trung tâm Akwaaba và Tổ chức Barnados trả 45% còn lại. Giáo viên phụ trách trẻ phải có kế hoạch giáo dục cho từng tuần, từng ngày cho từng trẻ. Sau 3 tháng có đánh giá đầu tiên, sau đó xây dựng kế hoạch dài hạn hơn. Và cứ sau 3 tháng lại có đánh giá lại để điều chỉnh cho phù hợp. Khi trẻ đến 5 tuổi thì phải có báo cáo chi tiết để gửi đến trường tiểu học, trực tiếp gặp nhà trường để thông báo về tình hình của trẻ để họ có kế hoạch trợ giúp phù hợp. Trường hợp đặc biệt thì có cuộc họp tay 3 (gia đình, giáo dục viên của Trung tâm và nhà trường) để có kế hoạch giúp trẻ phù hợp. Các chuyên gia của Trung tâm có thể tiếp tục hỗ trợ cho trẻ đến hết cấp 1.
Ngoài ra, một mô hình khác cần được đề cập tới là dịch vụ chăm sóc trẻ em ở quận Hackney, một quận nghèo của thủ đô. Quận có 207 ngàn người trong đó có tới 1/4 dân số là người dưới 19 tuổi, bao gồm 55.261 trẻ em, trong đó có 200 em đăng ký danh sách chăm sóc trong tổng số 450 em có nhu cầu cần trợ giúp, 90 em do Toà án quyết định phải chăm sóc đặc biệt. Điều đáng chú ý đây là quận có đông người Việt sinh sống nhất ở Luân Đôn (có đến 2000 người).
Tại đây, chính quyền địa phương rất có trách nhiệm trong việc cung cấp các dịch vụ cho người dân, bao gồm dịch vụ giáo dục và dịch vụ xã hội. Trung bình quận Hackney trợ giúp cho 2000 trẻ có hoàn cảnh đặc biệt, với đội ngũ khoảng 400 nhân viên, trong đó 138 nhân viên CTXH, 42 cán bộ quản lý còn lại là cán bộ hành chính và nhân viên hỗ trợ. Đã từ lâu, bảo vệ trẻ em là sự chia sẻ trách nhiệm và làm việc cùng nhau của các ngành và các đối tác trong quận, bao gồm: y tế, giáo dục, cảnh sát, nhà ở, các tình nguyện viên ở cộng đồng cùng các đối tác liên quan ở cấp thành phố Luân Đôn và các khu vực khác../.

