Hiển thị các bài đăng có nhãn Công tác xã hội nhóm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Công tác xã hội nhóm. Hiển thị tất cả bài đăng

4 tháng 12, 2008

Tiến trình công tác xã hội nhóm


Tiến trình công tác xã hội nhóm
Khoa tâm lý nhóm cho biết nhóm cũng như con người có khởi đầu, trải qua giai đoạn ấu thơ, trưởng thành và kết thúc. Điều này thấy rõ ở một ủy ban đặc nhiệm được thành lập để giải quyết một vấn đề, xong việc thì kết thúc. Các tổ nhóm ở một trại hè đến cuối trại cũng chia tay nhau. Một nhóm bạn học rất thân nhưng sau khi tốt nghiệp mỗi người đi một ngã, nhóm coi như tứ tán. Cũng có thể một số nhỏ kết bạn suốt đời, cũng có thể không. Khi đi làm các bạn này lại có thể tìm ra bạn mới và lại kết thành một nhóm bạn đồng nghiệp.
Đáng quan tâm tìm hiểu hơn là diễn tiến phát triển của nhóm về mặt tâm lý. Khi nhóm bắt đầu, các cá nhân còn xa lạ, các mối quan hệ rời rạc, mục đích chung chưa thông suốt. Khi nhóm trưởng thành, có mâu thuẫn vì người ta cởi mở, thẳng thắn với nhau hơn, nhưng một khi hiểu nhau thì các mối quan hệ mới sâu sắc hơn. Có sự thông cảm hơn thì sự thống nhất ý kiến về mục tiêu cũng cao hơn. Và từ đó năng suất của nhóm cũng cao hơn. Một nhóm hành động có thể kết thúc ở đây, khi mục tiêu đạt được. Họ có thể tiếp tục quan hệ như một nhóm bạn nếu trong quá trình làm việc tình bạn đã phát triển.
Đối với các nhóm tự nhiên hay sẵn có như gia đình, nhóm bạn, băng nhóm khó xác định bước khởi đầu và sự kết thúc rõ rệt.
Các nhóm huấn luyện về năng động nhóm có thể sống từ một ngày đến vài tuần. Nhóm giải trí có thể sống một ngày trong khuôn khổ một ngày cắm trại. Nếu quan sát kỹ ta cũng thấy từ rời rạc nhóm viên đi tới gắn bó lẫn nhau. Một nhà trị liệu nhóm có thể căn cứ trên tình hình cụ thể của thân chủ có thể dự trù 3, 5, 8 hay 10 buổi sinh hoạt (hay nhiều hơn nữa).
Như đã nêu ở phần trên, trong CTXH với cá nhân, phương pháp hay công cụ giúp cho đối tượng tự khắc phục dần những khó khăn của họ là khả năng tạo mối quan hệ tốt của NVXH đối với đối tượng (đó mới là chính, còn công ăn việc làm, tiền trợ cấp, v.v... là các công cụ yểm trợ) là công cụ tạo sự tăng trưởng hay thay đổi hành vi của các đối tượng. NVXH nhóm vẫn tiếp xúc với cá nhân, vẫn phải tìm hiểu hoàn cảnh gia đình, nhu cầu, vấn đề của cá nhân nhưng chính tiến trình sinh hoạt nhóm là trọng tâm, là công cụ giúp đỡ cá nhân.
CTXH nhóm có thể nhằm vào 2 loại nhóm: nhóm sẵn có hay nhóm được thành lập có mục đích.
Nhóm sẵn có, có thể là gia đình, một băng nhóm đường phố, bịnh nhân cùng một phòng ở bịnh viện, một ủy ban công tác ở cộng đồng. Nhưng các ngành khoa học về nhóm cũng thường thành lập nhóm theo kiểu họp - tan, nhằm một mục đích cụ thể như huấn luyện, xã hội hóa hay trị liệu.
Hiện nay công tác phổ biến nhất, đặc biệt trong giới thanh thiếu niên, nhằm mục đích xã hội hóa hay tái xã hội hóa. Đối với trẻ em, nhân viên xã hội có ảnh hưởng nhiều hơn trong tiến trình nhóm so với nhóm người lớn, có nhiều cơ hội hơn để hướng dẫn nhóm hoàn thành mục tiêu.
Nội dung sau đây về các bước trong diễn tiến nhóm liên hệ nhiều tới mục đích này.
2. Bốn bước trong tiến trình công tác xã hội nhóm
Bước 1: Thành lập nhóm.
Bước 2 : Khảo sát nhóm
Bước 3: Duy trì nhóm.
Bước 4 : Kết thúc.
Bước khởi đầu : Bước thành lập nhóm
Trước hết chúng ta đánh giá tình hình, vấn đề, nhu cầu của cá nhân
Nhóm trong cơ sở dễ làm việc hơn vì họ cùng vấn đề, mục tiêu và các hoạt động phải khớp với phương hướng, mục tiêu của cơ sở. NVXH phải tìm hiểu cơ sở trước khi lập nhóm.
Mục đích thành lập nhóm phải rõ ràng, được mọi người hiểu và cùng chia sẻ, nếu không sự hợp tác hai bên (nhân viên xã hội và nhóm viên) và sự tham gia sẽ bị giới hạn. Hợp đồng là hai bên thỏa thuận để đạt mục tiêu trong một thời hạn nhất định.
Trước khi bắt tay vào việc, NVXH phải biết tại sao mình muốn sử dụng phương pháp nhóm, và những đặc tính - nhu cầu chung nhất của đối tượng.
1. Chọn nhóm viên
Số lượng nhóm viên phải phù hợp với mục đích. ví dụ như trong trị liệu không nên đông hơn 6 - 8 người để nhóm viên có điều kiện bộc lộ, diễn đạt cảm xúc của mình. Một nhóm giải trí của trẻ em có thể lên tới 15 - 20 em. Một đội banh 11 người, một đội kịch tùy theo số vai trong vở diễn và các động tác hỗ trợ vở diễn. Ít quá không đạt mục tiêu, đông quá sẽ có người không tham gia trọn vẹn và cảm thấy dư thừa.
Một trong các tiêu chuẩn định nghĩa nhóm nhỏ là có quan hệ mặt đối mặt, do đó quá đông thành viên sẽ không có được mối quan hệ này.
Tóm lại, các yếu tố quy định số lượng nhóm viên là:
• Đặc điểm nhóm viên
• Mục tiêu chuyên môn : Ví dụ : Nhóm phụ nữ nghèo cần vay vốn, nhóm thanh thiếu niên gặp khó khăn trong học tập, nhóm phụ nữ bị bạo lực, nhóm phụ nữ có chồng nghiện rượu…
• Chương trình hoạt động
• Sự tham gia tối đa của mỗi người
• Đặc điểm của nhóm viên cần được quan tâm
Trước tiên là sự tương đồng về nhu cầu hay vấn đề cần giải quyết. Không thể để chung một phụ nữ độc thân mà có con và một phụ nữ đang ly dị chồng. Vấn đề của họ hoàn toàn khác nhau. Vấn đề giống nhau mà quá khác nhau về tâm lý, tuổi tác, trình độ văn hóa cũng không được. Giữa cô gái mới lớn, không chồng mà có con, với một phụ nữ 40 trong cùng trường hợp cũng rất khác biệt. Nên quan tâm đến những trường hợp rất cá biệt không đưa vào nhóm được như người bị tâm thần nặng, trẻ có quá nhiều hấn tính giữa một nhóm trẻ có vấn đề nhưng ở mức độ vừa. Hoặc một người có xu hướng khống chế mạnh cùng với những người quá thụ động.
Yếu tố bổ sung rất quan trọng: trong đội CLB văn học nên có nam lẫn nữ, một nhóm chơi của trẻ có mạnh có yếu, một đội thi đua nấu cơm ngoài trời phải có vài trẻ đã có kinh nghiệm nấu cơm trong gia đình.
Tránh đưa vào một nhóm nhỏ 2 người hay 2 nhóm người ở ngoài đời đang xung khắc trầm trọng, hoặc 2 - 3 bạn rất thân cùng sinh hoạt với 5 - 6 người còn xa lạ với nhau. Tất yếu họ sẽ phân ra thành nhiều tiểu nhóm, khó xây dựng một nhóm đoàn kết.
Do đó, việc tìm hiểu nhóm viên rất quan trọng. Một giáo dục viên phụ trách nội trú có thể biết rõ các em trong phòng mình phụ trách. Nhưng một nhóm NVXH ở cộng đồng sẽ không nắm được đặc điểm của các em thiếu niên tới đăng ký sinh hoạt đội nhóm ngay từ đầu. Do đó phải có quá trình tìm hiểu thông qua đăng ký sinh hoạt (phiếu xã hội - vấn đàm - vãng gia, nếu cần).
Đối với nhóm sẵn có như các nhóm tự nhiên trong khu phố, băng nhóm lang thang bụi đời, NVXH phải nhập cuộc một cách từng bước và khéo léo để nhóm chấp nhận. ở đây, NVXH không những tìm hiểu từng nhóm viên mà quan trọng hơn nữa là các mối quan hệ và sự phân công (quyền lực) trong nhóm. Ai là lãnh vụ, ai liên kết với lãnh tụ, ai trung lập, ai chống. Trong băng có tiểu nhóm hay không? Những giá trị xã hội, qui chuẩn (luật không thành văn) của nhóm là gì? Những hành vi tích cực và tiêu cực đối với xã hội? Mục đích ở đây là tái xã hội hóa, nghĩa là tác động từ từ tới cấu trúc quyền lực của nhóm, hướng nhóm dần tới các mục tiêu xây dựng. Ví dụ như biến thành một đội banh, một đội sản xuất có qui cũ, có thu nhập, được xã hội đánh giá cao. Trẻ từ từ sẽ phục hồi lại niềm tin, tự tin và tự trọng.
2. Mục tiêu sinh hoạt
Cần phân biệt mục đích cuối cùng của CTXH (cá nhân, nhóm, cộng đồng) là sự thay đổi, phục hồi, tăng trưởng về mặt tâm lý xã hội của (hệ thống) thân chủ, và mục têu của hoạt động mà nhóm đề ra: thi đấu, trình diễn, cải thiện nhà ở, liên hoan cuối năm, chuẩn bị xuất viện, học kỹ năng...
Đối với một nhóm tới CLB đăng ký học kỹ năng hùng biện chẳng hạn thì không có gì phải bàn cãi. Một nhóm trẻ từ 5 - 8 tuổi chỉ cần chơi và thông qua chơi, được xã hội hóa thì chủ yếu tạo điều kiện chơi phù hợp với lứa tuổi. Nhưng đối với các nhóm người lớn liên kết để hành động chung, một nhóm thiếu niên nội trí cần đóng góp một tiết mục cho cuộc liên hoan cuối năm thì mục đích phải được trao đổi và thông qua. Có sự thống nhất ý kiến càng cao thì sự tham gia từng người càng được bảo đảm. Càng tham gia càng tạo sự thỏa mãn và kết quả tích cực về mặt xã hội hóa.
NVXH ở đây không áp đặt cho dù đã dự trù trước, càng ít áp đặt thì nhóm càng tích cực có sáng kiến. Vấn đề ở đây là NVXH phải sử dụng tiến trình tâm lý nhóm để tạo sự thảo luận càng nhiều càng tốt trước khi thông qua quyết định chung. Đối với mục đích xã hội hóa, điều quan trọng không phải là thành quả mà tiến trình tăng trưởng của nhóm viên.
Nhưng độc đoán hay dân chủ không phải hai phạm trù loại bỏ nhau mà là các mức độ của một quá trình hướng dẫn. Người bịnh tâm thần, trẻ em rất nhỏ không thể tự quyết về mọi mặt. Do đó, sinh hoạt nhóm là để tập tành dân chủ nhưng phải đi từ thấp tới cao tùy hoàn cảnh và trình độ của nhóm viên.
Ngược lại trước một nhóm thụ động, trông chờ, NVXH phải dày công hơn nhiều để khơi dậy tiềm năng tự lực của nhóm.
Do đó, mục tiêu hoạt động không chỉ được áp đặt một cách hành chánh, hay bỏ mặc cho nhóm viên mà cần được giáo dục. Mục tiêu không cứng ngắt mà linh động theo sự trưởng thành của nhóm và khả năng của nhóm viên.
Ví dụ ở một trung tâm nội trú, có một nhóm trẻ tự lực chuẩn bị đóng góp cho cuộc liên hoan cuối năm, nhóm A chỉ có khả năng hát một bài đồng ca, tuy nhiên nhờ sự giúp đỡ bên ngoài và sự gắn bó lẫn nhau, mấy tháng sau các em có thể dựng một vở kịch tự biên tự diễn.
3. Cơ cấu tổ chức nhóm
a) Cơ cấu chính thức
Tất cả các nhóm để đạt đến một mục tiêu đều phải có phân công trách nhiệm. Có nhóm viên trội hơn, có tinh thần trách nhiệm cao, được trao vai trò trưởng nhóm, có nhóm viên khéo tay được phân công dạy kỹ năng. Cơ cấu ít nhiều mang tính hình thức và cố định tùy thuộc vào chức năng của nhóm. Ví dụ một tổ chức ở địa phương có Trưởng ban cán sự khu phố, các tổ trưởng - tổ phó tổ dân phố hay một nhóm hành động có chủ tịch, thư ký, thủ quỹ. Ngay cả một nhóm CLB cũng có trưởng - phó. Đó là chức vụ chính thức ai cũng biết và phải thông qua đó để làm việc với nhóm.
b) Cơ cấu phi chính thức
Là các mối liên hệ cá nhân và mức độ ảnh hưởng thật sự giữa các nhóm viên. Cơ cấu phi hình thức này rất quan trọng đối với bầu không khí nhóm và cả năng suất của nhóm về lâu về dài.
Mối tương tác giữa hai cơ cấu hình thức và phi hình thức rất quan trọng. Lý tưởng nhất là sự ăn khớp của chúng. Ví dụ trưởng nhóm chính thức cũng là người được nhóm viên ưa thích và nể nang nhất vì sự vận động sẽ suông sẻ dễ dàng và tâm lý nhóm thoải mái. Nếu trưởng nhóm tự áp đặt bằng sức mạnh (đại ca, đại bàng, tú bà,...), hay vì tinh thần gia trưởng thì có sự tuân thủ để hành động theo mục tiêu chung nhưng không có sự thỏa mãn tinh thần.
Bước thành lập nhóm là bước chọn nhóm viên, thảo luận mục đích và chương trình sinh hoạt, phân công tổ chức. ở giai đoạn này nếu nhóm viên còn xa lạ thì hoạt động còn rời rạc. Nhóm viên liên hệ nhiều với NVXH hơn là giữa họ với nhau. Nếu là trẻ em thì ở giai đoạn này các em rất bát nháo và chúng ta không nên đánh giá vội các hành vi của trẻ trong giai đoạn này vì theo kinh nghiệm, chúng ta nhận thấy trẻ sẽ dần dần có sự chuyển biến tích cực trong hành vi ở những giai đoạn sau. Thông thường ở giai đoản này trẻ muốn được chú ý nên có những hành vi chống đối, không chịu hợp tác để thử thách những giới hạn của nhóm và của nhân viên xã hội.
Nếu là một băng nhóm có sẵn thì các mối quan hệ không thuận lợi cho sự phát triển nhân cách vì còn chia rẽ, hay có sự khống chế của một hay vài cá nhân. Mục tiêu nhóm chưa mang tính xây dựng. NVXH phát hiện thực trạng nhóm và khéo léo diều chỉnh các mối tương quan và lái mục tiêu theo hướng tích cực.
Điều cần lưu ý là nội dung ở mỗi giai đoạn bao gồm 5 lãnh vực cần quan tâm :
1. Hiểu biết về những vấn đề ban đầu cần được giải quyết (cả cá nhân và nhóm)
2. Ghi nhận các cảm xúc và hành vi của các thành viên lúc sinh hoạt thông qua các vấn đề.
3. Hiểu rõ ý nghĩa nội dung của các cuộc thảo luận và của các hành vi
4. Hiểu các công việc chính yếu được thực hiện bởi tổng thể nhóm và bởi các cá nhân thành viên.
5. Quan tâm đến các cảm xúc và hành vi của các thành viên, công việc này cần thiết cho việc giúp đỡ nhóm và các thành viên hoàn thành nhiệm vụ.
Một số công việc mà nhân viên xã hội phải hoàn thành:
Trong buổi sinh hoạt nhóm đầu tiền, nhân viên xã hội làm gì ?
Các công việc mà nhân viên xã hội cần làm trong buổi họp đầu tiên với một nhóm mới được liệt kê theo thứ tự như sau :
• Tổ chức giới thiệu nhau, giúp hình thành môi liên lạc quen biết ban đầu và thu hút nhau và làm cho sự tham gia tích cực hơn.
• Trình bày lý do nhóm được thành lập và mục đích của nhóm theo cách nhìn của cơ sở và của nhân viên xã hội, cho phép nhóm viên trình bày quan điểm của họ.
• Cùng với nhóm là rõ các mong đợi về việc tại sao họ đến đây, họ thích làm gì và hy vọng đạt được cái gì ở nhóm.
• Thảo luận về một thỏa thuận về phương cách cùng nhau làm việc và đặt ra các quy tắc nhóm.
• Thảo luận với nhóm về chương trình hoạt động và phương pháp thực hiện và dự kiến cho nội dung buổi họp tiếp sau.
• Cho nhóm biết rõ nhân viên xã hội hy vọng làm việc với nhóm như thế nào và vai trò của mình sẽ ra sao.
• Bắt đầu thiết lập văn hóa nhóm ( ví dụ : hệ thống tương thân tương ái và chia sẽ trách nhiệm)
Nhân viên xã hội cùng với nhóm :
• Thiết lập các quy tắc nhóm
• Đặt ra những giới hạn
• Xác định hệ tống thưởng phạt
• Đặt ra một số tiêu chuẩn của công việc
• Phân công và giao trách nhiệm
Ngoài ra, nhân viên xã hội phải dự kiến phương hướng quản lý xung đột thường xuất hiện ở giai đoạn 2 của tiến trình phát triển của nhóm. Xung đột thường xuất phát từ :
• Cạnh tranh quyền lực, ảnh hưởng để xác định vị trí của mình trong nhóm
• Cơ cấu phi chính thức ( cơ cấu ngầm) song song với cơ cấu chính thức
• Việc thực thi các quy tắc của nhóm (do chưa quen vào khuôn khổ của các quy tắc)
• Thời khóa biểu làm việc (do cách thể hiện tính cách của từng cá nhân trong việc tuân thủ giờ giấc)