TS. Nguyễn Hải Hữu &Ths. Nguyễn Văn Hồi
Vụ Bảo trợ xã hội

27 tháng 2, 2008

Công tác xã hội với trẻ em bị ngược đãi và bị lạm dụng


1. TRẺ EM BỊ NGƯỢC ĐÃI VÀ THIẾU CHĂM SÓC:
Ở Mỹ, trong sự ngược đãi có sự ngược đãi về thể chất, không được chăm sóc đầy đủ, không có được những dịch vụ y tế chăm sóc, không được khuyến khích và giúp đỡ để học, bị bóc lột để làm những công việc nặng nhọc hoặc nhiều giờ, tiếp xúc với những tình huống xã hội xấu: những vấn đề chúng ta thường nói là những vấn đề trẻ em không được quan tâm, bị bỏ bê, ngoài ra còn có những trẻ em bị ngược đãi, bị lạm dụng tình dục.
Vấn đề trẻ em không được chăm sóc đầy đủ, nội dung chính là do thiếu nguồn tài nguyên, hoặc là lỗi của cha mẹ hay người chăm sóc có khả năng nhưng không hoàn thành trách nhiệm để cho đứa trẻ có được sự chăm sóc tối thiểu, người chăm sóc không thực hiện được cho trẻ hưởng thụ được nguồn tài nguyên như y tế, dinh dưỡng, nhà ở, sự hướng dẫn, tình thương, và sự quan tâm. Đó là tình trạng trẻ hoàn toàn không có người chăm sóc hay không được chăm sóc đầy đủ. Đó không phải là hành động cố tình tạo nên sự thiệt hại cho trẻ và đó là việc thiếu hành động cần thiết cho trẻ.
Trẻ thiếu nguồn để sống sót, bao gồm cả việc thiếu sự theo dõi và hướng dẫn, thí dụ như khuyến khích trẻ đi học mỗi ngày và sự ủng hộ về mặt tình cảm đó là những vấn đề do ảnh hưởng nạn nghèo đói, cái nghèo làm cho cha mẹ thiếu khả năng cung cấp. Trẻ không được chăm sóc là trẻ tự kiếm sống lang thang, không ai kiểm soát, một số trường hợp khác trẻ không được ai giám sát, ta thấy trẻ không được ăn mặc sạch sẽ, dơ bẩn trông mất vệ sinh, những yêu cầu về sức khỏe, về nha khoa, về dinh dưỡng không được đáp ứng và từ đó dẫn đến những hậu quả về thể chất nếu trẻ không được chăm sóc ở mức độ nghiêm trọng.
Một trong những hậu quả của sự thiếu chăm sóc là trẻ không có khả năng lớn hơn. Trẻ lớn không nổi khi còn trong nôi. Nó ảnh hưởng đến khả năng phát triển tâm lý, vận động và một ảnh hưởng khác lên trẻ em là trẻ bé hoài không phát triển đầy đủ về mặt tâm lý xã hội, và điều này có thể ảnh hưởng trẻ từ 18 tháng đến 16 tuổi. Và người ta nghĩ rằng trẻ bị bỏ rơi về tình cảm tạo ra cho trẻ lớn chậm (được gọi những chú lùn tâm lý xã hội, khi trẻ nhỏ hơn sự phát triển của trẻ bình thường, thấp nhất là 5%) có những trẻ bị bỏ bê nên bộ xương không tăng trưởng, sự trưởng thành về xương, qui trình lớn lên và cứng cáp của xương chậm. Ngoài ra, trẻ có hành vi phản xã hội như hành vi hoạt động một cách thoái hóa, chúng có thể có những khó khăn trong khi nói chuyện, trong giao tiếp. Đó là những dấu hiệu của những trường hợp nghiêm trọng. Có những đặc điểm biểu hiện của cha mẹ bỏ bê con cái là cha mẹ bị sống cô đơn, cô lập. Vì sống cô độc nên cha mẹ có khó khăn trong việc tiến hành công việc hàng ngày một mình không ai giúp đỡ, đặc biệt thứ hai là họ còn giận dữ tức tối là lúc nhỏ họ không được chăm sóc đầy đủ. Vì vậy cha mẹ rất khó khăn để nhìn thấy những nhu cầu của con cái. Những cha mẹ này thường sống một tâm trạng rất trầm cảm, không đáp ứng được những nhu cầu của con cái.
Bạo hành trẻ em:
Bạo hành trẻ em là đánh đập đến nỗi trẻ bị thương tích. Cái lý do mà cha mẹ đánh là quan trọng bởi vì có sự phân chia mơ hồ giữa kỷ luật con cái và đánh đập con cái, giữa cố tình làm hại đứa nhỏ và lỡ đập con cái. Nếu cha mẹ lỡ tay thì không kéo dài, còn cố tình thì sự đánh đập kéo dài.
Hậu quả là những vết bầm trên cơ thể, những lằn xước lên da trẻ, và đôi khi cả dấu răng cắn và xương bị nứt, những vết thương trên đầu và những nội thương bên trong của ngũ tạng đứa trẻ. Ở Mỹ có những trường hợp những đứa trẻ mới sanh hay khóc làm cha mẹ bực bội, cha mẹ có thể lắc đứa trẻ quá mạnh thì đứa trẻ có thể bị tổn thương cổ, não bộ lúc lắc, có thể bị tổn thương về não và đứa trẻ có thể chết. Hiện có một cas, cha là bác sĩ, bị đưa ra toà (người mẹ sau khi sinh con đứa trẻ mới sanh khóc hoài). Hiện giờ người ta chưa xác định được ai là thủ phạm gây ra cái chết cho con, cha hay mẹ. Cas này bị lôi ra ánh sáng vì có sự nghi ngờ gắn liền khi cặp vợ chồng nầy đã yêu cầu cố giữ nó sống bằng hệ thống nhân tạo; đến khi đứa bé chết, người ta mổ xác đứa bé để xét nghiệm thì thấy não bị vỡ vụn.
Với tư cách là nhà công tác xã hội để quyết định đứa trẻ có bị bạo hành hay không chúng ta nên nghĩ đến những câu hỏi sau đây:
Điều thứ nhất:
- Có phải là đứa trẻ ở lứa tuổi đó bị đánh đập quá thường xuyên đối với lứa tuổi đó hay không?
- Có phải là đứa trẻ không chỉ bị một vết thương mà thôi, mà cùng một lúc có nhiều loại vết thương
- Có phải là loại thương tích đứa nhỏ bị là một mẫu mà thường được lập đi lập lại hay không? (thí dụ như vết phỏng)
- Vết thương mà đứa trẻ bị, có thể cha mẹ cắt nghĩa một cách không hợp lý không?
- Hãy lắng nghe kỹ cách cha mẹ cắt nghĩa (lối giải thích của cha mẹ có hợp lýkhông?)
Điều thứ hai là quan sát đến hành vi của đứa trẻ, đây là những hành vi mang tính cực đoan.
- Đứa trẻ có hành vi quá sức tuân thủ ý kiến cha mẹ: thí dụ đứa trẻ lúc nào cũng ngồi yên lặng một chỗ, đứa trẻ tránh mọi sự đụng chạm xung đột với cha mẹ, tránh không làm cha mẹ giận, lúc nào cũng quan sát canh chừng cha mẹ.
- Đứa nhỏ có tính hay gây hấn, rất đòi hỏi, sống động và đứa trẻ làm bất cứ điều gì để cha mẹ quan tâm đến nó.
- Hành vi đứa trẻ bị thay đổi vai trò, nó có những hành vi như cha mẹ lo lắng cho con cái.
- Trẻ có những hành vi rất là phụ thuộc cha mẹ để cha mẹ không có phản ứng gì cả.
Những đứa trẻ thuộc 4 dạng vừa rồi, sự phát triển năng lực của nó chậm vì năng lực của nó đã dồn vào sự đối phó với cha mẹ. (Ví dụ như ngôn ngữ của nó không được phát triển tốt).
Những đứa trẻ bị bạo hành có cách ứng đối với người lạ bằng một trong hai cách:
- Có thể đối với mọi người nó rất thân thiện hoặc hay gây hấn, nó dễ dàng làm quen với mọi người.
- Nó ngồi yên lặng thinh không tiếp xúc với ai, nó nghi ngờ mọi người.
Dấu hiệu về vấn đề ăn uống bị rối loạn.
Ta có thể thấy hành vi ăn uống của trẻ rất bình thường. Thí dụ đứa trẻ ngồi ăn uống rất lịch sự, rất hợp lý chỉ vì nó sợ bị đòn.
Cách chơi của trẻ có thể cho thấy nó bị bạo hành. Nó có thể diễn tả tình cảm của nó xuyên qua các trò chơi, nó có thể ngồi yên một chổ, tránh giao tiếp vơi trẻ khác, hoặc là chơi nhưng có tính gây hấn như để diễn tả những bực tức mà nó mang đến từ nhà. Một dấu hiệu đó là nó không thể kiểm soát được sự tiểu tiện của nó (tiểu trong quần hay đái dầm vào đêm) hoặc nó không thể kềm chế được những sự bực tức, nằm vạ, làm mình làm mẩy, làm trận làm thượng và có thể có những hành động rất bất thường.
Đặc điểm của những cha mẹ hay đánh đập con cái:
Những người này thường có những nhu cầu quan trọng là được chăm sóc vì họ chưa được chăm sóc. Họ tự đánh giá mình rất thấp, họ khiến cho người khác ruồng bỏ họ, khinh thường họ, vì họ không biết làm sao để kiếm được sự hỗ trợ và họ thấy họ không xứng đáng nhận được sự hỗ trợ khác.
Tình trạng của họ là tình trạng của cha mẹ mong muốn sự hỗ trợ của người khác. Trong khó khăn đó, họ không thể đáp ứng nhu cầu của con cái. Thường những cha mẹ này lúc bé, chính họ bị bạo hành hay bỏ rơi, họ sống cô độc, họ tự đánh giá họ thấp, họ không có được sự hỗ trợ nên sự căng thẳng này càng ngày càng cao và đổ trút sự căng thẳng lên đầu trẻ con. Và có khi cha mẹ bạo hành khó khăn nghiêm khắc với con cái, đứa nhỏ bị kiểm soát ngặt nghèo và khó khăn, đó là một phần cha mẹ tự muốn kiểm soát mình thông qua đứa nhỏ. Trong trường hợp những cha mẹ như vậy, những đứa trẻ bị tàn tật thì nếu đứa trẻ này có nguy cơ bị bạo hành nhiều hơn vì cha mẹ phải lo âu trong sự đáp ứng của trẻ này nhiều hơn. Thêm vào đó cha mẹ thường bị bạo hành lúc nhỏ cho nên họ cũng không biết cách để đáp ứng nhu cầu của trẻ như thế nào. Nếu họ không được chăm sóc lúc nhỏ thì bây giờ họ cũng không biết cách chăm sóc đứa nhỏ. Trong môi trường sống cũng có những ảnh hưởng đến những cha mẹ bạo hành trẻ con. Và trong mối liên hệ vợ chồng cũng có ảnh hưởng đến trẻ con, thường là mối quan hệ tay ba, mối liên hệ hai vợ chồng không tốt đẹp, họ dùng đứa con coi như vật tế thần để giải quyết vấn đề của họ. Trong trường hợp sự căng thẳng đến mức độ tột đỉnh và có những biến cố rất nghiêm trọng (nghèo đói triền miên, cha mẹ đơn thân, mất việc...) Trong trường hợp căng thẳng như vậy cha mẹ cảm thấy căng thẳng và bạo hành con cái. Có khi cha mẹ bạo hành con cái vì họ chưa được học kỹ năng cần thiết tối thiểu để làm cha mẹ, không biết thức ăn dinh dưỡng cần thiết và chăm sóc y tế như thế nào cả. Có nhiều cha mẹ cứ nghĩ cho ăn cho ngủ là đủ mà không quan tâm đến nhu cầu tâm lý tình cảm của trẻ. Có nhiều cha mẹ không được sự chỉ dẫn là nên nói chuyện với trẻ chứ không nên đánh trẻ.
Và những cha mẹ không có khả năng nhìn mình tách biệt ra khỏi đứa con, hoặc ngược lại. Họ thường đổ lỗi cho con. Và những cha mẹ này thiếu khả năng lý giải vấn đề cái nào được, cái nào không được. Họ khó quyết định, họ không biết chọn hướng nào để thay đổi. Và có những cha mẹ không thể nào kiểm soát được họ, họ rất nóng vội, không chờ đợi được và đánh con ngay tức thì. Nếu cha mẹ nghiện rượu hay nghiện thuốc và sự nghiện ngập của những người này làm họ bị thu hút hết sự quan tâm đến con cái, gây nên nạn bạo hành con cái.
Trong trường hợp những cas bạo hành đối với con cái nhân viên xã hội phải làm gì?
- Tìm cách thu thập thông tin càng nhiều càng tốt
- Thẩm định hoàn cảnh này
- Có chương trình mục tiêu để làm việc, tìm ra cách trị liệu để coi trị liệu này có hiệu quả không? Nếu không có hiệu quả, phải đổi cách trị liệu khác. Đôi khi chỉ cần trị liệu một thời gian ngắn, đôi khi cần một thời gian dài để giáo dục.
Những cái nhân viên xã hội cần tìm là:
- Có bằng cớ rõ ràng về nạn bạo hành con và nạn bạo hành này nguy hiểm cho trẻ, cần phải thẩm định mức độ nguy cơ của trẻ, cần phải coi đứa trẻ trong giai đoạn này có những hành vi tự hủy hoại cuộc đời nó không? Tìm rathật sự của nạn bạo hành này xảy ra lâu chưa. Cần thẩm định xem cha mẹ có ý định sửa đổi hay không, cha mẹ này có muốn ruồng bỏ con cái họ không hay họ khổ sở về bạo hành? Cha mẹ có bị khủng hoảng về mặt tình cảm tâm lý không? Cha mẹ có hợp tác tốt với bạn hay không? Cha mẹ có những vấn đề tâm lý xã hội quá nghiêm trọng không? Cha mẹ có bị cô lập và không được hỗ trợ hay không? Chính khi qui tụ được hết những yếu tố này ta có thể kết luận đứa trẻ có nguy cơ bị bạo hành hay không?
Bạn cần chỉ cho cha mẹ nhận ra những cảm giác của chính họ và những sự kiện nào xảy ra đã dẫn đến bạo hành; cần chỉ cho cha mẹ những dấu hiệu báo động trước khi bạo hành xảy ra để họ có thể học được những kỹ năng khác thay thế, để ứng phó với sự giận dữ trong lòng một cách khác đi. Chỉ cho họ biết cách phán đoán về mình. Nếu cha mẹ dốt nát, ta cũng dạy cho họ cách dạy con. Đối với những cha mẹ có khó khăn trong cách diễn tả bằng lời nói đối với con ta hướng dẫn cho họ cách nói chuyện, trao đổi với con, nên dạy họ các kỹ năng quản lý con cái sao cho thích hợp và điều duy nhất là dạy họ tổ chức một môi trường sống thích hợp hơn.
Ta có thể đem đến cho họ nguồn tài nguyên từ cấp vĩ mô, có thể đem đến cho họ một bác sĩ để chăm sóc cho đứa trẻ.
Tìm cách để cha mẹ vươn lên không bị cô lập, giúp họ nói chuyện với cha mẹ bạn bè, và dạy cha mẹ kỹ năng để kiểm tra chính mình để chống lại sự giận dữ và đồng thời dạy cho trẻ em thấy những gì xảy ra không phải lỗi tại nó để nó có thể chấp nhận được chuyện đó. Nếu sự giúp đỡ của họ không hiệu quả, bạn có thể nhớ tới sự hỗ trợ của cộng đồng, tòa án.