Bước xung đột này chấm dứt khi mối quan tâm riêng từ từ trùng khớp với mối quan tâm chung của mọi người trong nhóm để rồi tạo sự gắn kết khi bước qua giai đoạn ổn định của cuộc sống của nhóm.
Ví dụ như trường hợp: Trước khi vào nhóm, một thành viên có tên bí danh là “Ba Lé”, một người bạn trong nhóm gọi anh ta theo tên bí danh này. Thành viên này không hài lòng và tỏ ra nóng giận và muốn gây hấn. Một khi NVXH biết can thiệp và tác động thì ranh giới của từng cá nhân sẽ mờ đi và tạo được sự thân thiện với nhau, từ đó hình thành một bầu không khí thoải mái, biết chấp nhận nhau.
Tóm lại để đạt được những mục tiêu của nhóm chúng ta cần quan tâm đến các vấn đề sau :
• Lập nhóm để làm gì?
• Cá nhân muốn đạt gì thông qua nhóm
• Phương pháp sử dụng ( cách triển khai các hoạt động : thảo luận, vui chơi, sắm vai…)
• Thời gian và nơi sinh hoạt.
• Các nguyên tắc sinh hoạt nhóm, hệ thống thưởng phạt (giáo dục các nhóm viên thay đổi hành vi để đạt mục tiêu ).
• Sự tham gia của nhóm viên (NVXH không được bỏ rơi ai) .
• Tôn trọng tính riêng tư của mỗi nhóm viên.
Bước này chấm dứt khi có sự đồng thuận về các mục tiêu cần thực hiện.
Bước 2 : Khảo sát nhóm
Tới đây nhóm viên bắt đầu có quan hệ tương đối tốt và mục tiêu (hay mục tiêu mới đối với nhóm sẵn có) được nhóm viên am hiểu chấp nhận. Nhóm bắt đầu bắt tay vào chương trình một cách điều hòa, có nề nếp và năng suất. Đối với nhóm có sẵn, công tác khảo sát nhóm hướng vào các vấn đề sau :
• Tìm hiểu mối quan hệ cá nhân
• Tìm hiểu tiến trình nhóm (nhóm được lập lúc nào, lí do hình thành nhóm? Đã có những hoạt động gì? Ai là người lãnh đạo?)
• Tìm hiểu chức năng vai trò của từng thành viên nhóm thông qua thảo luận, quan sát.
• Tìm hiểu môi trường sinh hoạt của nhóm, qui chế nhóm
• Qui định của cơ sở xã hội
Ở giai đoạn này (giai đoạn dài nhất) NVXH vừa hỗ trợ về chương trình vừa hết sức quan tâm đến tiến trình (các mối tương tác giữa nhóm viên) để các nhóm viên được hưởng tối đa bầu không khí và các mối quan hệ thuận lợi. Những người đã bị tổn thương trong đời sống xã hội như trẻ LTBĐ bị ngược đãi, khinh thường, thiếu tình thương sẽ tìm lại sự tự trọng, tự tin thông qua kinh nghiệm nhóm tích cực này. Các nguyên tắc chấp nhận, lắng nghe, tôn trọng cần được NVXH truyền đạt cho nhóm viên để nhóm viên ứng xử với nhau theo hướng tích cực nhất. Trẻ hung hãn biết nhường nhịn, giúp đỡ các em khác. Trẻ nhút nhát được bạo dạn lên. Trẻ ít được quan tâm sẽ có dịp thi thố tài năng. Nhóm viên tăng sự tự tin vì hoàn thành được nhiệm vụ giao phó.
Đối với trẻ em, trong công tác xã hội nhóm, một hình thức môi trường giúp trẻ thay đổi là chơi. Cần phân biệt chơi trong khuôn khổ và chơi không theo khuôn khổ. Chơi không theo khuôn khổ là một phương tiện truyền thông và tự bộc lộ. Nó được dùng cho các nhóm của mọi lứa tuổi, liên quan đến các nhu cầu của cá nhân và liên quan đến những người mà họ có quan hệ ở một thời điểm nhất định. Garvey (1977) nêu 5 tiêu chí để xác định trò chơi không theo khuôn khổ :
• Chơi vui, hoặc có giá trị tích cực cho người chơi
• Được thúc đẩy từ bên trong, không có mục đích bên ngoài hoặc hành động bắt buộc nào.
• Nó xuất phát một cách tự nhiên, không bị ép buộc
• Nó đòi hỏi sự tham gia tích cực bởi người chơi
• Nó có một mối quan hệ nhất định với cái “không chơi” trong thế giới thực.
Các đặc tính của việc chơi không theo khuôn khổ :
Chơi được dùng bởi người lớn để hiểu trẻ em theo 3 phương cách (Garbarino Stott, 1992) :
• Tìm hiểu mức độ phát triển và năng lực của trẻ, bao gồm phát triển nhận thức, xã hội và thể chất.
• Thu thập thông tin về cuộc sống tinh thần của trẻ - có khái niệm về trẻ cảm nhận như thế nào.
• Chơi giúp trao đổi về những trải nghiệm lo lắng
Những hoạt động bao gồm trò chơi, thi đua, kể chuyện, sắm vai, tâm kịch đều được xem là chơi theo khuôn khổ. Nhân viên xã hội sử dụng các hoạt động này để các thành viên và nhóm đạt được mục tiêu của họ, nó thường xem như là một chương trình hoạt động đã định, giúp họ “học hỏi các quy định của trò chơi”, giúp họ dịch chuyển xa hơn, tạo ra những khám phá mới, phát triển sự sáng tạo.
Lên kế hoạch các hoạt động :
Kế hoạch các hoạt động phải dựa trên cơ sở :
• Nhu cầu và mục tiêu của nhóm: chung và riêng
• Các giai đoạn phát triển của nhóm.
• Môi trường sinh hoạt.
• Đặc điểm của đối tượng : nhóm viên là ai? Đặc điểm riêng của họ?
Trước khi chúng ta lên kế hoạch các hoạt động và để các hoạt động có thể đóng vai trò làm nền cho tiến trình thay đổi, chúng ta cần định hướng dựa trên các nhu cầu, mong đợi của nhóm viên và dựa trên mục tiêu để xây dựng kế hoạch hoạt động. Mọi thành viên nhóm cần phải hiểu mục tiêu như nhau để có sự gắn kết trong nhóm. Những vấn đề đặt ra là để có sự hòa nhập sau khi có sự đồng thuận về :
- Tại sao chúng ta ở đây ?
- Chúng ta cần làm gí ? (Xác định các hoạt động)
- Chúng ta làm như thế nào ?
- Chúng ta cần đạt những gì ?
Thông thường, nhân viên xã hội hỗ trợ nhóm lựa chọn và sử dụng các hoạt động. Vai trò của tác viên bao gồm nhiều công việc như chọn một hoạt dộng, lên kế hoạch, khởi đầu, dạy (trường hợp nhó trẻ), hỗ trợ, điều chỉnh, điều quan trọng là tạo sự gắn kết giữa các thành viên trong nhóm và các hoạt động phải là những cơ hội khen thưởng để các nhóm viên phàn ứng một cách tích cực. Trong những trường hợp khác, nhân viên xã hội cần giúp trẻ vượt qua những hoạt động mới mẻ, chưa quen thuộc, để tập dần sự thích thú trong những gì trẻ đang làm. Trong lúc vẽ tranh hoặc lúc nặn đất sét, nhân viên xã hội thường cùng tham gia, tạo cho trẻ nhiều cơ hội tự thể hiện một cách thoải mái mà không có cảm giác là mình đang bị giám sát bời nhân viên xã hội. Vai trò của nhân viên xã hội là tạo sự ham muốn tham gia hoặc thúc đẩy người khác trở nên dấn thân hơn. Tuy nhiên đôi lúc nhân viên xã hội cũng cần kiểm soát hoặc hạn chế bớt những hành vi thái quá, trường hợp có mâu thuẫn, có nghĩa là nhân viên xã hội được phép can thiệp khi trẻ có nhu cầu.
Những hoạt động nào được sử dụng trong CTXH nhóm ?
Trước hết các hoạt động của nhóm, theo Vinter (1974) phải bao hàm 6 yếu tố chính:
• Có những quy định trong sinh hoạt (Quy định trong thảo luận nhóm thì nhẹ hơn quy định khi chơi bóng bàn)
• Có sự kiểm soát : trọng tài, người hướng dẫn…
• Có hoạt động thể chất
• Có vận dụng khả năng và kỹ năng trong hoạt động
• Có sự tương tác giữa những người tham gia
• Có hệ thống thưởng phạt
Các loại hoạt động thường bao gồm:
• Trò chơi: trò chơi giúp nhóm viên năng động, sáng tạo và tạo sự gắn kết trong nhóm, sức khỏe. Trò chơi cũng tạo niềm tin vì trong cuộc sống ta không sống một mình được mà luôn cần những mối quan hệ trong xã hội. Trò chơi nhận thức giúp nhóm hiểu một vấn đề và thay đỗi nhận thức.
• Nói chuyện : ở môi trường cà nhóm hoặc theo từng cặp đôi, chia sẻ kinh nghiệm, những chuyện vui buồn gặp phải trong quá khứ. Đây được xem là một tham vấn cho nhau giữa các thành viên nhóm.
• Viết nhật ký, bản tin, báo tường, viết lên những suy nghĩ, tự đánh giá bản thân. Thông qua hoạt động này nhân viên xã hội có thể theo dõi diễn biến tâm lý, tâm tư của từng cá nhân để có hướng hỗ trợ.
• Hoạt động vui chơi, giải trí như cắm trại, nấu ăn, thể thao, văn nghệ…
• Hoạt động về kỹ năng xã hội như sắm vai, kỹ năng sống (tập nói “không”, làm chủ bản thân, giảm bạo lực…)
• Tâm kịch: sắm vai, diễn lại sự cố đã xảy ra.
• Đóng vai: Diễn kịch trong sinh hoạt văn nghệ, đóng vai theo một khuôn mẫu người nào đó.
Ví dụ như cho một đứa trẻ đóng vai đứa con vi phạm, có lỗi với ba mẹ, ba mẹ nóng giận và đứa trẻ này đứng cạnh một em khác đóng vai đứa con ngoan dễ thương, khác với hành động của nó, đứa trẻ này kia suy nghĩ nếu mình cư xử dễ thương thì không bị ba mẹ đánh.
• Hoặc kịch câm: Loại hình này giúp họ tự bộc lộ qua động tác.
• Hoặc xây tượng : qua thể hiện, nhân viên xã hội ghi nhận được tâm trạng bên trong của họ
• hoạt động nghệ thuật khác như vẽ tranh, chụp ảnh, múa
• Hoạt động nghe nhìn: quay video : nhóm ở cộng đồng ( trong dự án PTCĐ). Khi quay, cá nhân bộc phát hành vi và khi chiếu lại để xem và cùng nhau phân tích, nhóm viên biết hành vi nào đúng, hành vi nào chưa đúng, điều này tác động đến sự thay đổi hành vi.
Bước 3: Bước duy trì nhóm
Đây là bước chính trong công tác xã hội nhóm, bước đưa đến những thay đổi. Vì thế lúc này là lúc nhân viên xã hội chứng tỏ khả năng chuyên môn của mình. Nhân viên xã hội quan tâm đến việc chia sẻ thông tin, cảm xúc giữa các thành viên với nhau. Đặc điểm của bước này là sự bộc lộ, mong mỏi được sự phản hồi. Trong bước này, các nhóm viên trao đổi thông tin về cá nhân, về công việc, tìm hiểu hành vi và ý nghĩa hành vi của nhau.
Nhóm viên cảm thấy thoải mái hơn, biết chấp nhận nhau và mọi người cảm thấy mình thuộc về nhóm hơn (hòa nhập vào nhóm, một sự đồng hóa với nhóm :“ta là nhóm, nhóm là ta”).
Nhóm viên bắt đầu có quan hệ tương đối tốt và mục tiêu (hay mục tiêu mới đối với nhóm sẵn có) được nhóm viên am hiểu chấp nhận hơn. Nhóm bắt đầu bắt tay vào chương trình một cách điều hòa, có nề nếp và năng suất.
Ở giai đoạn này (giai đoạn dài nhất) NVXH vừa hỗ trợ về chương trình vừa hết sức quan tâm đến tiến trình (các mối tương tác giữa nhóm viên) để các nhóm viên được hưởng tối đa bầu không khí và các mối quan hệ thuận lợi. Những người đã bị tổn thương trong đời sống xã hội như trẻ em đường phố bị ngược đãi, khinh thường, thiếu tình thương sẽ tìm lại sự tự trọng, tự tin thông qua kinh nghiệm nhóm tích cực này. Các nguyên tắc chấp nhận, lắng nghe, tôn trọng cần được NVXH truyền đạt cho nhóm viên để nhóm viên ứng xử với nhau theo hướng tích cực nhất. Trẻ hung hãn biết nhường nhịn, giúp đỡ các em khác. Trẻ nhút nhát được bạo dạn lên. Trẻ ít được quan tâm sẽ có dịp thi thố tài năng. Nhóm viên tăng sự tự tin vì hoàn thành được nhiệm vụ giao phó.
Một số vấn đề cần quan tâm trong bước quan trọng này của tiến trình nhóm:
•Coi trọng công việc lẫn con người
•Rà soát kế hoạch hoạt động có phù hợp với nhu cầu và mục tiêu hay không để sớm điều chỉnh
•Giúp nhóm viên chấp nhận sự khác biệt của nhau
•Đánh giá thường xuyên các sự kiện thể hiện hành vi, nó có ý nghĩa gì, định hướng và uốn nắn hành vi.
•Có phương pháp can thiệp để tạo sự tham gia tối đa, tạo sự gắn kết trong nhóm
•Đánh giá từng bước tiến bộ của nhóm
•Luôn khuyến khích nhóm làm tốt hơn
•Áp dụng phương pháp CTXH cá nhân đối với những trường hợp cá nhân có vấn đề riêng biệt
•Đánh giá vai trò của từng nhóm viên trong quá trình phát triển nhóm và trong mối quan hệ trong nhóm.
•Đánh giá các kênh truyền thông trong nhóm
Bước cuối : Bước giải quyết vấn đề và đạt mục tiêu xã hội
Nhóm như con người có thể chết yểu, nghĩa là sau vài lần sinh hoạt không còn hay còn rất ít người tham dự. Kinh nghiệm thất bại không có gì lạ thậm chí rất phổ biến.
Có nhóm kéo dài được đến giai đoạn cuối. Lượng giá gồm cả 2 mặt chương trình và tiến trình.
Trong CTXH nhóm, tiến trình rất quan trọng. Vở diễn A có thể được đánh giá cao về kịch bản, dàn dựng, diễn xuất. Nhưng khi tìm hiểu thì vỡ lẽ là do sự “độc diễn” của một nhóm viên từ đầu đến cuối. Các nhóm viên kia thì chỉ “đặt đâu ngồi đó”. Họ tích cực tập luyện vì sĩ diện nhóm. ở đây không có gì xấu nhưng xét về mặt tăng trưởng tâm lý của cá nhân và nhóm thì chưa đạt.
Vở kịch B ít chuyên nghiệp hơn, nhưng tất cả các thành viên đều tham gia ý kiến cho kịch bản và dàn dựng cũng như diễn xuất. Họ không những hãnh diện mà còn rất vui và gắn bó với nhau. Về mặt mục đích CTXH nhóm thì vở B đạt hơn.
Lượng giá được mọi người tham gia với sự chuẩn bị một dàn ý do NVXH hay trưởng nhóm.
Một nhóm bệnh nhân nằm viện lâu dài được sinh hoạt nhóm để chuẩn bị xuất viện thì câu chuyện kết thúc cho tất cả ở đây, cho dù có người sẵn sàng có người còn e ngại trở lại với cuộc sống hàng ngày.
Nhưng đối với một số thân chủ có vấn đề ví dụ như một nhóm các bà mẹ mới ly dị. Có người thông qua sinh hoạt nhóm đã ổn định được tinh thần. Có người có tiến bộ nhưng còn rất chao đảo. Nhóm đầu có thể “xuất” nhóm. Nhóm người sau có thể tiếp tục với mục tiêu, chương trình mới. Hoặc họ có thể được chuyển qua một nhóm khác để tiếp tục sinh hoạt.
CTXH nhóm là một phương pháp càng ngày càng được sử dụng vì có hiệu quả cao. Nhưng nó không phải vạn năng, bên cạnh các phương pháp cá nhân, nhóm, cộng đồng còn nhiều cách can thiệp khác như biện hộ (advocacy), xây dựng chính sách, kế hoạch, pháp chế, mới giải quyết được các vấn đề xã hội.
Một số đặc điểm của bước này là :
•Nhóm viên phụ thuộc lẫn nhau: nhóm viên có thề làm việc một mình, trong tiểu nhóm hoặc trong toàn nhóm.
•Có sự thu hút nhau giữa các nhóm viên
•Các nhóm viên hợp tác nhau và cạnh tranh để cùng nhau phát triển (hội nhập vào nhóm phát triển.)
•Trước đây giải quyết những xung đột rất khó, nay giải quyết rất dễ dàng hơn.
•Những gì nhóm thực hiện được xem là phương tiện trong cố gắng đạt được mục tiêu của chính mình (trong nhóm tâm lý trị liệu thì hoạt động nhắm vào cá nhân nhiều hơn)
Tuy nhiên, ở giai đoạn kết thúc này, nhân viên xã hội cần quan tâm một số công việc:
-Duy trì những cố gắng thay đổi của nhóm viên, giúp họ phát triển lòng tự tin
-Giảm sự thu hút của nhóm và tăng cường chức năng tự lực của các cá nhân thành viên.
-Hỗ trợ các thành viên đương đầu với những cảm xúc khi kết thúc
-Lên kế hoạch cho tương lai
-Giúp họ tiếp cận với các dịch vụ và các tài nguyên khác
-Lưu ý các yếu tố có thể làm cho nhóm viên rời bỏ nhóm :
•Những mâu thuẫn và những thay đổi khó thích nghi
•Sự lệch hướng của nhóm do bị một cá nhân thành viên lôi kéo
•Những vấn đề phát sinh do phát triển mối quan hệ thân tình
•Thiếu cơ hội và thời gian chia sẻ với nhân viên xã hội
•Thiếu định hướng đầy đủ trong trị liệu
•Những rắc rối phát sinh tử các tiểu nhóm.
Nguyễn Ngọc Lâm biên soạn

18 tháng 7, 2008

Tiến trình nhóm và sự can thiệp nhóm


Tiến trình nhóm và sự can thiệp nhóm
Nhóm như một hệ thống, kỹ thuật làm việc với nhóm hay gia đình, kỹ thuật làm việc với gia đình rất giống nhóm, và kỹ thuật nào là độc đáo riêng cho gia đình hay riêng cho nhóm. Có một điều ta biết chắc chắn là gia đình là luôn luôn tồn tại, nhóm thì phải có ai lập nên nó, nhóm theo công tác xã hội đó là một hệ thống thiết lập nên, phục vụ cho nhu cầu của các thành viên trong nhóm với sự thiết lập của nhân viên xã hội. Chúng ta luôn luôn phụ thuộc vào nhiều nhóm, một nhóm gia đình, nhóm đồng nghiệp, nhóm sở thích. Khi nhân viên công tác xã hội thành lập nhóm, nhóm công tác xã hội rất khác biệt, điểm đầu tiên của nhóm là:
- Phục vụ nhu cầu thành viên trong nhóm.
- Với sự hướng dẫn chuyên môn của nhân viên công tác xã hội (không có nghĩa là nhân viên xã hội cũng làm việc với các nhóm, nhưng khác với nhóm công tác xã hội). Có người nói thành lập nhóm là một hành động can đảm, hoặc nói đó là một cú nhảy định mệnh, được thực hiện bởi nhân viên xã hội và các thành viên trong nhóm. Và thân chủ chỉ tham gia vào nhóm khi nhóm đó thực sự phục vụ nhu cầu của nhóm.
Kế hoạch nhóm:
Chúng ta bắt đầu từ nhu cầu của thân chủ, chúng ta tìm ra mục đích để đáp ứng nhu cầu đó và chúng ta tạo nên 4 yêu cầu:
1. Cấu trúc nhóm.
2. Thành phần của nhóm, thành phần các thành viên và nhân viên xã hội tham gia nhóm.
3. Liên hệ nhóm trước khi thành lập.
4. Nội dung sinh hoạt nhóm
Tất cả kế hoạch nầy nằm trong bối cảnh môi trường.
Một điều căn bản là phải lựa chọn trong một khoảng tư tưởng rộng lớn.
- Nhóm có cuộc sống riêng (ta gọi là nhóm tổng thể). Nếu lập nhóm là để phục vụ cho tất cả trẻ trong nhóm (chứ không phải phục vụ An). Và chúng ta nhìn nhận điểm nầy như là điểm hợp đồng với nhóm.
- Khi làm việc với nhóm, nhân viên xã hội có hai trọng tâm, chú ý đến thực tại của nhóm, hoặc giữa nhân viên xã hội và thân chủ. Nhưng chúng ta cũng biết sự thay đổi thực sự diễn ra bên ngoài. Khi chúng ta tiếp một thân chủ, thì việc thay đổi không diễn ra trong cuộc họp mà xảy ra khi họ về. Do đó, hai trọng tâm khi thành viên của nhóm quyết định thay đổi là khi họ nói nhu cầu của nhóm phục vụ cho tôi, sau đó là gia đình thay đổi. Vì vậy nhóm này đáp ứng được nhu cầu được quan tâm của An, và việc thay đổi trong gia đình bé An sẽ xảy ra ở ngoài.
- Tính chất thứ ba của nhóm là giúp đỡ song phương. Đó là công việc, kỹ năng của người công tác xã hội chuyên nghiệp, nghĩa là nhóm viên giúp đỡ lẫn nhau. Việc hỗ trợ lan ra trong gia đình, trong nhóm thành viên bình đẳng.
Có những kỹ năng đặc biệt: Khi làm việc với cá nhân, chúng ta có đề cập đến kỹ năng quan sát giao tiếp của thân chủ. Đối với nhóm, chúng ta gọi là quét hình (tổng thể và chi tiết).
Kỹ năng
a). Quét hình (Scanning)
b). Tư duy nhóm (Thinking group)
c) Tăng sự gắn bó, làm cho các thành viên gắn bó với nhau bởi vì chúng ta đều làm việc trong một cơ quan, chúng ta có thể thành lập nhóm và tôi sẽ đề nghị một mục đích cho nhóm nầy là để hỗ trợ cho nhóm bé trai tuổi vị thành niên trong việc xã hội hóa cá nhân, đưa ra mục đích riêng để chúng ta có thể bao gồm nhiều người vào nhóm. (Fostering cohesion)
Thường nếu chúng ta lên kế hoạch chu đáo thì trường hợp nầy ít khi xảy ra
Họp thành lập nhóm:
Chúng ta có cần gặp các thành viên trong nhóm trước không? Có thể nên gặp các em trước buổi họp để làm quen, chúng ta có sự lựa chọn là có nên gặp trước hay không? Nếu nhóm có sẵn ta không cần gặp từng thành viên, nếu muốn để cho một thành viên mới sinh hoạt thì ta nên gặp riêng thành viên đó.
Với nhóm mới thành lập, ta làm quen với các thành viên, tạo cho nhóm có tình cảm thân thương, tập họp tất cả nhóm để làm quen với nhau đồng thời làm quen với nhân viên xã hội.
- Tập hợp phổ biến mục đích, thành viên tham gia tự nguyện và lựa chọn thành viên.
Nếu các em trước đây chưa sinh hoạt nhóm, chúng ta có thể gặp riêng từng cá nhân để sinh hoạt, nhân viên xã hội chuyển vai trò từ thân chủ là An chuyển sang thân chủ là nhóm.
Chúng ta thấy nguy cơ khi gặp cá nhân vì họ sẽ gắn bó với nhân viên xã hội hơn gắn bó với nhóm.
- Nếu nhân viên xã hội không thích làm việc với nhóm thì họ sẽ đến gặp từng cá nhân như thế sẽ lợi thế cho nhân viên xã hội.
Trong cuộc họp đầu tiên, nhóm viên thắc mắc không biết mục đích của nhân viên xã hội là gì (điều nầy không có gì lạ). Nếu trong cuộc gặp cá nhân trước khi họp nhóm đều có những khoảng cách, phòng thủ của thân chủ với nhân viên xã hội. Nếu ta gặp luôn cả nhóm một lần để cho các thành viên trong nhóm thảo luận mục đích của nhóm thì chúng sẽ được đối đầu với những mục đích của nhóm. Đây là việc mà nhân viên xã hội phải giải quyết những thắc mắc của thành viên và tạo nên sự thành lập nhóm.
Các bước phát triển nhóm.
- Bước thành lập nhóm (giai đoạn tiền dự định).
Để trải qua giai đoạn thành lập nhóm một cách hiệu quả thì những lo sợ của nhóm phải được giải quyết, những người được chọn vào nhóm phải có những thông tin cụ thể. Mục đích của nhóm là gì? Nói một cách khác những nhân viên xã hội và nhóm, thành lập một hợp đồng ban đầu để thành lập nhóm.
Công việc đầu tiên của nhân viên xã hội là đánh giá những điều kiện phù hợp của thành viên để lưạ chọn. Chúng ta phải tự đặt câu hỏi cho mình, những thành viên nầy có những đặc điểm gì so với thành viên khác, nếu nó không tham gia nhóm thì có điều gì không có lợi?
Thường người ta đặt mục tiêu nhóm rộng hoặc vừa đủ, điều nầy rất khác khi chúng ta làm việc với gia đình. Ở trong nhóm gia đình, việc tham gia nhóm trong gia đình là tự nhiên.
Trong khi sửa soạn nhóm thì không tạo ra mối liên hệ đặc biệt giữa mình và nhóm viên. khi làm việc với nhóm gia đình thì có khác, cần phải đủ mạnh. Mỗi nhóm đều đi qua giai đoạn tăng trưởng. Buổi họp nhóm đầu tiên sẽ bắt đầu giai đoạn đầu, chúng ta có thể diễn tả buổi ban đầu khi tuổi thơ của bé trai, mỗi thành viên đều được người trong nhóm chấp nhận, sợ mình làm những điều không hay trước mặt người khác. Khi buổi ban đầu của nhóm không khác với công tác xã hội ban đầu. Sinh hoạt nhóm không chỉ riêng có thân chủ mà có những nhóm viên khác để chia sẻ công việc đó. Vì vậy công tác xã hội ở giai đoạn nầy là nhân viên xã hội tạo ra sự liên kết giữa các nhóm viên. Đến với sinh hoạt nhóm ban đầu giúp nhóm viên gắn bó vào sinh hoạt nhóm. Trong giai đoạn đầu, nhóm bắt đầu thiết lập những luật lệ sinh hoạt nhóm, những luật lệ riêng cho nhóm, các mục tiêu, chấp nhận những cái gì thế giới bên ngoài đặt vào nhóm và những qui luật nhóm.
Vai trò của nhân viên xã hội:
Có người nói ở giai đoạn đầu, vai trò nhân viên xã hội tích cực, và khi nhóm bắt đầu phát triển và hoạt động thì vai trò giảm dần. Nếu suy nghĩ theo lối đó thì cần lưu ý rằng buổi ban đầu người nhân viên xã hội tích cực thì ta tưởng như nhìn từ bên ngoài xuyên qua lỗ trống. Trong giai đoạn đầu, nhân viên xã hội nói nhiều, trong đầu bạn bao giờ cũng suy nghĩ cái gì bạn nói, bạn làm, bạn quan sát. Trong giai đoạn nầy tích cực nói về mục đích nhóm và nhân viên xã hội giúp nhóm viên gắn bó với nhóm và nhân viên xã hội chuyển trọng tâm quan tâm một thân chủ của mình sang trọng tâm khác, nhân viên xã hội cần chú tâm dò sóng đến sự lãng tránh của thân chủ và cũng phải nhạy bén tế nhị để hòa nhập yếu tố tâm lý của thân chủ, ý hướng muốn tham gia, muốn nhìn vào sự việc để giải quyết.
Tiến sĩ Mary Ann Forgey và Tiến sĩ Carol S.Cohen