2. LẠM DỤNG TÌNH DỤC TRẺ EM
Định nghĩa: Lạm dụng tình dục bao gồm sự tiếp xúc (tương tác) giữa đứa trẻ và người lớn, trong đó đứa trẻ bị kích thích tình dục cho người khác, trẻ từ 18 tuổi trở xuống. Khi người lớn, lớn hơn trẻ 5 tuổi trở lên và người đó có quyền lực trên đứa nhỏ. Người lớn có quyền lực trên đứa nhỏ này, sử dụng quyền lực của họ để thoả mãn tình dục và giúp người khác thoả mãn tình dục.
Loạn luân là một hình thức đặc biệt của lạm dụng tình dục, là sự tiếp xúc, hay sự giao hợp giữa một đứa nhỏ và một thành viên trong gia đình không phải là người phối ngẫu. Lạm dụng tình dục cũng có thể là những hình ảnh khiêu dâm hay những cử chỉ mang tính tình dục, hay người lớn phô bày bộ phận sinh dục của mình, hay vuốt ve sờ mó bộ phận sinh dục, tình dục bằng miệng, giao hợp và bất cứ hình thức tiếp xúc sinh dục nào khác. Trong mối quan hệ mang tính loạn luân, không chỉ là những người có quan hệ máu mủ mà có thể là người không phải ruột thịt như cha ghẻ, dượng ghẻ, cô dì chú bác, người tình của cha mẹ. Trẻ có nguy cơ nhiều hơn đối với những người trẻ quen biết, tin cậy. Trẻ thì dễ bị lạm dụng tình dục vì chúng không có cơ sở thông tin để hiểu biết, không có chỗ nào để dựa, vì chúng nhỏ nên chúng sợ và đứa nhỏ nằm dưới sự kiểm soát của người lớn, nó muốn được làm vui lòng người lớn, nó nuốn được chăm sóc, muốn được có cảm giác an toàn. Ở Mỹ, 60% lạm dụng tình dục trẻ em xảy ra trong gia đình và phần lớn các trường hợp còn lại là do những người quen biết và những người lạm dụng tình dục trẻ em thường là những người thích làm tình với trẻ em. Trong gia đình có thể có mối quan hệ loạn luân giữa anh em, có khi đứa trẻ bị đối phó với những căng thẳng từ nhiều người, không có sự an ủi, có khi là anh truyền em nối, và thường là sự loạn luân giữa anh em nghiêm trọng hơn là trường hợp vi phạm là người lớn. Mối quan hệ loạn luân thực hiện theo các bước:
1. Bước đầu: người lớn (người vi phạm) thăm dò xem họ có thể tới gần đứa nhỏ không và đứa nhỏ đáp ứng thế nào?
2. Nếu trẻ có vẻ cởi mở, họ bước tới một bước là giao hợp. Từ từ dần tới mối quan hệ sâu sắc hơn về tình dục.
3. Và họ tìm cách làm cho đứa trẻ phải giữ bí mật, bằng cách họ hăm dọa hoặc đổ tội cho đứa trẻ hoặc nói đây là chuyện riêng của mình để dấu diếm sự việc.
Và nếu trẻ cho biết tình hình này thì sẽ có sự phát hiện. Sự phát hiện này có thể do sự tình cờ, đứa bé không nói nhưng một ai đó hay gia đình có thể phát hiện. Và sự phản ứng của sự phát hiện này có thể tạo ra sự căng thẳng cho gia đình và trẻ. Người phạm tội luôn luôn chối, đứa trẻ cảm thấy là đứa tội lỗi, bất an. Gia đình có thể giận dữ với trẻ và người vi phạm. Cảm thấy tội lỗi vì không bảo vệ được trẻ. Có nhiều gia đình lờ luôn không muốn quan tâm đến vấn đề.
Có những kết cấu trong gia đình đặt đứa trẻ trong cảnh nguy cơ. Gia đình này bị xã hội cô lập, có khi ranh giới gia đình không rõ ràng, hành vi của người cha đối với đứa trẻ không được bình thường lắm, hay là trong phòng không đóng cửa, hình như trong gia đình này không ai tôn trọng sự riêng tư của người khác, hoặc ngược lại có biểu hiện của sự bí mật, có sự dấu diếm. Có tình trạng những đứa con gái bị lạm dụng tình dục nhưng không được sự quan tâm của chính người lạm dụng tình dục. Có khi người cha lạm dụng tình dục đứa con mà người mẹ lại giận dữ với con. Người mẹ và con có khoảng cách với nhau, có mâu thuẫn giữa cha và mẹ. Người cha và con gái có sự quan hệ thân thiết dẫn đến có sự quan hệ tình dục. Vì mối quan hệ tâm lý giữa mẹ và con đã thiếu rồi cho nên khi có chuyện quan hệ tình dục, đứa con không nói với mẹ được nên người mẹ rất là giận con, cho nên không thể giúp con được.
Một nguy cơ khác là khi nào có người dượng ghẻ trong gia đình, khi mẹ bệnh hoạn vắng nhà cũng là một yếu tố nguy cơ khác.
Rượu cũng là một yếu tố khác và có nhiều khi chính kẻ lạm dụng tình dục lại có một lịch sử bị lạm dụng. Đó là một nhân tố lớn, nguy cơ lớn cho đứa trẻ bị lạm dụng tình dục.
Đây là một vài đặc điểm của người cha lạm dụng tình dục:
Ông ta thường là người nhút nhát, khiếm khuyết kỹ năng giao tế, và ông ta có thể có những khó khăn trong việc bộc lộ với vợ, thường đánh giá mình thấp hơn vợ, anh ta lại ngả về đứa con gái, với con anh ta cảm thấy an toàn. Đứa con gái này không quyền lực gì và nó có tình thương đối với cha. Đứa con gái là nơi anh ta trút vấn đề của ông ta. Người vợ thường là những trầm cảm, xuống tinh thần và thường người mẹ không muốn tự khẳng định mình để bênh con. Phần lớn bà ta phụ thuộc chồng về tình cảm và bà ta không dám đối đầu với anh ta vì sợ mất tình thương của ông ta. Thường những bà mẹ này nói không biết vì không đủ sức đối phó vấn đề. Đó là những cuộc hôn nhân có vấn đề và cả hai đều sợ rằng nếu chuyện này bị phát hiện thì cuộc hôn nhân bị tan rã. Và chuyện này được bộc lộ thì đứa nhỏ chịu một gánh nặng, đứa trẻ sống trong sự căng thẳng đôi khi đứa trẻ nghĩ mẹ nó giận nó vì nó dành chồng của bà, và họ cảm thấy xấu hổ vì điều cấm kỵ quan trọng đã bị phá vỡ.
- Người vợ cảm thấy xấu hổ vì thấy mình bị mất vai trò làm vợ, bà sợ đánh mất chồng, và sợ gia đình tan rã.
- Đứa con xấu hổ vì nó nghĩ nó là đứa con tội lỗi.
- Và có nghi vấn không biết người cha có xấu hổ không? Có một sự khó khăn nếu như người cha cố tình đẩy sự rắc rối của mình vào vô thức. Khó để cho sự xấu hổ được bộc lộ ra. Trường hợp sẽ tốt hơn nếu sự loạn luân được phát hiện mà ông ta cảm thấy xấu hổ, ăn năn thì ông ta sẽ được giải phóng về gánh nặng tâm lý và người mẹ rất xấu hổ vì không bảo vệ được con mình, họ thiếu kỹ năng chăm sóc con. Đôi khi đứa con giận mẹ vì mẹ không bảo vệ được nó.
Các dấu hiệu và đặc điểm về hành vi lạm dụng tình dục:
- Bệnh về tình dục: có những vấn đề ở cổ, ở miệng, đi tiêu khó, những sự xuất tinh, ra chất nhờn nhiều và có những vết bầm trên bộ phận sinh dục và có sự mang thai mà không cắt nghĩa được, mà đương sự không muốn trao đổi.
Những hành vi mà chúng ta phát hiện được sự lạm dụng là:
- Có một sự thay đổi nào đó ở trẻ, trẻ đó có thể tự khép kín, hay rất hung hãn hay bị trầm cảm, thay đổi ứng xử với anh em, đứa trẻ có những hành vi về tình dục không thuộc lứa tuổi của nó, hay đột ngột thấy đứa trẻ sợ người đàn ông khác rờ vào nó. Trẻ không tỏ ra sợ hãi phải ở một mình với một người nào đó hay không muốn thấy mặt một người đàn ông và có thể gợi cho chúng ta cảm thấy nó có một bí mật mà nó không muốn nói cho mình nghe, hay khi nhắc đến tên ai đó đột nhiên nó bỏ đi. Đó là những dấu hiệu có điều gì đó đã xảy ra.
Hậu quả lâu dài của lạm dụng tình dục:
Hậu quả lâu dài này sẽ phụ thuộc nhiều yếu tố khác nhau, nếu sự lạm dụng kéo dài, hậu quả sẽ quan trọng hơn nếu có nhiều hơn một biến cố, nếu người vi phạm là một người cha và một người được xem như cha, nếu người vi phạm sử dụng sức mạnh thì hậu quả có thể nghiêm trọng hơn khi kẻ vi phạm là một người đàn ông lớn tuổi so với người anh em. Kết cục mang tính nghiêm trọng (gia đình khủng hoảng, trẻ bị đưa đi nơi khác) hậu quả lâu dài sẽ nghiêm trọng hơn. Một vài biểu hiện của hậu quả lâu dài là mại dâm, nghiện thuốc phiện, rượu và vài dấu hiệu khủng hoảng trục trặc về tình dục, có những khó khăn về sự thân mật gần gũi với người khác phái, hay có sự nghi ngờ thiếu tin tưởng, họ tỏ ra không có tình cảm, trầm cảm đôi khi có hành vi rất hung hãn và họ có xu hướng lựa chọn người có xu hướng lạm dụng và sau đó cũng có xu hướng chọn kẻ lạm dụng tình dục cho con mình.
Vai trò của nhân viên xã hội thế nào nếu có cas lạm dụng tình dục là loạn luân thì ta phải làm gì?
Chúng ta nên nhớ rằng khi những cas này được phát hiện thường có những tình cảm rất mạnh mẽ, rất phức tạp như giận dữ, xấu hổ... Khi gia đình công nhận điều này, ta nên giúp họ biểu lộ sự quan tâm và sự hỗ trợ lẫn nhau quan tâm vấn đề, ranh giới để tổ chức nó lại, vì chính sự không rõ ràng ranh giới đã dẫn đến tình trạng này. Chúng ta nên xây dựng mối liên hệ giữa người vợ và người chồng thay vì người chồng với đứa con gái và mẹ với đứa con khác.
Các bạn giúp họ cải tiến truyền thông trong gia đình. Ví dụ như người cha không nói lên cảm nghĩ của mình, người mẹ không bộc lộ được cảm xúc của mình.
Có một sự khác biệt giữa hai trường phái:
- Một phái chỉ làm việc với trẻ bị lạm dụng (trẻ nạn nhân).
- Một phái làm việc với cả gia đình (đặc biệt là với người vi phạm).
Nếu có thể được, tốt nhất ta nên làm việc với cả gia đình, và trong đó giúp cho kẻ vi phạm được trị liệu tốt. Nhưhg điều này không phải luôn luôn là dễ dàng. Nếu ta làm việc với nạn nhân, giúp họ đừng đổ lỗi cho bản thân mình, và giúp họ nhận được, ý thức được hay bộc lộ một cảm xúc đó mà họ tự che dấu từ lâu.
Có thể sự việc xảy ra đó là cách của nó tìm ra sự thương yêu, ta có thể giúp nó thỏa mãn nhu cầu của nó bằng nhiều cách khác. Tạo nên sự tin tưởng đối với đứa trẻ bị lạm dụng đây là việc làm tốt, nhưng cần phải có thời gian. Ta nên làm những việc nhỏ để có sự thành công liền. Trẻ này thường khó tin tưởng bạn, nên bạn phải kiên nhẫn, phải luôn luôn sẵn sàng hiện diện khi nó cần.
Phòng ngừa: (bằng cách giáo dục cho các thành viên trong gia đình nhận rõ ranh giới).
Bạn phải thông tin giáo dục cho cả cha mẹ và trẻ em để họ biết trả lời không, cha mẹ phải hiểu rằng con có quyền của mình. Cha mẹ nên giúp đỡ con biết tránh môi trường nguy hiểm. Giúp cho cha mẹ có kỹ năng biết trao đổi với con để con cũng có thể bộc lộ với họ. Giúp cho gia đình đó có mối quan hệ tương tác.

Tiến sĩ Mary Ann Forgey và Tiến sĩ Carol S.Cohen

25 tháng 2, 2008

Công tác xã hội với trẻ em và gia đình


Khái niệm “Công tác xã hội với trẻ em và gia đình”

Công tác xã hội với trẻ em và gia đình là một phần trong các lãnh vực chuyên biệt của ngành công tác xã hội với mục tiêu đem lại sự hỗ trợ cho trẻ em trong hoàn cảnh khó khăn, giúp bảo vệ trẻ em và gia đình và góp phần vào nền an sinh cho trẻ em và gia đình.

Công việc của Công tác xã hội là huy động các nguồn lực giúp đỡ gia đình thực hiện vai trò trong khả năng giới hạn của họ. Theo Beatrice Pompy, nhân viên xã hội có trách nhiệm xác định những rối loạn của trẻ, của cha mẹ, đánh giá cho được khả năng và hạn chế của họ và qua đó, nhân viên xã hội phải làm việc bằng các giác quan, trực giác, bằng quan sát cá nhân, với sự hiểu biết và kinh nghiệm trong quá trình nghề nghiệp, về nhận thức vấn đề. Nhân viên xã hội khi can thiệp giúp đỡ trẻ em và gia đình trẻ có vấn đề thường mang theo những quá khứ thời thơ ấu xa xưa của mình , tình cảm, cảm xúc riêng tư của mình bên cạnh những kỹ năng chuyên nghiệp. Vì thế mà công tác xã hội với nói chung và công tác xã hội với trẻ em và gia đình nói riêng là một công tác vô cùng khó khăn, một công tác đòi hỏi phải luôn được đào tạo mỗi khi tiếp xúc với đối tượng.