25 tháng 6, 2008

Các thuyết ảnh hưởng đến phương pháp công tác xã hội nhóm



Các thuyết ảnh hưởng đến phương pháp công tác xã hội nhóm

a/ Thuyết hệ thống :
Theo Parson, nhóm là hệ thống xã hội với những thành viên lệ thuộc hỗ tương, cố gắng duy trì trật tự và sự cân bằng như một thể thống nhất. Nhóm phải vận động tài nguyên để đáp ứng nhu cầu. Nhóm có 4 nhiệm vụ chính : (1) Hội nhập – đảm bảo rằng các nhóm viên hoà hợp với nhau; (2) Thích nghi – đảm bảo là nhóm thay đổi để ứng phó với nhu cầu đòi hỏi của môi trường; (3) Duy trì – đảm bảo nhóm xác định và duy trì được mục đích cơ bản, bản sắc, và phương cách của nó; (4) Đạt mục tiêu – đảm bảo nhóm theo đuổi và hoàn thành trách nhiệm. Nhóm phải hoàn tất 4 công việc này để duy trì được sự quân bình, đây là công việc dành cho tác viên và nhóm viên của nhóm.
Theo Robert Bales, nhóm phải giải quyết 2 vấn để để tự bảo tồn, đó là vấn đề liên quan tới công việc và vấn đề liên quan tới cảm xúc tức bầu không khí nhóm.
Parson nhấn mạnh tới sự hài hoà và quân bình, trong khi đó Bales nhấn mạnh tới sự căng thẳng và xung đột. Nhóm có khuynh hướng dao động giữa sự thích nghi với môi trường bên ngoài và quan tâm tới sự hội nhập bên trong. Bales gọi đây là sự quân bình năng động. Nghiên cứu sự quân bình năng động này và thấy rằng để giải quyết vấn đề liên quan tới công việc các nhóm viên cho ý kiến, cung cấp thông tin yêu cầu các đề nghị hoặc đưa ra các đề nghị. Để giải quyết vấn đề về cảm xúc các nhóm viên bày tỏ sự đồng ý, không đồng ý, bày tỏ sự căng thẳng hay giải toả sự căng thẳng, bày tỏ sự đoàn kết hay xung đột. Qua mối tương tác này các thành viên nhóm giải quyết vấn đề, trao đổi, lượng giá, kiểm soát, lấy quyết định, giảm căng thẳng và hội nhập.
Có thể rút ra từ các quan điểm khác nhau về thuyết hệ thống những khái niệm đáng quan tâm đối với tác viên nhóm như sau :
- Sự hiện diện của tài nguyên của nhóm như một tổng thể xuất phát từ mối tương tác giữa các cá nhân trong nhóm
- Sức ép mãnh liệt của nhóm lên trên hành vi của cá nhân
- Khi nhóm giải quyết những mâu thuẫn, đó là sự đấu tranh để tồn tại
- Nhóm phải nối kết với môi trường bên ngoài và quan tâm tới sự hội nhập bên trong.
- Nhóm thường xuyên ở trong tình trạng hình thành, phát triển, và thay đổi
- Nhóm có một chu kỳ sống.

b/ Thuyết tâm lý năng động

Theo lý thuyết này nhóm viên thể hiện những xung đột không giải quyết được từ kinh nghiệm sống từ thời bé. Bằng nhiều cách nhóm tái hiện lại tình huống gia đình, thí dụ như mô tả người trưởng nhóm như hình ảnh của người cha có toàn quyền trên các nhóm viên. Nhóm viên hình thành những phản ứng chuyển giao cho người trưởng nhóm và cho nhau trên cơ sở những kinh nghiệm sống thuở ban đầu của họ. Như vậy mối tương tác diễn ra trong nhóm phản ảnh cơ cấu nhân cách vả cơ chế tự vệ mà nhóm viên bắt đầu phát triển từ thời ấu thơ. Tác viên sử dụng sự giao dịch này để giúp cho nhóm viên giải quyết các xung đột chưa giải quyết của họ bằng cách thăm dò mẫu hành vi trong quá khứ và nối kết với những hành vi hiện tại. Thí dụ tác viên có thể diễn dịch hành vi của 2 nhóm viên đang tranh giành sự quan tâm của trưởng nhóm như sự tranh chấp không giải quyết được của 2 anh em. Khi diễn dịch của tác viên đúng lúc thì các nhóm viên hiểu được hành vi của riêng họ. Theo thuyết tâm lý năng động thì sự hiểu biết này là thành tố cần thiết trong việc điều chỉnh và thay đổi hành vi bên trong và bên ngoài nhóm.

c/ Thuyết học hỏi

Thuyết gây nhiều tranh cãi trong CTXH nhóm nhiều nhất. Điều cơ bản của lý thuyết này là nhấn mạnh đến hành vi cá nhân hơn là hành vi nhóm. Theo lý thuyết này hành vi của nhóm có thể được giải thích bằng 1 trong 3 phương pháp học tập.Theo lối tiếp cận cổ điển, hành vi có liên quan tới sự kích thích. Thí dụ như một nhân viên đáp ứng bằng một lời phê tiêu cực mỗi khi một nhóm viên quay qua nói với một nhóm viên khác trong lúc nhân viên và các nhóm viên khác đang nói. Sau nhiều lần như vậy chỉ cần nhóm viên tái hiện hành vi quay qua mà không nói chuyện cũng đủ cho người nhân viên nhận xét tiêu cực rồi.
Phương pháp thứ hai thông thường hơn gọi là điều kiện hoạt động. Hành vi của nhóm viên và tác viên được điều hành bởi kết quả của hành động của họ.Nếu một nhóm viên có một hành vi nào đó và nhóm viên B đáp ứng một cách tích cực thì nhóm viên A có thể sẽ tiếp tục hành vi đó. Tương tự nếu tác viên nhận được phản hồi tiêu cực từ nhóm viên về một hành vi nào đó thì tác viên có thể sẽ không cư xử như thế trong tương lai.
Trong nhóm, tác viên có thể dùng sự khen ngợi để gia tăng sự giao tiếp giữa nhóm viên với nhau và những nhận xét tiêu cực để làm giảm sự giao tiếp giữa tác viên và nhóm viên.
Mô hình thứ ba là lý thuyết học hỏi xã hội. Nếu nhóm viên và tác viên chờ đợi điều kiện hoạt động thì những hành vi trong nhóm được học hỏi rất chậm chạp. Bandura cho rằng hầu hết việc học hỏi diễn ra qua sự quan sát và ca ngợi hay củng cố trải nghiệm hay trừng phạt. Thí dụ, khi một nhóm viên được khen ngợi vì một hành vi nào đó thì tác viên và nhóm viên khác sẽ tái tạo hành vi đó sau này hy vọng là sẽ nhận được sự khen thưởng tương tự. Khi một nhóm viên thể hiện một hành vi nào đó mà xã hội không quan tâm hay trừng phạt thì những nhóm viên khác sẽ học là không cư xử như thế vì hành vi đó đem lại kết quả tiêu cực.

d/ Thuyết hiện trường

Kurt Lewin đã thực hiện nhiều cuộc thí nghiệm về sức ép để giải thích hành vi trong nhóm nhỏ. Theo lý thuyết hiện trường của Lewin thì nhóm có một không gian sống, nó chiếm một vị trí tương quan với các vật thể khác trong khoảng không gian nầy, nó được hướng dẫn để đạt được mục tiêu, nó vận chuyển để theo đuổi những mục tiêu này, và nó có thể gặp nhiều trở ngại trong tiến trình vận chuyển. Sự đóng góp độc đáo của thuyết hiện trường là xem nhóm như một tổng thể (gestalt), đó là sự phát triển từ từ những lực đối lập để giữ cho nhóm viên gắn với nhóm và làm cho nhóm tìm cách để đạt được mục tiêu. Theo Lewin, nhóm liên tục thay đổi để ứng phó với tình huống xã hội dù rằng có nhiều khi nó ở trạng thái gần như đứng yên. Lewin đưa ra vài khái niệm để hiểu về sức mạnh của nhóm, đó là :
- Vai trò: vị trí, quyền và bổn phận của nhóm viên
- Qui chuẩn: những nguyên tắc điều hành/chi phối hành vi của nhóm viên
- Quyền lực: khả năng nhóm viên ảnh hưởng lẫn nhau
- Sự liên kết: toàn bộ những hấp lực và sự lôi cuốn của các thành viên trong nhóm cảm nhận về nhau và vể nhóm.
- Sự nhất trí: Mức độ đồng ý về mục tiêu và các hiện tượng khác trong nhóm
- Khả năng đạt mục tiêu trong không gian sống của nhóm.
Thuyết hiện trường của Lewin cho rằng người ta sẽ không thay đổi hành vi của mình cho tới khi nào họ thấy rõ hành vi của mình như người khác thấy.

e/ Thuyết trao đổi xã hội:

Thuyết này nhấn mạnh đến hành vi cá nhân của các thành viên trong nhóm. Phát xuất từ những học thuyết trò chơi, phân tích kinh tế, tâm lý động vật, các nhà lý thuyết trao đổi xã hội cho rằng khi người ta tương tác trong nhóm, mỗi người đều cố gắng hành xử để gia tăng tối đa sự khen thưởng và giảm thiểu tối đa sự trừng phạt. Các thành viên trong nhóm bắt đầu tương tác vì những sự trao đổi xã hội này đem lại cho họ điều gì đó có giá trị, như sự tán thành chẳng hạn. Theo các nhà lý thuyết trao đổi xã hội thì thường người ta không thể nhận được gì nếu người ta không cho, có một sự trao đổi ngầm trong mọi mối quan hệ giữa con người.
Trong lý thuyết trao đổi xã hội, hành vi nhóm được phân tích bằng cách quan sát cách mà những cá nhân thành viên tìm kiếm sự khen thưởng trong khi ứng phó với sự tương tác diễn ra trong nhóm. Đối với một cá nhân trong một nhóm, quuyết định diễn tả một hành vi dựa vào sự cân nhắc, so sánh giữa sự khen thưởng và trừng phạt có thể có từ hành vi đó. Các thành viên trong nhóm cư xử để gia tăng những hiệu quả tích cực và làm giảm những kết quả tiêu cực. Lý thuyết trao đổi xã hội cũng nhấn mạnh đến cái cách mà các thành viên nhóm ảnh hưởng lẫn nhau trong các tương tác ã hội. Kết quả của bất kỳ sự tương tác xã hội nào cũng đều dựa trên quyền lực xã hội và sự lệ thuộc xã hội trong mối tương tác đặc biệt.
Lý thuyết này được sử dụng để làm việc với nhóm thanh thiếu niên phạm pháp trong cơ sở, nhóm cấu trúc được sử dụng để đối đầu, thách thức, và xóa đi những qui chuẩn nhóm đồng đẳng chống xã hội và thay thế chúng bằng những qui chuẩn hỗ trợ xã hội thông qua sự tương tác nhóm đồng đẳng được hướng dẫn.
Lý thuyết trao đổi xã hội bị phê bình là máy móc vì nó giả định người ta luôn luôn là sinh vật có lý trí hành động theo sự phân tích về thưởng phạt. Các nhà lý thuyết trao đổi xã hội ý thức rằng tiến trình nhận thức ảnh hưởng đến cách người ta cư xử trong nhóm. Cái nhìn của các thành viên nhóm chịu ảnh hưởng bởi tiến trình nhận thức như ý định và sự mong đợi.

1. Thuyết hệ thống: do Parsons nêu ra (1951). Theo ông nhóm là một hệ thống, bên trong các yếu tố tác động lẫn nhau. Khi nói hệ thống có nhiều bộ phận, tùy thuộc lẫn nhau như một mắc xích. Nếu một bộ phận bị lỗi thì ảnh hưởng cả một hệ thống ( cả nhóm).
Gia đình là tế bào của xã hội, một thành viên trong gia đình làm ảnh hưởng cả gia đình và một quan điểm trục trặc làm ảnh hưởng đến cộng đồng,xã hội, đất nước.
Tác động nhóm nhắm đế sự duy trì trật tự xã hội ( qua qui tắc). Nếu một nhóm viên (NV) vi phạm sẽ bị lọai ra khỏi nhóm để duy trì trật tự nhóm và nhờ duy trì trật tự xã hội nên có được hành động đáp ứng.
2.Thuyết tâm lý năng động: ảnh hưởng lên hành vi con người.Theo 2 ông Freud (1920) Frank Moreno ( tâm kịch), qua nhóm, cá nhân có dịp nhìn lại mình, đối chiếu với người khác, giống như cạnh tranh và đưa đến xu hướng thay đổi hành vi, quan điểm , hành động
Qua nhóm, họ biết được kinh nghiệm người khác và so lại chính mình và chuyển đổi trong hành động ( con người cũng tự mình có những xung đột giữa cái tốt và cái xấu, nhưng chính sinh họat nhóm có tương tác nhau, quan điểm được đưa ra và NV tự biết được những điều tích cực và tự giải quyết vấn đề và đưa ra quyết định đúng).
3.Thuyết học hỏi: của ông Bandura (1977). Ông này cho rằng hành vi của các thành viên nhóm tác động lên NV.VD: một nhóm có người chửi thề, các nhóm viên khác phản ứng là lên án thì tự NV nói tục sẽ bỏ qua thói quen nói tục, nếu được chấp nhận thì cứ nói tục hòai. Theo ông, thành viên nhóm đóng vai trò kích thích thành viên khác hành động.
4. Thuyết hiện trường: Kartlewin(1947) Theo ông, nhóm có khỏang không gian sống và và có vị trí của nó so với các vật thể khác, có di chuyển theo đuổi mục tiêu xã hội để vượt qua những trở ngại. Ông cho rằng ở nhóm có 6 khái niệm về nguồn lực và chính nguồn lực này giúp nhóm họat động để đạt mục tiêu.
+ Vai trò
+ Nguyên tắc, qui tắc
+ Quyền lực
+ Sự gắn kết
+ Sự đồng thuận
+ Sự phối hơp
5.Thuyết trao đổi xã hội: chú trọng đến hành vi của thành viên nhóm. Hành vi có được do cái thưởng phạt trong nhóm.Thuyết này na ná thuyết “ học hỏi”
+ Nếu được chấp nhận thì hướng tiếp tục hành vi
+ Không chấp nhận, bị phạt thì bỏ hành vi

Nguyễn Ngọc Lâm

13 tháng 5, 2008

Kỹ năng điều hành nhóm


Kỹ năng điều hành nhóm
Cần phải làm gì để hướng dẫn cuộc họp có sự tham gia ?
1) Khuyến khích sự tham gia đầy đủ
Thông thường mọi người không nói điều mà họ thực sự suy nghĩ đặc biệt là trong cuộc họp. Đôi khi rất khó chấp nhận rủi ro và mọi người sợ bị người khác chỉ trích. Người thúc đẩy nên nhận thức khuynh hướng này và giúp mọi người vượt qua nó. Vai trò của bạn là tạo ra môi trường cho những người ngượng ngùng và e thẹn nói lên quan điểm, mong ước và mối quan tâm của mình. Đặc biệt là cần phải giúp đỡ phụ nữ và đưa quan điểm của họ vào cuộc thảo luận.
Nếu như bạn muốn phát biểu, hãy nói thật ngắn gọn và rõ ràng hoặc thú vị để giúp nhóm lắng nghe. Tránh phát biểu dài dòng vì học viên sẽ trở nên mệt mỏi và không chú ý nữa. Tốt hơn là thu hút học viên tham gia vào các hoạt động như chuẩn bị báo cáo, dán biểu đồ, v.v.
2) Thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau và vượt qua những định kiến
Nhóm có thể không làm việc tốt nhất nếu các thành viên không hiểu nhau. Hầu hết mọi người cảm thấy khó khăn khi tự mình thoát khỏi những định kiến. Người thúc đẩy giúp nhóm nhận ra rằng nhóm hiệu quả là nhóm được xây dựng trên sự hiểu biết lẫn nhau. Những quan điểm khác nhau vì vậy cần phải được thu thập và thảo luận để đi đến một kết quả thoả mãn tất cả mọi người. Việc không hiểu nhau dẫn đến sự căng thẳng cho những người tham gia. Những người lo lắng cần sự hỗ trợ và cần được đối xử một cách tôn trọng. Đối với người thúc đẩy quan trọng là không chiếm một vị trí, mà là tôn trọng tất cả các quan điểm và lắng nghe, để mọi người và mỗi người cảm thấy tự tin là mọi người đang hiểu họ.
3) Thúc đẩy giải pháp tập thể và thay đổi cách suy nghĩ thắng-thua
Mọi người thật khó có thể tưởng tượng rằng các bên tham gia với sự khác biệt rõ ràng thực tế lại có thể đạt được một thoả thuận chung làm hài lòng tất cả các bên. Hầu hết mọi người bị vướng phải quan điểm rằng giải quyết vấn đề và mâu thuẫn chỉ là chấp nhận "hoặc cách của tôi hay cách của anh”
Người thúc đẩy giúp nhóm tìm kiếm ý tưởng có thể kết hợp quan điểm của mọi người. Đây là một nhiệm vụ đầy thử thách - người thúc đẩy thường chỉ là một người suy nghĩ về những khả năng mà ở đó có thể tồn tại những giải pháp mang tính tập thể. Khi sử dụng cách suy nghĩ mới này, nhóm sẽ phát hiện những yếu tố tích cực và thường xuyên trở nên hữu ích hơn đối với hiệu quả của nhóm.
4) Chia sẻ trách nhiệm
Trong quá trình tham gia, các bên tham gia cảm thấy có trách nhiệm tạo lập và phát triển sự nhất trí mang tính bền vững. Họ thừa nhận rằng họ phảI sẵn sàng và có thể thực hiện những đề xuất mà họ đã nêu ra, vì vậy họ phảI nỗ lực hết sức để cho và nhận những đầu vào trước khi ra quyết định. Điều này đối lập với giả định truyền thống trước đây mọi người phải chịu trách nhiệm về những hậu quả của những quyết định chỉ được một thiểu số người đưa ra.
Thúc đẩy tốt hỗ trợ quá trình chia sẻ có hiệu quả trong nhóm như thế nào?
Trong số tất cả các ý kiến và kinh nghiệm được trình bày tại cuộc họp, một số thì thu hút một chút ít sự chú ý còn những ý kiến, kinh nghiệm khác thì biến mất như thể chúng chưa bao giờ được nói đến. Tại sao lại xảy ra điều này?
Đây là một lí do: một ý kiến được thể hiện theo một cách dễ hiểu và hấp dẫn sẽ thu hút sự chú ý của càng nhiều người hơn. Những ý kiến được trình bày khó hiểu hoặc đối nghịch rất khó được người khác lắng nghe và chấp nhận. Ví dụ, nhiều người thiếu kiên nhẫn với những người hay ngượng nghịu hoặc mất bình tĩnh và nói năng cộc lốc. ở hầu hết các nhóm mọi người thực sự muốn nói lên quan điểm, chia sẻ, lắng nghe kinh nghiệm của những người khác và đi đến thống nhất với những ý tưởng mới thú vị. Nhưng phạm vi và mức độ chia sẻ sẽ bị hạn chế bởi năng lực của họ và sự hỗ trợ của người thúc đẩy. Một người thúc đẩy có kĩ năng có thể là nguồn hỗ trợ tuyệt vời cho nhóm. Những gợi ý sau đây có thể giúp hạn chế những ý kiến bị lãng quên, và tăng những ý kiến được chia sẻ, thông qua can thiệp của người thúc đẩy.
Một người thúc đẩy có thể …
* tóm tắt những điều mà người khác nói khi anh ta được nhắc lại, nhằm giúp tập trung suy nghĩ của người đó,
* giúp những người nói năng cộc lốc, không trôI chảy bằng cách giúp họ nói bình tĩnh và đặt những câu hỏi gợi mở (câu hỏi thăm dò),
* nhắc lại ý kiến đã được một học viên hay ngượng nghịu khi trình bày nhằm thu hút sự chú ý của nhiều người khác,
* xử lí nghiêm khắc nhưng lịch sự và tôn trọng những ý kiến chen ngang, bằng cách nói với người muốn phát biểu rằng khi cuộc thảo luận hiện nay kết thúc, người thúc đẩy sẽ đề cập tới ý kiến của anh ta.
Quyền lực của người thúc đẩy tốt
Đặc điểm chính của một người thúc đẩy tốt là anh ta hay chị ta không chiếm vị trí trong những vấn đề thảo luận và kết quả sau thảo luận.
Anh ta hay chị ta cố gắng đảm bảo một quá trình công bằng, thẳng thắn và tạo nên một bầu không khí an toàn mà ở đó tất cả các bên tham gia đều được tham gia đầy đủ.
Bức tranh sau đây minh hoạ một số vai trò chính của một cán bộ khuyến lâm xã phảI thực hiện.
Nghe thấy là: Bị động
Lắng nghe là:
Chủ động
Thể hiện sự chú ý
Tìm kiếm ý nghĩa
Kĩ năng lắng nghe
Lắng nghe tốt khó hơn chúng ta nghĩ nhiều
Nghe thấy dường như là một việc rất dễ. Trên thực tế chúng ta nghĩ là chúng ta lắng nghe nhưng thực sự chúng ta chỉ nghe thấy cái chúng ta muốn nghe! Đây không phải là một quá trình có cân nhắc, điều đó hoàn toàn tự nhiên. Lắng nghe một cách cẩn thận và sáng tạo (tìm ra những khía cạnh tích cực, những vấn đề, khó khăn và căng thẳng) là kĩ năng thúc đẩy cơ bản nhất. Vì vậy chúng ta nên cố gắng hiểu những gì ẩn chứa trong đó, nhằm nâng cao kĩ năng của mình. Dưới đây là một số yếu tố cản trở việc lắng nghe tích cực và thúc đấy của chúng ta. Nhận thức được những cản trở này sẽ giúp chúng ta dễ dàng vượt qua chúng.
Khi lắng nghe chúng ta nên cố gắng làm những việc sau đây:
* thể hiện sự quan tâm * khách quan
* kiên nhẫn * tích cực tìm ý nghĩa
thấu hiểu * giúp người nói phát triển khả năng và động lực trong việc định hình ý nghĩ, ý tưởng và quan điểm
Khi lắng nghe chúng ta nên cố tránh làm những điều sau:
• không nên nói
• thúc giục người nói • giữ bí mật của người khác chỉ cho riêng mình bạn
• đưa ra nhận định/đánh giá quá nhanh trước
• tranh cãi • đưa ra lời khuyên trừ khi có người yêu cầu
• chen ngang • đi ngay vào kết luận
Kĩ năng đặt câu hỏi
Tại sao người thúc đẩy lại đặt câu hỏi?
ở đây có một số kĩ năng nhất định có thể giúp người thúc đẩy điều hành các cuộc họp thôn bản một cách có hiệu quả. Trước hết, phải là người lắng nghe và quan sát tốt. Tiếp theo đó là có kĩ năng trong việc đặt câu hỏi theo đúng cách và đúng thời điểm.
ở đây có một số cách để bạn có thể làm điều đó. Bạn có thể - nếu bạn cảm thấy bạn có tất cả các câu trả lời và muốn ấn định với mọi người kiến thức của bạn - thật đơn giản là đưa ra 'câu trả lời'. Hoặc bạn có thể tìm kiếm sự tham gia và tạo cho các thành viên của nhóm cơ hội phản ánh, suy nghĩ, phát hiện và đưa ra quyết định.
.
Lí do Ví dụ
Thu hút sự tham gia của mọi người Bạn cảm thấy thế nào ...?
Tìm hiểu cảm xúc, suy nghĩ, ý kiến và quan điểm của mọi người ý kiến của bạn về vấn đề này ...?
Thu hút sự tham gia của những người im lặng Tuấn, bạn nghĩ gì về vấn đề này?
Thừa nhận những đóng góp quan trọng Hoa, đây là một ý kiến rất hay. Bạn có thể nói rõ hơn cho chúng tôi được không?
Quản lí thời gian của cuộc họp Được rồi, chúng ta đã dành một chút thời gian cho vấn đề này. Bạn cảm thấy thế nào nếu chúng ta chuyển sang vấn đề khác?
Có được sự hiểu biết bằng cách tìm hiểu cả 2 mặt của vấn đề Đấy chỉ là một mặt của vấn đề. Hãy xem xét của mặt kia của vấn đề. Điều gì sẽ xảy ra nếu…?
Loại Tác dụng Rủi ro
Câu hỏi dùng để hỏi toàn bộ nhóm
(Tốt hơn là viết lên trên bảng xốp) • Khuyến khích mọi người suy nghĩ
• Rất có ích khi bắt đầu cuộc thảo luận Câu hỏi có thể không ai trả lời bởi vì không ai cảm thấy có trách nhiệm phải trả lời.
Chỉ thu được ý kiến của thành viên nổi trội trong nhóm
Đặt câu hỏi trực tiếp cho một thành viên cụ thể của nhóm Rất có ích để thu hút sự tham gia của phụ nữ, những người ít nói hoặc ngại ngùng
Tận dụng tốt kinh nghiệm của thành viên tích cực, có chuyên môn của nhóm. Nó có thể gây ngượng ngùng cho thành viên của nhóm chưa được chuẩn bị kĩ
Nếu người được hỏi không hiểu câu hỏi thì anh ta hay chị ta sẽ đưa ra cây trả lời không phù hợp.
Đặt câu hỏi bắt đầu bằng ai, cáI gì, khi nào, ở đâu, như thế nào?
Những câu hỏi này có thể không thể trả lời với câu trả lời đơn giản là có hay không Giúp phát hiện chi tiết
Rất tốt cho việc phân tích vấn đề, tình huống
Tại sao nó lại xảy ra?
Cần thay đổi cái gì? Đôi khi câu hỏi quá rộng, rất khó trả lời
Câu hỏi được bắt đầu với từ hỏi tại sao làm cho mọi người có cảm giác bị đe doạ
Câu hỏi mà người đặt câu hỏi muốn có được câu trả lời cụ thể Rất hữu ích trong việc định hướng lại thảo luận nhằm tập trung vào chủ để chính
Rất có ích trong việc kiểm tra xem liệu học viên có thực sự hiểu chủ đề thảo luận không Người thúc đẩy có thể áp đặt quan điểm của anh ta
Học viên dường như sẽ trả lời đúng như câu trả lời được mong đợi chứ không thật sự muốn chia sẻ quan đIểm
Câu hỏi thăm dò là gì?
Câu hỏi thăm dò là hỏi những câu tiếp theo nhằm thu thập thêm thông tin, hiểu rõ thêm vấn đề như là:
Bạn có thể giải thích rõ thêm được không?
Bạn có thể trình bày theo cách khác được không?
Bạn có thể cho tôi biết rõ thêm được không?
Nhưng tại sao, như thế nào, ai, khi nào, ở đâu?
Còn gì nữa không?
Câu hỏi thăm dò giống như bóc tách từng lớp của một ý kiến, quan điểm. Mục đích nhằm tìm hiểu cốt lõi của quan điểm. Điều đó có nghĩa là bằng cách hỏi thăm dò người thúc đẩy có thể tiến gần hơn tới lí do thực tế ẩn đằng sau một cái gì đó hoặc có được hiểu biết rõ hơn về vấn đề càng nhiều càng tốt.
Tại sao đặt câu hỏi thăm dò lại là một kĩ năng quan trọng đối với người thúc đẩy và sử dụng nó khi nào?
Đặt câu hỏi thăm dò có rất nhiều mục đích khác nhau. Nó có thể được sử dụng để:
thu hút mọi người
làm rõ câu hỏi, đầu vào và hoặc quan điểm,
tạo ra sự đối thoại
giải quyết vấn đề
Cách đặt câu hỏi thăm dò tốt
Khi nghe chúng ta nên cố gắng: Khi lắng nghe chúng ta nên tránh:
Lắng nghe tích cực Đưa ra đánh giá khi đang nghe
Đặt câu hỏi tiếp theo dựa trên sự hiểu biết về câu trả lời trước đó Thay đổi chủ đề liên tục
Làm rõ thông tin Đưa ra giả định
Tách biệt từng vấn đề hoặc điểm chính Lạc hướng do đi quá sâu vào từng chi tiết nhỏ
Năng động nhóm
Một số gợi ý khi làm việc với các thành viên nhóm không tích cực
Sau đây là một số kiểu thành viên nhóm mà thái độ, cách cư xử của họ có thể gây khó khăn cho cuộc họp, và một số giải pháp để giải quyết vấn đề này.
Kiểu Bạn nên làm gì
Người hay nói nhiều Tham gia trong nhóm với tư cách là người thúc đẩy.
Khuyến khích người khác bằng cách chỉ định trực tiếp họ phát biểu.
Người giữ im lặng hoặc hay e ngại Đánh giá cao bất kì sự đóng góp nào.
Khuyến khích họ ở làm việc trong nhóm nhỏ.
Người hay phản đối lại những ý kiến của bạn Tìm hiểu lí do tại sao lại như vậy.
Hỏi trực tiếp ý kiến, quan đIểm của những người khác.
Một số gợi ý khi làm việc với những thành viên nhóm tích cực
Mặt khác một số người có thể có tác động rất tích cực trong nhóm.
Với tư cách là người thúc đẩy bạn nên sẵn sàng để xác định người đóng vai trò xây dựng, tích cực trong nhóm. Những người này có thể giúp cân bằng với những thành viên có khó khăn trong nhóm.
Kiểu Bạn nên làm gì
Một thành viên trong nhóm giải thích lại cho cả nhóm Đề nghị anh ta/chị ta giúp đỡ khi thảo luận đối với những chủ đề khó
Quan sát phản ứng của các thành viên khác khi anh ta/chị ta giải thích
Một thành viên trong nhóm tìm kiếm giảI pháp Xin ý kiến, lời khuyên của anh ta/chị ta khi nhóm không đạt được thoả thuận chung
Thu hút sự chú ý vào anh/chị ta
Một thành viên trong nhóm đề xuất ý tưởng mới Khuyến khích anh ta/chị ta giảI thích ý tưởng của mình trước cả nhóm
Liên hệ những đIều anh ta/chị ta nói với chủ đề của cuộc họp
(Theo Tổ chức hợp tác kỹ thuật Đức GTZ, Hội thảo rút kinh nghiệm cho cán bộ kiểm lâm xã)

27 tháng 3, 2008

PHƯƠNG PHÁP CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NHÓM


PHƯƠNG PHÁP CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NHÓM

Lúc nào sử dụng phương pháp nhóm ?

- Khi vấn đề của thân chủ có mối tương quan giữa 2 người hoặc nhiều người ( nhóm gia đình ).
- Khi một số người có cùng vấn đề hoặc nhu cầu giống nhau ( như nhóm trẻ đường phố, nhóm phụ nữ tín dụng, nhóm đồng đẳng…)
- Khi giải quyết vấn đề chung của cộng đồng ( nhóm hành động, nhóm thanh niên tình nguyện…)

Làm thế nào để tác động vào nhóm hiệu quả ?
Vì nhóm nhằm đáp ứng những nhu cầu tâm lý, tăng trưởng, giáo dục, nâng cao năng lực... các mối quan hệ tương tác và bầu khí tâm lý xã hội của nó phải thuận lợi. Muốn vậy cần tạo điều kiện để :
- Mọi người tham gia đồng đều và bình đẳng.
- Lấy quyết định một cách dân chủ.
- Các mối tương giao thật sự cởi mở và chân tình.
- Xây dựng thói quen hợp tác.
Do đó cần quan tâm đến một số vấn đề, hiện tượng thường xảy ra trong nhóm.

Người phụ trách nhóm là ai ?
Người phụ trách cuối cùng là Nhân viên xã hội chuyên nghiệp. Có khi người đó trực tiếp điều hành nhóm có khi nhóm có người phụ trách từ các thành viên của mình, nhân viên xã hội hỗ trợ gián tiếp.
Điều đáng ghi nhớ cốt lõi của phương pháp nhóm là nếu trong phương pháp cá nhân, phương tiện chính yếu để tạo ra sự thay đổi là mối quan hệ giữa nhân viên xã hội và thân chủ thì trong phương pháp nhóm, phương tiện chính yếu là mối tương tác giữa nhóm viên với nhau. Nhân viên xã hội chủ yếu tác động vào các mối tương tác này


Các họat động trong phương pháp nhóm có các mục đích khác nhau như thế nào ?