1. Công tác xã hội với trẻ em
Công tác xã hội với trẻ em bao gồm những nội dung như sau :
- Các chức năng của công tác xã hội và các nhu cầu đặc biệt của trẻ em : trị liệu, hỗ trợ, phục hồi, bảo vệ liên quan đến trẻ em có nhu cầu đặc biệt.
- Các lãnh vực thực thi công tác xã hội với trẻ : cộng đồng, trường học, bệnh viện, các cơ sở xã hội.
- Các vai trò của nhân viên xã hội trong công tác xã hội với trẻ em
2. Công tác xã hội với gia đình
Công tác xã hội với trẻ em được thực thi trong bối cảnh gia đình, môi trường sống toàn diện của trẻ, do đó công tác xã hội với gia đình gắn bó chặt chẻ với các vấn đề của trẻ em:
- Thực hành công tác xã hội lấy gia đình làm trọng tâm : con người trong bối cảnh toàn diện ( môi trường sống ).
- Công tác xã hội trước các vấn đề của gia đình : Gia đình đơn thân, gia đình bạo lực, gia đình tội phạm, gia đình lạm dụng trẻ em..
- Các vai trò của nhân viên xã hội trong các dịch vụ gia đình.
- An sinh nhi đồng và gia đình.


1. Tìm hiểu trẻ em và gia đình của trẻ

Muốn có sự hiểu biết về tình trạng của trẻ, nhân viên xã hội cần phải vãng gia để khảo sát môi trường sống của trẻ và cha mẹ. Những vấn đề mà nhân viên xã hội cần quan tâm trong bối cảnh gia đình thông qua các mối quan hệ ví dụ như :

- Cha - mẹ : Sự không hài lòng của họ về trẻ, những bất hòa trong các quyết định, những khó khăn trong quan hệ vợ chồng..
- Cha mẹ - đứa trẻ : Cách giải quyết những khó khăn, thất vọng vì trẻ vô tích sự..
- Trẻ em – Cha mẹ : Trẻ oán giận vì bị xem lúc nào cũng là trẻ con, những than phiền vì những bất công..
- Trẻ - trẻ : Sự kình địch giữa anh chị em ruột, ganh tị nhau.

Thân chủ của nhân viên xã hội có thể là một trong những người này - một đứa trẻ từ chối đi học, cha hoặc mẹ tức giận hoặc buông xuôi hoặc tất cả các thành viên gia đình cảm thấy buồn bã. Nhân viên xã hội có thể tìm hiểu ở khu xóm, tại trường học hoặc ở các tổ chức trong cộng đồng. Ai là thân chủ là một câu hỏi khó được trả lời.
Có nhân viên xã hội thích gặp tất cả các thành viên trong gia đình khi phỏng vấn, có người thích gặp cha mẹ trước với hoặc không có sự hiện diện của trẻ. Tiến trình tìm hiểu là một tiến trình quan sát, hỏi và lắng nghe. Để khám phá “cái gì”, nhân viên xã hội cần có những kỹ năng quan sát, đặt câu hỏi và lắng nghe khi tiếp cận gia đình. Cuộc gặp gỡ này là một mối quan hệ tương tác, một tiến trình của gia đình đi tìm sự can thiệp hoặc sự hỗ trợ và nghiệp vụ chuyên môn nhằm làm rõ vấn đề.
Hilton Davis (1985) đã đưa ra ba mô hình trong một quyển sách về trẻ em với những nhu cầu đặc biệt : mô hình chuyên gia, mô hình khách hàng và mô hình ghép :

· Theo mô hình chuyên gia, nhà chuyên môn tự cho mình là trên hết do mình là chuyên gia, có trách nhiệm và phải có quyết định. Thân chủ tương đối thụ động, cần lời khuyên và thực hiện theo lời phán của chuyên gia.
· Theo mô hình khách hàng, thân chủ có quyền chọn lựa cái gì họ tin là phù hợp với các nhu cầu của họ, nhà chuyên môn chỉ vai trò tư vấn.
· Theo mô hình ghép hay còn được gọi là mô hình đối tác, nhà chuyên môn có tự xem mình là chuyên gia, nhưng có chia sẻ, trao đổi với phụ huynh và với những nhà bán hoặc không chuyên nghiệp khác để họ có thể đứng ra làm trung gian hoặc tạo thuận lợi cho trị liệu đứa trẻ hay cha mẹ đứa trẻ.

Không có mô hình nào phù hợp cho mọi vấn đề. Điều quan trọng là nhà chuyên môn phải biết sứ mệnh của mình là gì. Để giúp nhân viên xã hội khám phá vấn đề của trẻ em và gia đình chúng thì nên hướng vào các câu hỏi sau đây:

· Tôi có gặp gia đình chưa ?
· Tôi có nhìn trẻ trong bối cảnh của gia đình của nó không?
· Tôi có trao đổi hai chiều thường xuyên với gia đình không?
· Tôi có tôn trọng giá trị của gia đình không?
· Tôi có cảm nhận là gia đình có những mặt mạnh để giúp trẻ không?
· Tôi có nhận diện được các khả năng và tài nguyên của gia đình không?
· Tôi có hành động một cách trung thực nhất không?
· Tôi có cho họ nhiều lựa chọn để thực hiện điều gì đó không?
· Tôi có lắng nghe họ không?
· Tôi có nhận diện được các mục tiêu của họ không?
· Tôi có thương lượng với họ không?
· Tôi có điều chỉnh để có kết luận chung không?
· Tôi có cho rằng họ có trách nhiệm về những gì tôi làm cho con cái của họ?
· Tôi có cho rằng tôi phải cần có sự kính trọng của họ không?
· Tôi có tin tưởng là họ có thể thay đổi?
· Tôi có cố gắng nhận diện cách nhìn của họ đối với con cái của họ không?

Phần nhiều câu trả lời “có” là theo mô hình khách hàng, còn trả lời “không” là theo mô hình chuyên gai. Mô hình mà nhân viên xã hội chọn không phải chỉ do cơ quan mà nhân viên xã hội làm việc, do thân chủ đi tìm kiếm sự hỗ trợ ở cơ quan mà còn do quan điểm của bạn về con người. Cách nhân viên xã hội phân tích vấn đề và đạt ra các giải pháp phản ánh niềm tin của nhân viên xã hội về gia đình, các vấn đề của nó và mặt mạnh của nó thúc đẩy sự phát triển và thay đổi.

2. Tiếp cận vấn đề : làm việc với trẻ, thiết lập các nguyên tắc làm việc
3. Vãng gia
· Tìm hiểu môi trường sống
· Làm việc với cha mẹ
4. Phân tích vấn đề
· Điều gì đang xảy ra ?
· Tại sao nó xảy ra ?
· Điều gì sẽ xảy ra tiếp ?
5. Hỗ trợ tình cảm
6. Chuẩn bị/trao đổi với các đồng nghiệp, chuyên gia để có sự thống nhất trong phương hướng giải quyết vấn đề
7. Hiểu được ước muốn và cảm xúc của trẻ

Đối với trẻ em, trong công tác xã hội nhóm, một hình thức môi trường giúp trẻ thay đổi là chơi. Cần phân biệt chơi trong khuôn khổ và chơi không theo khuôn khổ. Chơi không theo khuôn khổ là một phương tiện truyền thông và tự bộc lộ. Nó được dùng cho các nhóm của mọi lứa tuổi, liên quan đến các nhu cầu của cá nhân và liên quan đến những người mà họ có quan hệ ở một thời điểm nhất định. Garvey (1977) nêu 5 tiêu chí để xác định trò chơi không theo khuôn khổ :

· Chơi vui, hoặc có giá trị tích cực cho người chơi
· Được thúc đẩy từ bên trong, không có mục đích bên ngoài hoặc hành động bắt buộc nào.
· Nó xuất phát một cách tự nhiên, không bị ép buộc
· Nó đòi hỏi sự tham gia tích cực bởi người chơi
· Nó có một mối quan hệ nhất định với cái “không chơi” trong thế giới thực.

Các đặc tính của việc chơi không theo khuôn khổ :

Chơi được dùng bởi người lớn để hiểu trẻ em theo 3 phương cách (Garbarino Stott, 1992) :

· Tìm hiểu mức độ phát triển và năng lực của trẻ, bao gồm phát triển nhận thức, xã hội và thể chất.
· Thu thập thông tin về cuộc sống tinh thần của trẻ - có khái niệm về trẻ cảm nhận như thế nào.
· Chơi giúp trao đổi về những trải nghiệm lo lắng

Những hoạt động bao gồm trò chơi, thi đua, kể chuyện, sắm vai, tâm kịch đều được xem là chơi theo khuôn khổ. Nhân viên xã hội sử dụng các hoạt động này để các thành viên và nhóm đạt được mục tiêu của họ, nó thường xem như là một chương trình hoạt động đã định, giúp họ “học hỏi các quy định của trò chơi”, giúp họ dịch chuyển xa hơn, tạo ra những khám phá mới, phát triển sự sáng tạo.

Thông thường, nhân viên xã hội hỗ trợ nhóm lựa chọn và sử dụng các hoạt động. Vai trò của tác viên bao gồm nhiều công việc như chọn một hoạt dộng, lên kế hoạch, khởi đầu, dạy (trường hợp nhó trẻ), hỗ trợ, điều chỉnh, điều quan trọng là tạo sự gắn kết giữa các thành viên trong nhóm và các hoạt động phải là những cơ hội khen thưởng để các nhóm viên phàn ứng một cách tích cực. Trong những trường hợp khác, nhân viên xã hội cần giúp trẻ vượt qua những hoạt động mới mẻ, chưa quen thuộc, để tập dần sự thích thú trong những gì trẻ đang làm. Trong lúc vẽ tranh hoặc lúc nặn đất sét, nhân viên xã hội thường cùng tham gia, tạo cho trẻ nhiều cơ hội tự thể hiện một cách thoải mái mà không có cảm giác là mình đang bị giám sát bời nhân viên xã hội. Vai trò của nhân viên xã hội là tạo sự ham muốn tham gia hoặc thúc đẩy người khác trở nên dấn thân hơn. Tuy nhiên đôi lúc nhân viên xã hội cũng cần kiểm soát hoặc hạn chế bớt những hành vi thái quá, trường hợp có mâu thuẫn, có nghĩa là nhân viên xã hội được phép can thiệp khi trẻ có nhu cầu.

2. Các bước tìm hiểu trẻ em và gia đình

2.1. Phỏng vấn trẻ

Phỏng vấn là một phương pháp chủ yếu để có thể tiếp cận các vấn đề của cha mẹ và của trẻ. Trước khi thâm nhập vào các vấn đề riêng tư của gia đình, bạn cần phải trả lới một cách rõ ràng nhiều câu hỏi được đặt ra:
· Tôi có quyền và được sự chấp thuận của gia đình chưa để tiến hành cuộc phỏng vấn? Vấn đề khó khăn là nhân viên xã hội thường đội hai “nón” được gọi là “chăm sóc” và “kiểm soát” và những sự can thiệp, viếng thăm không dược mong đợi như vậy thường ít được chào đón nhất là trong những trường như trẻ bị lạm dụng tình dục…
· Các mục tiêu của tôi là gì ? ( Tôi muốn tìm hiểu cái gì?)
· Ai tôi cần gặp để tôi đạt được các mục tiêu của tôi ? (Tất cả các thành viên trong gia đình ? Chỉ gặp người cha thôi ? Chỉ gặp riêng đứa trẻ? với anh chị em của trẻ ?)
· Tôi nói chuyện với ai trước? Người mẹ? Cả cha mẹ ? Có sự hiện diện của trẻ hay không?
· Tôi bắt đầu như thế nào?
· Làm thế nào để tôi bảo đảm là họ an tâm về tính riêng tư của vấn đề của họ?
· Cách nào tốt nhất để gợi ra những thông tin xác thật? Thông tin nào là xác thật?
· Làm thế nào để giúp họ không nói lạc đề hoặc lẫn tránh vấn đề chính yếu?
· Làm thế nào tôi kết thúc cuộc phỏng vấn giúp họ yên tâm và không làm cho họ lo sợ ?

Nhân viên xã hội cần lưu ý là phỏng vấn trẻ em đòi hỏi kỹ năng truyền thông, sự kiên nhẫn và tôn trọng trẻ. Trẻ nhỏ tuổi thường có giới hạn trong diễn đạt suy nghĩ của mình, mối lo sợ, tâm trạng thất vọng và những mối nghi ngờ.

2.2. Tiến trình khảo sát vấn đề

Giai đoạn 1 : Bối cảnh ban đầu

Bước 1 : Duy trì mối quan hệ làm việc hiệu quả
(a) Giải thích bạn là ai và bạn mong đợi gì
(b) Thiết lập mối quan hệ thân thiện, chuyên nghiệp (ví dụ làm việc có hệ thống)

Bước 2 : Giúp thân chủ cơ hội trình bày vấn để như họ nhận thấy
(Những câu hỏi này có thể phù hợp và hỏi trực tiếp trẻ)
(a) Bắt đầu bằng một câu hỏi mở : “Hãy cho tôi biết điều làm em
bận tâm?”
(b) Tóm lược ở khoảng cách câu chuyện mà không cắt ngang
lời nói của thân chủ :” Có thể chúng ta ngưng một lát để xem tôi
có hiểu đầy đủ những gì em nói không? Tôi muốn chắc là tôi hiểu
đúng. Như tôi hiểu là em đang quan tâm đến…Cần dành thời gian cần thiết cho thân chủ tự trình bày. Một số câu hỏi bổ sung có ích cho bước này : “Điều gì tốt lành trong tình hình hiện nay mà em đang quan tâm có liên quan đến……..(trẻ nói)? ; Nó giúp cho cuộc sống gia đình như thế nào? Có ai khác thể hiện mối quan về………..? Có ai cho đó là không đáng quan tâm không?”

Bước 3: Bắt đầu xác định rõ vấn đề
(a) Hỏi về những ví dụ gần nhất minh họa cho vấn đề: “Có thể cho tôi biết chi tiết điều gì đã xảy ra để tôi có thể nhìn rõ vấn đề? Điều gì dẫn đến sự đối kháng,hoặc vấn đề? Ai nói gì với ai? Làm làm gì đối với ai? Với những hậu quả gì? Thông thường sự cố kết thúc như thế nào? Việc sử dụng sắm vai có thể giúp ích rất nhiều.
(b) Tìm hiểu khi nào, thường như thế nào, với cường độ ra sao, trong tình huống riêng biệt nào (ai, nơi chốn, hoàn cảnh) và các vấn đề xảy đến.
(c) Khám phá những chi tiết xung quanh vấn đề. “Xảy ra bao lâu?”.
(d) “ Có cố gắng khắc phục nó như thế nào ? kết quả ra sao ?”
(e) “Có ai giúp vượt qua vấn đề không? Có ai cản trở không ?
(f) “Có lẻ em có vài ý kiến như tại sao nó lại xảy ra?

Bước 4 : Tìm hiểu hướng giải quyết mong muốn
“Tôi xin đưa ra một vài câu hỏi để giúp chúng ta làm rõ về những
gì mà chúng ta sẽ cùng làm việc. Nếu cần thiết, khi các thành viên khác trong gia đình có liên quan thì chúng ta sẽ cần tham khảo ý kiến của họ.

Bước 5 : Nhận diện chân dung vấn đề
Ghi nhận những lời than phiền và hướng mong muốn giải quyết
của các thành viên trong gia đình.