1. Tạo điều kiện để truyền đạt bằng lời, cảm xúc, ý kiến và kinh nghiệm.
2. Phát triển tốt các mối quan hệ giữa nhóm viên.
3. Tăng cường sự gắn bó trong nhóm.
4. Tạo cơ hội để cống hiến cho người khác trong nhóm.
5. Phát triển và củng cố năng lực trong các kỹ năng xã hội khả dĩ giúp cho sự phát triển về mặt tâm sinh lý, văn hóa, lịch sử và ý thức tích cực về bản thân.
6. Kích thích các cuộc thảo luận có suy nghĩ để giải quyết vấn đề, dẫn đến sự hiểu biết bản thân, người khác và các tình huống.
7. Tăng cường khả năng ra quyết định và thực thi quyết định.
8. Giảm căng thẳng và thỏa mãn nhu cầu về sự thch thú, vui vẻ và sáng tạo.
9. Giúp nhân viên xã hội thẩm định tốt hơn nữa nhu cầu và tài nguyên nơi thân chủ.
10. 10.Giúp nhân viên xã hội thẩm định tốt hơn nữa các mối tương tác trong nhóm như là một tổng thể.

Phương pháp nhóm cần các kỹ năng gì ?

1. Kỹ năng lãnh đạo.
2. Kỹ năng điều hòa sự tham gia các nhóm viên.
3. Biết nhìn với cái nhìn mới.
4. Chọn mô hình truyền thông có mục đích.
5. Khuếch đại các thông điệp tinh tế.
6. Giảm nhẹ các thông điệp quá mạnh mẻ.
7. Tạo sự liên kết trong cảm xúc.
8. Chuyển hướng các thông điệp.
9. Hướng các vấn đề để trở lại cho nhóm.

Khi sử dụng một họat động trong phương pháp nhóm, chúng ta cần lưu ý cái gì ?

- Mục đích của họat động sẽ góp phần đạt tới mục tiêu của nhóm.
- Trọng tâm của họat động là yêu cầu và tính chất quan hệ : gần gũi hay khỏang cách, chia sẻ và hợp tác, ganh đua và mâu thuẩn, liên quan đến cá nhân hay nhóm, hoặc cả hai.
- Những kỹ năng cần thiết.
- Tác động trên cách biểu lộ hành vi.
- Cơ hội lấy quyết định cho cá nhân và nhóm.
- Sự phù hợp với tình huống có thật.
- Họat động này có điểm nào tế nhị về mặt văn hóa và lịch sử.
- Có phù hợp về thời điểm không ( trong một buổi sinh họat nhóm và phụ thuộc vào giai đọan phát triển của nhóm ).

Nguyễn Ngọc Lâm

26 tháng 3, 2008

Vai trò và các kỹ năng của nhân viên xã hội trong CTXH nhóm


1. Vai trò của nhân viên xã hội trong công tác xã hội nhóm

Vai trò của NVXH trong phương pháp này không phải chủ yếu là tác động vào cá nhân mà vào tiến trình nhóm, có nghĩa là như ở phần thành lập nhóm, NVXH nghiên cứu kỹ thành phần nhóm viên, giúp nhóm xác định mục tiêu thì ở đây vai trò của NVXH là tìm hiểu cơ cấu hình thức và phi hình thức của nhóm và giúp cho hai cơ cấu nhích lại gần nhau. Có nhiều cách tìm hiểu cơ cấu phi hình thức. Trước tiên là quan sát: trong nhóm ai thân với ai, ai cùng nhau tới sinh hoạt, thái độ của nhóm viên đối với trưởng nhóm chính thức ra sao, ai ủng hộ hay phản đối, tại sao, ai bị cô lập? Trong buổi thảo luận ai hay rù rì với ai, ai nhìn nhau, ai củng cố hay phản bác ý kiến của ai? Trong công tác ai giúp đỡ ai, ai không chịu giúp ai?

Ngoài sinh hoạt nhóm ai đi chơi với ai hay tới nhà ai... Có một cách tìm hiểu khá nhanh và chính xác nhưng đòi hỏi kỹ năng chuyên môn. Đó là một trắc lượng xã hội (sociogram). Bằng một câu hỏi cho mỗi nhóm viên bạn sẽ vẽ được sơ đồ các mối quan hệ trong nhóm. Câu hỏi đó là:

Bạn thích chơi với ai nhất và
Bạn thích làm việc với ai nhất

Ví dụ : Hạnh có vẻ được nhiều uy tín nhất với 5 thành viên vừa muốn cùng chơi và làm việc. Đức có vẻ là một “hoạt náo viên” vui chơi với tánh tình chắc là vui vẻ dễ dàng nhưng không phải là một người có thể trông cậy vào được về mặt công tác. Duyên có vẻ là một người hơi nghiêm túc, người ta thích cùng cộng tác mà không ai thích chơi. Mai đặc biệt không ai muốn cùng chơi hay cùng làm và Mai có thể bị cô lập. NVXH nên tìm hiểu vì sao?

Nếu Hạnh chính thức cũng là trưởng nhóm thì NVXH có thể yên tâm là nhóm đã lựa chọn đúng lãnh tụ của mình. Nếu trưởng nhóm chính thức là một nhân vật khống chế tập thể hay quá bất tài, NVXH có thể từ từ giúp nhóm viên công nhận điều đó và có thể cởi trói về mặt thủ tục hay thói quen và quan hệ để bầu ra người khác khi thuận lợi.

NVXH có nên làm trưởng nhóm không? Vai trò lý tưởng của NVXH là xúc tác viên, khuyến trợ viên còn chính thức lãnh đạo nhóm nên là một trong các nhóm viên. Tuy nhiên sự can thiệp chính thức của NVXH tùy thuộc vào hoàn cảnh và trình độ phát triển của nhóm. Ví dụ với những đối tượng có vấn dề tâm lý nặng tham gia với mục đích trị liệu hay trẻ em còn nhỏ, vai trò NVXH gần như là trung tâm. Với một CLB thanh niên, một nhóm hành động ở địa phương NVXH, là một người tư vấn. Dù về mặt chính thức chủ động hay thụ động, NVXH cũng cần vận dụng kiến thức kỹ năng chuyên môn để hỗ trợ và đưa nhóm đến mục tiêu.

Nguyên tắc tự quyết cũng phải được áp dụng trong nhóm và tinh thần phụ thuộc của nhóm cần được khắc phục dần dần.

Trong suốt thời gian sinh hoạt nhóm, NVXH sẽ có dịp hiểu rõ hơn các đối tượng, phát hiện thêm những nhu cầu, khó khăn của từng cá nhân. Có người sẽ cần sự tiếp xúc riêng, có trường hợp trẻ có vấn đề, NVXH phải tiếp tục tới thăm gia đình, làm việc với phụ huynh. Như thế, phương pháp CTXH với cá nhân cũng được vận dụng để hỗ trợ phương pháp nhóm.
NVXH phải ghi chép diễn tiến nhóm trong và ngoài các buổi sinh hoạt (nếu có tiếp xúc riêng). Nhờ sự ghi chép này, NVXH nắm bắt diễn tiến nhóm, phản ứng, cảm xúc của nhóm viên, và sau mỗi lần sinh hoạt có thể lượng giá và điều chỉnh sự việc để buổi sinh hoạt sau được tốt hơn. Ví dụ khi ghi lại một buổi sinh hoạt, NVXH chú ý đến sự kiện một em bé không được các em khác quan tâm đến. Lần tới, NVXH sẽ nhờ một trẻ tích cực cùng chơi và giúp đỡ em.

Quan sát là công cụ quan trọng giúp NVXH nhạy bén với diễn tiến phát triển của nhóm.

Một số vai trò cụ thể của nhân viên xã hội :

· Tìm hiểu cơ cấu chính thức và phi chính thức để giúp hai cơ cấu này cộng tác với nhau

· Tác động vào mối tương tác giữa các thành viên : Nếu một nhóm viên bị bỏ rơi thì NVXH phải can thiệp, tạo điều kiện đưa họ hòa nhập vào nhóm và làm việc riêng với các nhóm viên khác để họ thay đổi thái độ với nhóm viên này. Nếu không giải quyết được thì bắt buộc phải chuyển nhóm viên này qua nhóm khác.

· NVXH giúp nhóm viên có kỹ năng diễn đạt.

· Nhân viên xã hội cần phải am hiểu tâm lý của từng người

· Phát hiện nhu cầu cầu, khó khăn của từng nhóm viên

· Hỗ trợ nhóm xây dựng chương trình hoạt động : Nên để nhóm chủ động xây dựng kế hoạch hoạt động.

· Xác định vai trò của mình : Khi nào là xúc tác ? khi nào là lãnh đạo.

Khi nào nhân viên xã hội can thiệp vào nhóm :

· Can thiệp khi nhóm đi lệch mục tiêu của buổi thảo luận nhóm ( vai trò giữ cửa)

· Can thiệp khi nhóm có mâu thuẩn, xung đột. NVXH làm rõ ý kiến của hai bên, giải thích, giúp hai bên tìm điểm chung để có thể thoả hiệp.

· Can thiệp khi truyền thông bị tắc nghẽn (hiểu sai ý của người khác, dùng từ xúc phạm…): NVXH can thiệp bằng cách đính chính lại câu nói, giúp nhóm viên dùng từ thích hợp, nhẹ nhàng hơn, tránh những câu nói mang tính phê phán con người (nói sự kiện thì tốt hơn).

· Khi có thiểu số thống trò nhóm và áp đặt số còn lại, NVXH tìm hiểu xem những cá nhân đó vô tình hay cố ý, tập huấn cho nhóm về sự hài hòa trong tham gia nhóm.

· Có người nói nhiều quá, những người còn lại sẽ thụ động, NVXH phải gặp riêng người đó và một cách tế nhị

· Khi trường hợp có nhóm viên đặt câu hỏi, NVXH nên chuyển câu hỏi này về các nhóm viên khác để trả lời, không nên tự trà lời hết những thắc mắc của nhóm viên, điều này giúp tăng sự tương tác và tạo cơ hội cho từng nhóm viên có cơ hội phát triển.

· Có hiện tượng ngôi sao (có uy tín, giỏi), NVXH phải giúp cho họ biết che giấu mình hơn để tránh sự lệ thuộc của các nhóm viên khác, nếu không được thì có thể chuyển họ qua nhóm khác cùng trình độ.

Tóm lại, vai trò của nhân viên xã hội được thể hiện tùy thuộc vào mục tiêu nhắm vào sụ thay đổi ở cá nhân, nhóm hay cộng đồng.

2. Các kỹ năng trong công tác xã hội nhóm

Để có những kỹ năng hiệu quả thì nhân viên xã hội phải được đào tạo chuyên môn, nắm vững lý thuyết (Tâm lý nhóm, truyền thông trong nhóm, công tác xã hội cơ bản, công tác xã hội nhóm) có kinh nghiệm làm việc ở các nhóm lấy quyết định, nhóm trị liệu, nhóm tự giúp hoặc nhóm giải quyết vấn đề…Những kinh nghiệm được thu thập qua quan sát, qua làm trực tiếp và rút ra những bài học từ thực tế sinh động và đa dạng ở những môi trường khác nhau, các đối tượng và lứa tuổi khác nhau.

Công tác xã hội nhóm là một hoạt động khá phức tạp nhiều so với công tác xã hội cá nhân vì nó mang nhiều yếu tố biến đổi cần phải quan tâm như : cá nhân thành viên nhóm, tiểu nhóm, toàn nhóm, mục đích của nhóm, môi trường bên ngoài của nhóm, chương trình hoạt động, cơ sở hoạt động và yếu tố quan trọng là năng động nhó, bầu khí của nhóm. Thật không dễ dàng để trông coi cùng lúc, tập trung vào các thành viên nhóm, cá nhân hay tập thể nhóm và vượt qua được những cảm xúc được khơi dậy trong người mình. Do đó đôi khi cũng cần một người đồng nghiệp phụ giúp. Nhưng người phụ giúp có khi làm rối ren thêm do mối quan hệ với nhóm hoặc do không thống nhất trong cách can thiệp. Cách tốt nhất là nếu chúng ta gặp khó khăn là chúng ta gặp một người có chuyên môn để được tư vấn thêm.

Ngoài ra, trong công tác xã hội nhóm, những kỹ năng cơ bản cần có là :

· Kỹ năng điều hành nhóm
· Kỹ năng truyền thông
· Kỹ năng quan sát
· Kỹ năng giải quyết mâu thuẫn
· Kỹ năng viết báo cáo
· Kỹ năng đánh giá và nhận diện vấn đề.

3. Một số vấn đề cần quan tâm trong công tác xã hội nhóm

3.1. Những điều nên làm

· NVXH cần có kiến thức về nhóm (tâm lý nhóm, năng động nhóm, kỹ năng sinh hoạt nhóm, tổ chức nhóm, cơ cấu nhóm (chính thức và phi chính thức)

· Nắm vững các nguyên tắc hành động và vận dụng vào trong CTXH nhóm một cách linh động, hiệu quả. NVXH hoạt động cùng với nhóm theo một tiến trình, tuy nhiên cần linh hoạt theo tình huống.

· Cùng với nhóm xác định mục tiêu chính của nhóm, mục tiêu này dựa trên nhu cầu của nhóm.

· NVXH là người chia sẻ kinh nghiệm, cung cấp thông tin cho nhóm

· Hòa giải, củng cố nhóm khi có xung đột, mâu thuẩn

· Tùy theo quá trình của nhóm mà NVXH cần phải xác định rõ ràng vai trò của mình chất xúc tác hay người lãnh đạo.

· NVXH cần ghi chép đầy đủ, rõ ràng những diễn tiến trong quá trình sinh hoạt nhóm, cần nắm rõ giai đoạn phát triển của nhóm .

· Tăng cường sự gắn bó, chấp nhận của nhóm viên (quan hệ cởi mở và bình đẳng ) , truyền thông, tạo sự tương tác giữa các thành viên, tạo bầu không khí tự do, thoải mái để nhóm viên có thể thể hiện những ức chế cá nhân và nhu cầu cá nhân

· Tăng cường lòng tin và giảm sự thù địch lẫn nhau (tạo thói quen hợp tác nhóm).

· Huy động tài nguyên, tiềm năng.

· Sắp xếp kế hoạch nhóm một cách khoa học.

· Giúp cho những tranh luận tập trung vào vấn đề hiện tại.

· Thúc đẩy thực hiện mục tiêu lâu dài của nhóm .

· Cần linh động khi giải quyết mâu thuẩn.

· Tôn trọng ý kiến của từng cá nhân .

· Theo dõi chỉ báo của các mục tiêu cụ thể (quan tâm đến việc thay đổi hành vi, giúp cá nhân đánh giá được hiệu quả của công việc và lượng giá cuối.)

· Thúc đẩy sự sáng tạo trong nhóm, khuyến khích đưa ra nhiều ý kiến hay.