Bước 6 : Phân tích cho thân chủ suy nghĩ về những diễn biến hành vi
Phân tích theo công thức : A - B - C
Công việc này sẽ giúp chúng ta hiểu một số ảnh hưởng có ý nghĩa làm bùng nổ và duy trì mối tương tác không vui trong gia đình, cung cấp cho thân chủ một số dữ liệu thu thập thông tin và sắp xếp việc nhà.
A ( sự kiện tác động trước, Antecedent event )
B ( Hành vi phản ứng do vấn đề gạy ra – Behavior)
C ( Hậu quả xảy ra sau sự kiện – Consequence)

Bước 7 : Thiết lập các ưu tiên của vấn đề

Hỏi thân chủ cho biết mối quan tâm lớn nhất của họ là gì,
Các ưu tiên cần thực hiện để thay đổi. Thứ tự công việc có thể bị ảnh hưởng bởi những quan tâm đối với vấn đề :
- Mức độ phiền muộn
- Múc độ nguy hiểm
- Sự liên can đến đời sống gia đình hoặc từng cá nhân thành viên
- Khả năng cải thiện, thay đổi, can thiệp
- Tần số xảy ra sự kiện
- Cái giá của sự thay đổi dựa trên tài nguyên (tiền bạc, thời gian..)
- Mức độ chấp nhận của hướng giải quyết mong muốn
- Kỹ năng, tài nguyên của nhân viên xã hội, cơ quan cung cấp dịch vụ giúp đỡ.

Giai đoạn II : Khảo sát bổ sung

Bước 8 : Lập biểu đồ thế hệ
Cùng với các thành viên gia đình xây dựng biểu đồ thế hệ với các
thông tin chi tiết về vai trò và vấn đề trong cuộc sống gia đình của
từng thành viên.
Trong cuộc sống gia đình, cần chú ý các vấn đề sau :
Sự gắn kết : phản ảnh mối quan hệ trao đổi tình cảm gắn bó giữa
các thành viên và tính độc lập của cá nhân.
Các ranh giới : mô tà các thành tố thuộc hệ thống gia đình và các
thành tố thuộc môi trường, được xác định bởi các quy tắc của vai trò cá nhân. Các ranh giới có thể rõ ràng (các quy tắc đễ nhận biết và chấp nhận), không rõ ràng(mâu thuẫn, lộn xộn, thiếu vững chắc hoặc thiếu vắng), hoặc khắt khe (cứng nhắc, không thích nghi).
Sự thích nghi : cho biết một gia đình có thể thay đổi các vai trò và mối quan hệ của mình để thích nghi với ảnh hưởng của sự thay đổi.
Sự hài hòa : Các tiểu hệ thống hài hòa với hệ thống gia đình và hệ thống gia đình hài hòa với môi trường. Duy trì sự hài hoà giúp đương đầu với sự thay đổi và lo lắng, để được như vậy hệ thống phải mở.
Mở : Các thành viên trong gia đình có nhiều phương tiện để trao đổi với bên ngoài
Đóng : Rất ít trao đổi với bên ngoài
Phản hồi : Tiến trình qua đó gia đình có khả năng nhận biết và quản lý được sự tiến bộ của mình và biết điều chỉnh khi cần thiết trong việc hoàn thành mục tiêu của gia đình.

Những mâu thuẫn trong gia đình thường do những yếu tố:

- Sự hỗn độn trong tổ chức gia đình : thiếu sự tổ chức làm cho việc quản lý sự thay đổi rất khó khăn
- Tổ chức cứng nhắc làm triệt tiêu sự thay đổi khi cần có sự thay đổi hoặc có những phản ứng không phù hợp khi có sự cố.
- Khoảng cách giữa các thành viên trong gia đình quá lớn đưa đến sự cô lập về tình cảm và sức khỏe kém
- Sự gần gũi quá mức đưa đến việc mất đi tính cá biệt hóa
- Thiếu khả năng giải quyết mâu thuẫn và quyết định
- Thiếu khả năng liên kết giữa cha mẹ trong giải quyết vấn đè
- Sự liên minh giữa các thế hệ (nội hoặc ngoại) trong đối phó với vấn đề
- Thiếu giao tiếp giữa các thành viên
- Thiếu sự đáp ứng cho nhau về mặt cảm nhận

Bước 9 : Khảo sát các kỹ năng của thân chủ (động cơ, tài nguyên)
Các kỹ năng làm cha mẹ :

Tôi và con tôi
Tôi và những người quan trọng khác
Các kỹ năng tôi cần để quan hệ hiệu quả với con tôi
Các kỹ năng tôi cần để quan hệ hiệu quả với những người khác ( ví dụ như hôn phối, giáo viên, bạn bè..) có liên quan đến con tôi
· Làm thế nào để truyền thông rõ ràng
· Lắng nghe cẩn thận như thế nào để hiểu
· Phát triển mối quan hệ của tôi như thế nào
· Làm thế nào để giúp đỡ, chăm sóc và bảo vệ mà không quá đáng
· Răn dạy và duy trì kỷ luật như thế nào
· Làm thế nào để chứng tỏ và nhận lòng yêu thương
· Làm thế nào để quản lý và giải quyết mâu thuẫn
· Cho và nhận phản hồi như thế nào
· Làm thế nào để duy trì sự cân đối giữa các thái cực (ví như yêu thương mà không chiếm hữu)
· Làm thế nào để thương lượng thỏa hiệp
· Đặt ra những giới hạn hợp lý như thế nào

· Làm thế nào để khách quan đối với người khác
· Làm thế nào để không ích kỷ
· Làm thế nào để quyết đoán mà không lấn áp và gia trưởng
· Làm thế nào để ảnh hưởng đến những người quan trọng và các hệ thống (ví như trường học)
· Làm thế nào để làm việc qua nhóm (nhóm phụ huynh)
· Làm thế nào để bày tỏ cảm nhận của mình một cách rõ ràng và xây dựng
· Làm thế nào để truyền tự tin và sức mạnh nơi người khác
· Làm thế nào để nhìn nhận bạn của con tôi theo cách nhìn của con tôi.

Bước 10 (a): Hỏi thân chủ của bạn (cha, mẹ) về mục tiêu của họ đối với con cái ( tham vọng, kế hoạch)

Bước 10 (b) : Hỏi thân chủ của bạn (cha, mẹ) về mục tiêu cho chính họ

Giai đoạn III:Thu thập thông tin ở những tình huống nhất định, qua quan sát trực tiếp, phỏng vấn để có thể đánh giá sự thay đổi có được trước và sau khi can thiệp.

2.3. Lên kế hoạch cho sự can thiệp

GIAI ĐOẠN I : Lên Kế hoạch

Bước 1 : Xem xét những giải pháp không chính thức và/hoặc trực tiếp

Trước khi bắt đầu sự can thiệp chính thức, chúng ta cần có những cuộc tiếp cận không chính thức lẫn trực tiếp như :

- Tham khảo kết quả khám bệnh, ví dụ như lắng nghe vấn đề sa sút của trẻ được xem là không vâng lời, có nhiều khó khăn
- Thay đổi thói quen giờ ngủ của trẻ
- Tách riêng hai trẻ phá nhau trong lớp học
- Giao thêm trách nhiệm cho trẻ

Bước 2 : Liệt kê các mặt mạnh và các hành động tích cực của thân chủ

Bước 3 : Tìm hiểu những mong đợi của những người xung quanh thân chủ
Trong trường hợp họ có những phiền hà thì họ có thể đóng vai trò nào đó trong kế hoạch hỗ trợ thân chủ.

Bước 4 (a) : Bắt đầu những vấn đề có nhiều khả năng thay đổi thành công.
(b) : Chọn lãnh vực thay đổi phù hợp với cá nhân ; Sau khi thay đổi, những hành vi mới cần được khuyến khích và duy trì.

Bước 5 : Chọn cách can thiệp ( với những phương pháp riêng biệt). Một khi phương pháp đã được chọn lựa, cần giám sát sự tiến bộ của thân chủ.

Bước 6 : Giám sát sự tiến bộ của thân chủ
Chọn một phương pháp đo lường hoặc khảo sát hành vi liên quan đến vấn đề.

GIAI ĐOẠN II : Thực hiện

Bước 7 : Thực hiện sự can thiệp

Xem xét những gì xảy ra ở giai đoạn sớm để bảo đảm chương trình được theo dõi tốt và giải quyết được những gì không tiên liệu phát sinh. Cần tiếp xúc với cha mẹ trong 2-3 ngày của tuần đầu tiên.