3.2. Những điều không nên làm

· không áp đặt theo ý của NVXH.
· Không giải quyết thay nhóm (NVXH không ôn đồm).
· Không nên để cho nhóm viên hướng theo mục tiêu riêng (lệch mục tiêu).
· Không nên để cho nhóm phân chia thành những nhóm nhỏ mà phải đoàn kết.
· Khi thành lập nhóm, số lượng không quá đông .
· Không nên để cho nhóm viên cảm thấy căng thẳng ( không thoải mái).
· Trong nhóm tuổi tác, trình độ không quá chênh lệch
· Không nên để có trình trạng ngôi sao hoặc cô đơn xuất hiện
· Không nên để nhóm tan rã khi NVXH rời cơ sở
· Không nên để cho mục tiêu nhóm không rõ ràng
· Không để xuất hiện sự ỷ lại trong nhóm (phân công rõ ràng) khi hợp nhóm hoặc sinh hoạt nhóm không nên để cho thời gian kéo dài
· Không nên vi phạm nguyên tắc trong CTXH.
· Không nên bỏ qua những khả năng, tiềm năng của nhóm viên.
· Không nên chỉ trích nhóm viên trước mặt nhóm (cần sự góp ý một cách tế nhị)
· Không phân biệt, kì thị.
· Không nên để nhóm viên dán nhãn nhau.
· Không nên xúc phạm nhóm viên
· NVXH không nên là một người đầy quyền uy

Nguyễn Ngọc Lâm

25 tháng 2, 2008

TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM


1. Công tác xã hội nhóm là gì ?

CTXH nhóm là phương pháp trong CTXH nhằm giúp tăng cường, củng cố chức năng xã hội của cá nhân thông qua các hoạt động nhóm và khả năng ứng phó với các vấn đề của cá nhân , có nghĩa là :

o Ứng dụng những kiến thức, kỹ năng liên quan đến tâm lý nhóm (hoặc năng động nhóm)

o Nhóm nhỏ thân chủ có cùng vấn đề giống nhau hoặc có liên quan đến vấn đề.

o Các mục tiêu xã hội được thiết lập bởi NVXH trong kế hoạch hỗ trợ thân chủ (cá nhân, nhóm, cộng đồng) thay đổi hành vi, thái độ, niềm tin nhằm giúp thân chủ tăng cường năng lực đối phó, chức năng xã hội thông qua các kinh nghiệm của nhóm có mục đích nhằm để giải quyết vấn đề của mình và thỏa mãn nhu cầu.

Konopka (1963) xác định phương pháp công tác xã hội nhóm là một phương pháp của ngành công tác xã hội giúp những cá nhân tăng cường chức năng xã hội của họ thông qua các kinh nghiệm của nhóm mục tiêu và khắc phục một cách hiệu quả hơn các vấn đề của cá nhân, nhóm và cộng đồng. Công tác xã hội nhóm tạo một bối cảnh trong đó các cá nhân hỗ trợ lẫn nhau, làm cho cá nhân và nhóm có khả năng ảnh hưởng và làm thay đổi các vấn đề của cá nhân, của nhóm, của tổ chức và của cộng đồng. Nó mang tính chất chức năng xã hội nhiều hơn và chính điều này làm cho nó khác hơn với nhóm trị liệu vì nhóm trị liệu chú trọng nhiều hơn các nhu cầu cảm xúc và các tiến trình tâm lý.

Mục đích của CTXH là giúp thân chủ (cá nhân) hay hệ thống thân chủ (nhóm hay cộng đồng) thỏa mãn nhu cầu, giải quyết vấn đề, tiến tới tự giúp và đóng trọn vẹn vai trò xã hội của mình, mặc dù kết quả nhắm tới là một đối tượng và phương pháp tác động khác nhau.

Trong phương pháp cá nhân, đối tượng được tác động vào là chính cá nhân người được giúp đỡ. Công cụ là mối quan hệ giữa NVXH và thân chủ.
Trong phương pháp nhóm, đối tượng tác động vào là toàn nhóm, là mối tương tác giữa các nhóm viên, là mục đích, bầu không khí, sinh hoạt nhóm. CTXH nhóm là sử dụng cơ cấu nhóm và năng động trong nội bộ nhóm để đem đến những thay đổi về nhận thức, niềm tin và hành vi. Các thành viên nhóm chia sẻ kinh nghiệm và sử dụng nguồn lực của cá nhân và của nhóm để giải quyết vấn đề của họ.

Trong phát triển cộng đồng, đối tượng là các tập thể khác nhau trong cộng đồng, mối tương quan sức mạnh giữa họ, những vấn đề của cộng đồng với mục đích cuối cùng là làm tăng khả năng tự giải quyết vấn đề cộng đồng.

2. Các mục tiêu của công tác xã hội nhóm :CTXH nhóm nhắm vào các mục tiêu như sau :

- Khảo sát về các đặc điểm của cá nhân :

Thông qua các sinh hoạt nhóm, NVXH (tác viên nhóm), các nhóm viên có thể phát hiện nhu cầu/khả năng/hành vi của mỗi cá nhân trong nhóm thông qua sự bộc lộ và tự đánh giá của ho (nhóm trẻ em/người lớn phạm pháp, nhóm cha mẹ nuôi, nhóm trẻ em đường phố). Từ những khám phá này, tác viên nhóm xây dựng chiến lược để đáp ứng nhu cầu, giúp chuyển đổi hành vi và giải quyết vấn đề.

- Duy trì và hỗ trợ cá nhân :

Cá nhân tham gia vào nhóm cảm thấy an toàn hơn. Nhóm hỗ trợ cá nhân đương đầu với những khó khăn trước hoàn cảnh xã hội (nhóm người khuyết tật, nhóm phụ huynh khuyết tật, nhóm sinh viên đi học xa nhà có nhu cầu rất mạnh tham gia nhóm cùng hoàn cảnh để chăm sóc cho nhau)

- Thay đổi cá nhân :

Nhóm có tác dụng giúp cá nhân thay đổi những hành vi cá biệt và phát triển nhân cách thông qua các yếu tố kiểm soát xã hội (nhóm vi phạm luật pháp nhằm tránh tái phạm trong tương lai), xã hội hoá (nhóm trẻ trong cơ sở tập trung học tập kỹ năng xã hội để tái hòa nhập cộng đồng), hành vi tương tác (nhóm huấn luyện để tự khẳng định); Giá trị và thái độ mới (nhóm sử dụng ma túy nhằm tác động đế thay đổi Giá trị và thái độ của họ), hoàn cảnh kinh tế (nhóm người thất nghiệp với mục đích tìm việc làm), cảm xúc và khái niệm về bản thân (nhóm phát triển lòng tự trọng, tăng năng lực).

Bà D. tới gặp NVXH và than rằng chồng bà từ ngày thất nghiệp thay đổi tánh tình hay uống rượu, ít quan tâm đến gia đình. Tới lượt ông chồng thì cho rằng từ ngày ông mất việc, bà hay nói xiên nói xéo rằng cuộc sống gia đình khó khăn, bà phải làm việc gấp đôi, ngụ ý là ông không làm tròn bổn phận nên ông buồn chán, mặc cảm. Từ đó cuộc sống trong gia đình căng thẳng. Đứa con trai vị thành niên bỏ nhà ra đi v.v... ở đây nếu làm việc với cả hai vợ chòng, hay với cả gia đình thì sẽ kết quả hơn vì NVXH có thể tạo điều kiện cho đôi bên đối thoại trong một bầu không khí thuận lợi.

Khi một số người có vấn đề hay nhu cầu giống nhau như một nhóm phụ nữ mới sinh con lần đầu biết thêm về cách nuôi dạy con, một nhóm bệnh nhân tâm thần trong giai đoạn phục hồi, một nhóm trẻ em bỏ học. ở đây tính chất đồng cảnh đồng thuyền làm cho đối tượng cảm thấy mình không phải lẻ loi, gặp người cùng cảnh ngộ họ cảm thấy vơi đi phần nào trước khó khăn.

Khi trao đổi với nhau vấn đề người này làm cho người kia sáng ra về chính mình. Hơn hết, sự khuyến khích giúp đỡ lẫn nhau của chính thân chủ là một nguồn động viên lớn. Có người nhờ đóng vai trò giúp đỡ người khác mà thoát ra khỏi khó khăn của chính mình. Từ nhóm sẽ có nhiều sáng kiến để giải quyết vấn đề. ở đây tác động của nhóm sẽ mang lại hiệu quả cao hơn là những cuộc tiếp xúc cá nhân giữa tác viên và thân chủ. Có khi người ta ngại cuộc trao đổi mặt đói mặt trong bầu không khí nghiêm trang. Bầu không khí nhóm sẽ ít có vẻ long trọng và họ sẽ thoải mái hơn. Nhóm trở thành một nguồn lực giải quyết vấn đề quý giá. Dĩ nhiên nhờ sự tác động của tác viên vào diễn tiến của nhóm thì nhóm mới sinh hoạt thuận lợi. Một lý do cuối cùng để người ta sử dụng nhóm là sự tiện lợi, đỡ mất thời giờ. Ví dụ như phổ biến một số thông tin cho các bà mẹ về kế hoạch hóa gia đình khi họ chờ để khám thai. Nếu có nhiều câu hỏi, trao đổi giữa các bà mẹ thì lượng thông tin sẽ có tác dụng hơn. Tuy nhiên cũng không nên quên rằng có những trường hợp không phù hợp với phương pháp nhóm.

- Cung cấp thông tin, giáo dục :

Nhóm giáo dục sức khỏe, nhóm kỹ năng làm cha mẹ, nhóm tình nguyện viên.

- Giải trí :

Vui chơi để đền bù sự mất mát trong cuộc sống. Nếu một người cô đơn hay suy nghĩ tiêu cực có thể có hành vi tiêu cực, buông xuôi; người khuyết tật hay có tâm trạng chán đời, mang hình ảnh bản thân thấp kém và sống tách biệt với những người xung quanh. Chính môi trường sinh hoạt giải trí vui chơi trong nhóm giúp cho con người cảm thấy lạc quan hơn và tăng cường mối quan hệ.

Tạo điều kiện cho cá nhân có môi trường trung gian giữa cá nhân với một hệ thống xã hội : Nhóm bệnh nhân và bệnh viện, nhóm phụ nữ nghèo và Quỹ vay vốn, nhóm trẻ đường phố và trường học hay trung tâm dạy nghề

- Thay đổi và/ hoặc hỗ trợ :

Ở đây thường là các nhóm mà NVXH thường xuyên tác động, ảnh hưởng qua lại lẫn nhau như:
· Nhóm gia đình (nhưng đòi hỏi kỹ năng chuyên môn, tay nghề giỏi mới làm được, khả năng thành công không cao như ở các nhóm khác), NVXH giúp cải thiện những trục trặc trong truyền thông và mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình.
· Nhóm trẻ phạm pháp : NVXH định hướng chuyển đổi các hành vi tiêu cực của trẻ bằng những hoạt động tích cực tại địa bàn dân cư.

- Thay đổi môi trường :

Nhóm trong dự án phát triển cộng đồng – nhóm ở cơ sở cải thiện chất lượng cuộc sống, nhóm phụ huynh của một trường học mẫu giáo ...

VD: Tại Trường mẫu giáo, khi họp phụ huynh, người ta thường đánh giá về cô giáo, cách dạy, vấn đề ăn uống, cách đối xử của cô giáo đối với học sinh -> nhằm thay đổi môi trường.

- Thay đổi nhận thức xã hội :

Nhóm giúp tăng cường nhận thức của cá nhân và xã hội về một vấn đề nào đó, ví dụ nhóm người khuyết mong muốn xã hội nhìn nhận họ như là người bình thường, tạo điều kiện và cơ hôi cho họ hòa nhập tốt hon là coi họ như người cần phải cưu mang, bố thí. Càng xem họ như vậy thì họ càng tuổi thân, tự ti và cảm thấy là gánh nặng cho xã hội.

Mục tiêu xã hội được lập bởi NVXH nằm trong một kế hoạch nhằm thay đổi hành vi, thái độ, niềm tin, thói quen, quan điểm, giúp thân chủ tăng năng lực để đối phó với những khó khăn trong cuộc sống.

Do tác động qua mối tương tác giữa các thành viên trong nhóm, mối tương tác này là công cụ chính dẫn đến sự thay đổi của nhóm viên, khác với CTXH cá nhân là mối quan hệ tương tác giữa thân chủ và NVXH.

3. Các đặc điểm của công tác xã hội nhóm :
o Hoạt động nhóm là nơi giúp thoả mãn nhu cầu của cá nhân.Thông qua môi trường sinh hoạt nhóm, cá nhân được đáp ứng nhu cầu giao tiếp. Mối quan hệ tương tác trong nhóm giúp họ chấp nhận nhau, tôn trọng nhau và từ đó nhờ vào sự tác động của NVXH tạo được một môi trường thuận lợi cho việc phát huy năng lực.

o Đối tượng tác động là mối quan hệ tương tác trong nhóm. Chính mối quan hệ tương tác này là công cụ chính trong CTXH nhóm để đạt các mục tiêu xã hội.

o Nhóm tăng cường khả năng tự giải quyết vấn đề thông qua ảnh hưởng của người khác, cá nhân bắt chước và học tập kinh nghiệm của người khác.
o Ảnh hưởng nhóm giúp thay đổi hành vi, thái độ của cá nhân
o Nhóm là môi trường bộc lộ về các mặt : cá tính, suy nghĩ, tâm sự…

o Chương trình hoạt động là một công cụ của công tác xã hội nhóm :

Trị liệu thông qua nhóm nhằm giúp cho thân chủ bộc lộ được cảm xúc, diễn đạt được cảm nghĩ, tâm tư của mình cho nên nói, đối thoại là hoạt động chủ yếu. Diễn kịch, vẽ hay một vài hình thức nghệ thuật khác được sử dụng nhưng mục đích không phải nhắm vào khía cạnh kỹ thuật diễn hay vẽ mà chỉ tạo điều kiện cho sự bộc lộ.

Trong CTXH nhóm ngoài những hình thức trên, chương trình là công cụ chủ yếu, nhất là khi CTXH nhằm vào mục đích xã hội hóa. Các hoạt động giải trí, thể dục thể thao, học kỹ năng sẽ là điểm thu hút và quy tụ nhóm viên. Chương trình có mục tiêu sẽ là động lực liên kết để vươn tới. Ví dụ sinh hoạt văn nghệ với mục đích luyện tập cho một buổi biểu diễn thời trang nội bộ, tập kịch để trình diễn vào cuối năm, sưu tầm các văn bản, hiện vật tiến tới một cuộc triển lãm về truyền thống v.v... Nếu có nhiều nhóm khác nhau cùng nhằm tới một mục đích, sẽ có sự tranh đua lành mạnh giữa các nhóm.

Chương trình còn giúp giới trẻ phát huy tiềm năng học tập các kỹ năng cần thiết cho cuộc sống. Chương trình đối với một nhóm hành động có thể là cải thiện môi sinh, giải quyết một vấn đề khu phố.

Chương trình cần được nghiên cứu, chuẩn bị cho phù hợp và mang tính thu hút cao đối với đối tượng. NVXH trong CTXH nhóm không nhất thiết là người giỏi về kỹ năng sinh hoạt vì họ có thể mời sự hợp tác của các chuyên viên, và huy động tiềm năng của chính nhóm viên. Tuy nhiên, nếu là một NVXH thường xuyên phụ trách sinh hoạt trẻ thì kỹ năng sinh hoạt hay thủ công rất cần thiết. Hoạt động cụ thể (lao động) rất tốt về mặt ổn định tâm lý và tạo cơ hội tương tác thật.

Có điều cần nhắc lại là chương trình là công cụ, không phải cứu cánh. Mục đích cuối cùng của CTXH nhóm không phải là một vở diễn xuất sắc, một cuộc triển lãm hay mà là sự phục hồi hay tăng trưởng của nhóm viên, khả năng hợp tác, liên kết, kỹ năng giao tiếp v.v... Khác với một lớp dạy nghề chẳng hạn mà mục đích cuối cùng là sự chuyên môn hóa học viên.

Chương trình và tiến trình tâm lý xã hội phải được quyện vào nhau. Đặt nặng khía cạnh nào tùy mục tiêu của nhóm. Nhưng ví dụ đối với một nhóm thiếu nữ nghèo (ít được chăm sóc) trong một lớp học may thì cả hai mục tiêu: huấn nghệ và giáo dục phát triển nhân cách đều quan trọng như nhau.

Vì khía cạnh tâm lý xã hội khó nắm bắt nên thường các CLB đội nhóm chỉ quan tâm đến khía cạnh kỹ thuật của sinh hoạt.

7 yếu tố cần quan tâm trong công tác xã hội nhóm :

· Đối tượng là ai ?

· Nơi sinh hoạt, bối cảnh sinh hoạt có thuận lợi không vì nhóm rất cần có môi trường hội họp và sinh hoạt vui chơi giải trí.

· Nhu cầu gì cần được đáp ứng (nhu cầu thông tin, nhu cầu tìm việc làm, nhu cầu đào tạo nghề…). Một nhóm có nhu cầu giống nhau thì sẽ đồng nhất và thể hiện sự quan tâm, hòa hợp mạnh mẽ hơn. Ở một nhóm có nhu cầu và mối quan tâm khác nhau, sự tham gia vào hoạt động chung của nhóm sẽ bị giới hạn nhiều.

· Mục tiêu cần đạt được là gì ? Mục tiêu là giải quyết vấn đề của nhóm viên, nhóm viên thay đổi niềm tin, thái độ, hành vi và có khả năng đương đầu với những khó khăn mới. Cần phân biệt giữa mục tiêu của các hoạt động và mục tiêu xã hội.

· Giá trị: sinh hoạt nhóm dựa trên quan điểm gì ? (Tại sao phải lập nhóm?)
Nhóm người cai nghiện tại cộng đồng : Giá trị là tăng sức mạnh trong nỗ lực cai nghiện và cương quyết không tái nghiện.
Nhóm Phụ nữ tín dụng tiết kiệm : Giá trị là giúp họ có khả năng thoát nghèo và tiếp cận được các tài nguyên xã hội).

· Lý thuyết: sử dụng lý thuyết nào và cơ sở lý luận của nó? Chủ yếu là dựa trên lý thuyết về tâm lý và năng động nhóm.

· Phương cách thực hành ; cơ cấu (số lượng, thành phần, tuổi, giới tính, trình độ), vai trò (vai trò do phân công, vai trò thể hiện theo tình huống, cảm xúc, công việc khi sinh hoạt nhóm), trách nhiệm, mối quan hệ bên trong ( cơ cấu phi chính thức và chính thức) và bên ngoài nhóm (quan hệ với tài nguyên bên ngoài), các loại hoạt động nào được sử dụng, cách thức tổ chức ...

4. Các loai hình công tác xã hội nhóm:
o Nhóm giải trí : rèn luyện đạo đức và phát triển nhân cách. Mỗi hình thức và nội dung giải trí được nhân viên xã hội (NVXH) chọn lựa đều có mục đích xã hội (Trong nhà Mở, chiếu phim truyện cho trẻ xem hoặc kể chuyện cho trẻ nghe, sau đó cho các em thảo luận về nội dung, giúp trẻ phân biệt cái tốt/cái xấu cần tránh.

o Nhóm giáo dục : Giáo dục về kiến thức và kỹ năng (Nhóm các bà mẹ phòng chống suy dinh dưỡng cho con, nhóm chăn nuôi, nhóm đồng đẳng HIV/AIDS…

o Nhóm tự giúp : Nhóm hỗ trợ nhau để vượt khó (Nhóm người khuyết tật, nhóm đồng đẳng, nhóm cai nghiện…). Thường nhóm được NVXH giúp trong giai đoạn đầu, sau đó rút dần vai trò để nhóm tự đề ra các hoạt động, khi cần thiết thì NVXH mới can thiệp.

o Nhóm với mục đích xã hội hóa hay tái xã hội hóa : Nhóm giúp tăng cường khả năng xã hội. Ví dụ : Nhóm trẻ có hành vi không thích nghi (nhóm học sinh cá biệt tại trường học, nhóm trẻ đường phố…). Mục đích ở đây là phát triển nhân cách, giáo dục con người. Đi từ thấp đến cao có nhóm giải trí, nhóm kỹ năng cho trẻ em và thanh thiếu niên như hướng đạo, đọi nhóm CLB. Nhưng ở đây khía cạnh tâm lý xã hội được quan tâm nhiều chứ không chỉ chú trọng đến dạng kỹ năng. Đối với trẻ em và thanh thiếu niên đây là một môi trường xã hội hóa bổ sung cho gia đình và trường học hết sức quan trọng. Trước tiên những nhu cầu cơ bản kể ở phần trên được đáp ứng để dần tới những nhân cách lành mạnh, sung mãn. Kế đó sẽ có những con người tháo cát, biết hợp tác, cống hiến cho xã hội. Đó là nói đến các đối tượng bình thường. CTXH nhóm còn nhằm đặc biệt đến những thanh thiếu niên do hoàn cảnh đẩy đưa tới cuộc sống theo băng nhóm, phá quậy. Bằng cách từ từ lôi cuốn họ tham gia vào các hoạt động giải trí, thể dục, thể thao, văn hóa xã hội, họ sẽ thay thế những hành vi chống xã hội bằng những hành vi tích cực. Đó là mục đích tái xã hội hóa. Công việc này tất nhiên rất khó khăn. Thường thì các tác viên xã hội phải “thâm nhập” các băng nhóm sẵn có để tìm hiểu và từ từ giúp thay đổi cơ chế của nhóm cũng như hướng tới các hoạt động mang tính tích cực xã hội. Cũng có khó các nhóm được thành lập tại các trung tâm xã hội hay cộng đồng.

o Nhóm trị liệu : Nhóm là môi trường chia sẻ cảm xúc và trao đổi những kinh nghiệm, những vấn đề gặp phải (Nhóm cai nghiện, nhóm gia đình…). Nhóm gặp nhau định kỳ, trao đổi, tâm sự những vấn đề của mình (thất bại trong cuộc sống, phản hồi, góp ý cho nhau, cá nhân nhìn thấy vấn đề rõ hơn và có hướng giải quyết vấn đề). Ở đây là những đối tượng có vấn đề tâm lý mà thay vì chỉ dùng biện pháp cá nhân, sinh hoạt nhóm sẽ giúp thân chủ có điều kiện tâm lý xã hội tốt hơn để tự bộc lộ, thay đổi thái độ, hành vi (nhóm nghiện ma túy đang trên đà phục hồi chẳng hạn). Khi vấn đề nằm ở mối quan hẹ như thành viên một gia đình, CTXH nhóm vừa giúp cá nhân có vấn đề vừa giúp điều chỉnh lại mối quan hệ.

o Nhóm trợ giúp : Nhóm giúp tăng cường khả năng đồng cảm với người khác (Nhóm đồng đẳng HIV/AIDS vừa là tự giúp nhau vừa tác động xã hội để xã hội hiểu biết và đồng cảm với họ, không phân biệt đối xử ).

o Nhóm hành động (nhằm cải tạo môi trường và điều kiện xã hội)

Trong đời sống hàng ngày con người tự nguyện liên kết với nhau để giải quyết những vấn đề chung như cải thiện nhà ở, bảo vệ môi trường v.v... hay các quyền lợi khác. Ngày nay có nhiều nhóm gọi là “nhóm tự giúp” là các tổ chức do chính những người trước đó cần rất nhiều sự giúp đỡ của tổ chức và NVXH. Đó là những cựu bịnh nhân các loại, những người khuyết tật, những người trước kia là nạn nhân xã hội đã và đang vươn lên để thật sự tự giúp mà không còn phụ thuộc vào sự trợ giúp bên ngoài nữa. Người nghèo nhiều nơi đã liên kết tự giúp để thoát khỏi nghèo đói và đưa cộng đồng họ đi lên.

Các tác giã phân chia CTXH nhóm theo nhiều cách, nhưng nói chung có thể gom lại vào ba hạng mục tổng hợp trên. Thực chất ở mỗi loại có nhấn mạnh một khía cạnh như trị liệu, xã hội hóa, hay hành động nhưng không có ranh giới giữa ba cấp độ. Nhóm người cựu nghiện ma túy một khi được trị liệu có thể trở thành một nhóm hành động để giúp đỡ những người đồng cảnh. Một nhóm hướng đạo khi trưởng thành tiếp tục các hoạt động vì lợi ích xã hội trong cộng đồng. Đối với các nhóm hành động dù mục đích cuối cùng là hướng ngoại, là cải thiện môi trường xung quanh nhưng để hành động như một nhóm các thành viên cũng phải có những hiểu biết và kỹ năng tâm lý xã hội để hoạt động có hiệu quả. Từ đó thông qua hành động họ cũng có những thay đổi trong nhân cách, cải thiện mối quan hệ giữa người và người. Trong PTCĐ, chính các nhóm hành động nhằm giải quyết các mục tiêu khác nhau là động lực để cải thiện đời sống cộng đồng.

o Công tác xã hội nhóm và các ngành khác liên quan đến nhóm

Giữa các khoa như năng động nhóm, CTXH nhóm, trị liệu nhóm có những khác biệt như thế nào? Thực chất các lãnh vực này rất gần gũi. Sự khác biệt xuất phát từ mục tiêu, và một số khía cạnh về phương pháp.

Các khóa học về năng động nhóm (Group Dynamics) thường gọi là T Group (Training Group), Sensitivity Training Group thông qua thảo luận và một số phương pháp khác như sắm vai (role playing), trò chơi v.v... nhằm mục đích đào tạo. Đây là một môn tâm lý xã hội ứng dụng nhằm giúp học viên trở thành nhạy bén (sensitive) hơn về tâm lý nhóm, về mối tương tác trong nhóm, về chính mình trong nhóm.

Mọi thành phần trong xã hội có thể tham dự các khóa học về năng động nhóm để tăng kỹ năng giao tiếp, lãnh đạo trong gia đình, giáo dục, nhà quản lý.

Nhân viên CTXH phải có kiến thức và kỹ năng cơ bản về năng động (hay tâm lý) nhóm mới có thể thực hiện CTXH nhóm.
Trị liệu nhóm (Group therapy) nhằm trị liệu cá nhân các bịnh nhân tâm thần, những người bị rối loạn, ức chế tâm lý khá sâu. Mối tương tác giữa bịnh nhân được sử dụng để hỗ trợ quá trình trị liệu nhưng công tác này đòi hỏi kiến thức chuyên sâu về tâm lý, tâm lý trị liệu và tâm thần học.

Gia đình trị liệu (GĐTL), là một phương pháp sử dụng gia đình như một nhóm. Nó nhằm giải quyết những vấn đề của cá nhân thông qua sự điều tiết lại các mối quan hệ vợ chồng con cái. Xuất phát ít nhiều từ dịch vụ xã hội nhóm, GĐTL nhắm vào các gia đình có vấn đề tâm lý, tâm thần trầm trọng và rạn nứt nặng. GĐTL đã trở thành một ngành riêng kết hợp kiến thức tâm lý học, tâm thần học và CTXH. Một số NVXH đã trở thành chuyên viên GĐTL nhưng phải thông qua đào tạo thật vững chắc mới hành nghề này được.

CTXH nhóm nhằm vào người bình thường cũng như có vấn đề nhưng ở mức độ vừa phải. Khác với nhà tâm lý trị liệu mà mục đích chuyên môn là giúp cho thân chủ sáng tỏ và có sức mạnh nội tâm để giải quyết khó khăn, NVXH còn phải giúp người đó vận dụng tài nguyên trong xã hội như tìm công ăn việc làm, nắm vững luật bảo hiểm xã hội, biết cách xin trợ cấp, tìm nơi gởi con tạm v.v... Trong CTXH nhóm không chỉ có thảo luận trao đổi mà còn cần tới nhiều loại hình sinh hoạt như thể dục thể thao, ca hát, thủ công, kỹ năng đủ loại từ kỹ thuật đến xã hội. Ví dụ đối với trẻ em không thể ngồi thảo luận và với các cụ già không thể không có những cuộc du ngoạn, dã ngoại, đan móc v.v...

Tuy nhiên nhiều nơi coi các sinh hoạt này là mục tiêu thay vì chỉ là những phương tiện, công cụ để đạt tới các mục tiêu trị liệu hay xã hội hóa.

5. Những thuận lợi và bất lợi trong trị liệu thông qua nhóm

5.1 Những thuận lợi :

o Nhóm giúp có những kinh nghiệm xã hội : Trao đổi và bộc lộ cho nhau

o Nhóm là nguồn hỗ trợ lẫn nhau và giải quyết vấn đề

o Nhóm giúp thay đổi thái độ, cảm xúc, hành vi do mối tương tác xã hội và phản hồi, cá nhân khám phá về bàn thân và hiểu được người khác (cửa sổ Johari)

o Mỗi thành viên trong nhóm là một người có tiềm năng giúp đỡ. Vai trò của NVXH và thân chủ ít phân biệt được trong nhóm do có sự chia sẻ lãnh đạo giữa các thành viên trong nhóm và NVXH cũng là một thành viên.

o Nhóm có thể dân chủ và tự quyết, cung cấp nhiều quyền lực hơn cho nhóm viên

o Nhóm thích hợp cho các đối tượng thụ hưởng dịch vụ và tiếp cận các tài nguyên được dễ dàng hơn ( Y tế, giáo dục, vốn,…)

o Nhóm có thể tiết kiệm thời gian và năng lực của NVXH

5.2 Những bất lợi :

o Việc bảo mật khó duy trì trong CTXH nhóm hơn là trong CTXH cá nhân.

o Sinh hoạt nhóm phức tạp, mất nhiều thời gian và đòi hỏi ở khả năng chuyên môn của NVXH.

o Nhóm được thành lập có khó khăn để hoạch định, tổ chức và thực hiện. Công việc chuẩn bị cho loại nhóm nầy là quan trọng, có nhiều khó khăn cản trở phải khắc phục ở cấp độ nhóm viên, đồng nghiệp và cơ quan.
o Nhóm cần nhiều tài nguyên : NVXH có thể phải thương lượng để có những tiện nghi, quỹ, trang thiết bị, di chuyển...

o Cá nhân ít được quan tâm riêng trong nhóm. Một số cá nhân, ít nhất là ở vào giai đoạn phát triển nào đó không thể ứng phó với việc chia sẻ, cạnh tranh trong bối cảnh nhóm, họ cần một sự quan tâm đặc biệt của một mối quan hệ cá nhân. Trong nhóm họ có thể disruptive, thụ động, tổn thương hay là vật tế thần. Đôi khi một thời gian công tác với cá nhân có thể chuẩn bị tốt cho sự tham gia nhóm.

o Cá nhân dễ bị “dán nhãn” hơn. Thí dụ nhóm phụ huynh đơn thân, nhóm trẻ trốn học, nhóm nghiện rượu...

o Nhóm có thể nguy hiểm đối với một thiểu số nhỏ. Nhóm và người hướng dẫn nhóm có thể tấn công một cá nhân, từ chối cá nhân. Lãnh đạo nhóm như thế nào sẽ giảm thiểu được nguy cơ nầy (liên quan đến kỹ năng lãnh đạo nhóm). Hơn nữa nếu trong sinh hoạt dân chủ, việc thiểu số phục tùng đa số có thể đưa đến sự ức chế ở thiểu số. Cơ cấu ngầm có thể xuất hiện và “chọi” lại cơ cấu chính thức.


6. Các điều kiện cần có để thực hành công tác xã hội với nhóm có chất lượng:

1. Nhóm thân chủ phải là nhóm những người có vấn đề giống nhau
2. Nhân viên xã hội phải nắm vững kiến thức về năng động nhóm và tâm lý nhóm
3. Nhân viên xã hội phải quan tâm đến việc giúp các thành viên nhóm trở thành một hệ thống giúp đỡ lẫn nhau ;
4. Nhân viên xã hội nhóm phải hiểu vai trò của tiến trình nhóm tự nó như là động lực chính yếu cho sự thay đổi của cá nhân và tập thể, tiến trình nhóm là công cụ chính của công tác xã hội với nhóm.
5. Nhân viên xã hội nhóm luôn tìm cách tăng cường sự tự quản của nhóm;
6. Nhân viên xã hội nhóm giúp các thành viên nhóm ý thức về mục tiêu của nhóm
7. Nhân viên xã hội luôn đánh giá định kỳ mức độ thay đổi của từng thành viên và của nhóm
8. Nhân viên xã hội phải có kỹ năng quan sát mối tương tác trong nhóm, kịp thời giải quyết mâu thuẫn, cải thiện truyền thông trong nhóm vì mối tương tác giữa các thành viên nhóm là động lực đưa đến sự thay đổi.

ThS Nguyễn Ngọc Lâm