Bước 8 : Đánh giá sự can thiệp

Từ những dữ liệu thu thập được về hành vi mục tiêu hoặc các thông tin khách quan khác, có thể điều chỉnh hoặc thay đổi sự can thiệp

Mẫu theo dõi diễn biến hành vi giữa người mẹ và trẻ

Thăm viếng số…….. Báo cáo :……………..Tên thân chủ :…………………

Hành vi của trẻ Thường xuyên thỉnh thoảng Không bao giờ

1. Chơi thoải mái
2. Cười
3. Chạy
4. Nói chuyện thoải mái
5. Đáp ứng với sự quan tâm
6. Nhờ sự giúp đỡ
7. ……
8. …..

Hành vi của người mẹ

1. Nói chuyện với trẻ
2. Nhìn trẻ
3. Cười với trẻ
4. Hôn trẻ
5. Vuốt ve trẻ
6. Giúp trẻ khi trẻ có khó khăn
7. Trả lời khi trẻ hỏi
8. Quan tâm đến trẻ
9. …….
10. ……


Bước 9 : Giai đoạn cuối hoặc chấm dứt trị liệu

Quyết định chấm dứt trị liệu tùy thuộc vào thân chủ, tùy vào các mục tiêu đã được xác định lúc đầu trị liệu. Những mục tiêu mới có thể phát sinh trong thời gian trị liệu.

GIAI ĐOẠN III : Theo dõi

Bước 10 : Thực hiện một bài tập theo dõi
Các câu hỏi sau đây có ích trong cuộc phỏng vấn bán cấu trúc :
· Khi nào chương trình chấm dứt?..
· .....có thể mô tả tình hình với X ra sao?
· Các hành vi mục tiêu là gí?
· Hành vi cũ có trở lại không? Khi nào? Ở đâu? thường xuyên không?
· ….có thể mô tả mối quan hệ với X ra sao?
· …có còn lo lắng về X nữa không?
· ….có nghĩ là chương trình tiến triển tốt/không tốt?
· Cha của X có thay đổi thái độ với X hay không?
· …..

Bước 11 : Đánh giá về sự phát triển

Bước 12 : Tạo điều kiện để có sự tham gia của trẻ và gia đình.

3. Các nguyên tắc hành động trong công tác xã hội với trẻ em và gia đình

Phần lớn các nguyên tắc áp dụng cho phương pháp công tác xã hội có hiệu quả đối với người lớn cũng áp dụng với trẻ em. Thấu cảm, nồng nhiệt, thành thật được cho là có hiệu quả trong mối quan hệ giúp đỡ trẻ em. Thấu cảm thật sự đòi hỏi nhân viên xã hội nhìn và hiểu đứa trẻ như là một cá nhân trong bối cảnh của riêng em và cố gắng tiếp cận quan điểm của trẻ. Đừng bao giờ tự cho mình đã hiểu trẻ trước chưa biết gì về trẻ.

1.1. Luôn luôn lấy trẻ làm trọng tâm :

Nhân viên xã hội luôn quan tâm đến trẻ trong mọi giai đoạn và mọi bước của công việc ( trẻ cảm thấy như thế nào và có thể bị ảnh hưởng như thế nào ). Nhân viên xã hội buộc phải tôn trọng đứa trẻ như một con người, quan tâm đến nhu cầu của đứa trẻ liên quan đến tuổi tác, dân tộc, tôn giáo, giới tính, khuyết tật…Dù hoàn cảnh nào đi nữa, nhân viên xã hội cũng cần phải tỏ ra tôn trọng và quan tâm đến gia đình ruột hoặc người nuôi hộ của đứa trẻ.

1.2. Cố gắng hiểu thế giới của trẻ :

Nhân viên xã hội đảm bảo rằng toàn bộ bối cảnh của trẻ sẽ cho mình biết cách làm việc với trẻ. Phải hiểu được ước muốn và cảm xúc từ chính đứa trẻ. Trẻ cần được hiểu và được cung cấp thông tin về những gì xảy ra đối với trẻ. Vấn đề là khám phá được cái nhìn của trẻ về những sự kiện ảnh hưởng đến trẻ, cái gì gây ra sự đau buồn và nguy hại nơi trẻ, những tác động ngầm của tổn thương tình cảm hay tâm lý. Nhân viên xã hội cần hình thành mối quan hệ tin tưởng, làm việc phải đúng giờ, làm những gì mình đã nói là sẽ làm hoặc giải thích vì sao không thể làm được.

3.3. Làm việc với trẻ thành công phải có sự tham gia tích cực của trẻ và của gia đình trẻ.

Nhân viên xã hội cần phải tham khảo ý kiến với đứa trẻ trước khi có quyết định vì trẻ có quyền biết và có quyền trình bày quan điểm của mình.Trẻ cần được giải thích để hiểu rõ về những quyết định khác nhau và mặc dù quan điểm của trẻ được lắng nghe, nhưng nếu quan điểm về một ý muốn nào đó có nguy cơ nghiêm trọng đối với trẻ hoặc người khác thì sẽ bị bác bỏ. Trẻ có thể tham gia trực tiếp qua các cuộc thảo luận hay vui chơi với nhân viên xã hội.

Sự tham gia tốt của gia đình càng giúp cho làm việc với được thành công hơn. Điều quan trọng là không nên làm suy yếu đi vai trò của cha mẹ để không làm đe dọa vị trí của trẻ trong gia đình.

Theo chuẩn thực hành về sự tham gia của trẻ em, sự tham gia của trẻ em là cách lối cuốn mọi trẻ em, gồm cả trẻ em có những khả năng khác nhau và trẻ em có nguy cơ tham gia một cách tự nguyện và có cơ sở vào bất kỳ vấn đề nào có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới các em. Sự tham gia của trẻ em có giá trị xuyên suốt mọi chương trình và diễn ra mọi nơi, từ các hộ gia đình cho tới mọi cấp.

Tổng quan chuẩn thực hành về sự tham gia của trẻ em :

· Một cách tiếp cận có đạo đức : Trung thực và minh bạch. Nhân viên người lớn cần có cam kết thực hiện các hoạt động có đạo đức (cân bằng về quyền lực và vị thế giữa người lớn và trẻ em) về sự tham gia của trẻ em và trước hết là vì lợi ích tốt nhất của trẻ.
· Sự tham gia của trẻ em là phù hợp và tự nguyện. Trẻ em tham gia vào những vấn đề trực tiếp ảnh hưởng đến các em và các em có quyền lựa chọn có nên tham gia hay không?

· Một môi trường thân thiện, khuyến khích sự tham gia. Trẻ em được an toàn, được chào đón và được khuyến khích tham gia.

· Cơ hội bình đẳng. Sự tham gia của trẻ em cần tránh không để có phân biệt đối xử hoặc loại trừ

· Nhân viên làm việc hiệu quả và tự tin. Nhân viên người lớn thực hiện các hoạt động có sự tham gia của trẻ em phải được đào tạo chuyên môn để có thể làm việc hiệu quả nhất.

· Sự tham gia thúc đẩy sự an toàn và bảo vệ đối với trẻ em. Các chính sách và nguyên tắc bảo vệ trẻ em là một phần không thể thiếu trong công tác có sự tham gia của trẻ.

· Đảm bảo có theo dõi đánh giá. Tôn trọng sự tham gia của trẻ em cũng có nghĩa là phải thực hiện các hoạt động phản hồi, đáp ứng hoặc đánh giá chất lượng ảnh hưởng của sự tham gia đó.

3.4. Bí mật cần được đảm bảo vì lợi ích tốt nhất cho trẻ.

Điều quan trọng là nhân viên xã hội phải nhìn đứa trẻ như chính nó, trong một môi trường mà nó cảm thấy thoải mái. Nhân viên xã hội không thể cung cấp những thông tin bí mật mang tính riêng cho những người không cần biết và nếu nhận thấy cần chia sẻ với người cần thiết thì tiến trình này phải được bàn với đứa trẻ.

3. 5. Nhân viên xã hội phải luôn luôn sẵn sàng

Điều cần thiết là khi đứa trẻ biết cách tìm đến nhân viên xã hội thì nhân viên xã hội phải luôn đáp ứng ngay tức khắc.
ThS Nguyễn Ngọc Lâm