20 tháng 6, 2008

Nhân viên xã hội chuyên nghiệp



BạN Tự NÂNG Đỡ MÌNH VÀ NÂNG Đỡ ĐồNG NGHIệP


BạN Tự NÂNG Đỡ MÌNH VÀ NÂNG Đỡ ĐồNG NGHIệP

Khi hoạt động công tác xã hội, ta khó tìm được thì giờ để nghĩ đến việc tự nâng đỡ mình và nâng đỡ các bạn đồng nghiệp. Nhưng vấn đề lâu dài, những ai được nâng đỡ về mặt tinh thần sẽ hoạt động hữu hiệu hơn, khó rơi vào tình trạng cạn kiệt tâm lý, “hết nhiên liệu”.
CẠN KIỆT
Người “cạn kiệt” là người mất hứng thú trong công việc làm lụng chiếu lệ chứ không suy nghĩ hoặc hoạch định, không còn năng lực để đáp ứng những cơn khủng hoảng hoặc đáp ứng người khác, cảm thấy suy sụp tinh thần và chán chường. Thường có kèm theo những rối loạn sinh lý khiến người ấy không làm việc được nữa.
Tình trạng cạn kiệt xảy ra khi con người sống dưới sự căng thẳng (stress), gánh vác những trách nhiệm nặng nề không có đủ thì giờ để thư giãn và giải trí. Người bị cạn kiệt khó có thể đáp ứng một cách thông cảm với người khác.
Có thể làm gì để tránh bị cạn kiệt ?
Thái độ tinh thần ?
Nên tự nhủ rằng mình không thể làm tất cả mọi chuyện hoặc không giải quyết tất cả mọi vấn đề. Đôi khi có thể tìm được người gánh vác đỡ một ít trách nhiệm hoặc chia sẻ công việc với bạn tuy rằng bạn có thể cảm thấy áy náy vì muốn liên tục chăm lo cho trẻ.
Nghỉ ngơi và thư giãn
Khi có quá nhiều đau khổ trong cộng đồng, ta có thể cảm thấy áy náy khi dành thời giờ để nghỉ ngơi tuy biết rằng nghỉ ngơi sẽ giúp ta làm việc hiệu quả hơn. Rất cần có những thời gian giải lao đều đặn.
Rất hữu ích nếu có sự linh động về thời gian nghỉ việc, ví dụ có thể ngừng làm việc vào một vài ngày không nhất định để lo việc riêng hoặc để nghỉ ngơi.
Luân phiên thay đổi trách nhiệm và công tác
Tình trạng cạn kiệt khó xảy ra hơn nếu ta có thể luân phiên thay đổi trách nhiệm và công tác cho mọi cá nhân.
Nâng đỡ và chăm sóc
Những cuộc họp hội đồng nhân viên khiến cho sự căng thẳng không thể chồng chất lên được: mọi người có dịp đào sâu vào các vấn đề và nâng đỡ nhau về mặt tinh thần và xã hội. Người nào bất mãn gay gắt với cách tổ chức công việc thì càng dể bị cạn kiệt sức lực vì công việc.
Chăm sóc cho cá nhân hoặc chăm sóc cho các nhóm một cách đều đặn là việc rất cần thiết đối với những người làm việc trong những hoàn cảnh khó khăn. Ví dụ, 3 nhân viên không được huấn luyện làm nhiệm vụ chăm sóc một nhóm trẻ em khuyết tật - hàng tháng các nhân viên này được một y sĩ săn sóc sức khỏe và điều này khiến cho họ có thể tiếp tục làm việc rất hiệu quả.
Nâng cao tay nghề.
Việc huấn luyện cho các nhân viên giúp họ cảm thấy mình được trân trọng chứ không chôn chân mãi ở lối mòn buồn tẻ. Công tác huấn luyện phải vừa vui tươi vừa hữu ích !
Trích quyển Trao đổi với trẻ, trợ giúp trẻ bị khổ tâm
Naomi Richman

BẾ TẮC TRONG VIỆC TRAO ĐỔI VỚI TRẺ BỊ KHỔ TÂM


BẾ TẮC TRONG VIỆC TRAO ĐỔI VỚI TRẺ BỊ KHỔ TÂM
1. SAO TRẺ KHÔNG NÓI ?
Trẻ thường khó trò chuyện cởi mở và ta hay khó chịu vì cảm thấy mình vô dụng hoặc bị trẻ lờ đi.
Cuộc trò chuyện nào cũng có những giây phút im lặng; đó là điều bình thường, phải bình tĩnh và kiên nhẫn chấp nhận. Bạn thử liệt kê thật nhiều lý do của một tình cảnh có sự bế tắc thật sự khi chuyện trò.
Trong bản liệt kê của bạn có thể có những lý do sau đây :
• vì bạn chưa khuyến khích sự trao đổi, trò chuyện đúng
• vì trẻ vướng mắc những trở ngại về ngôn ngữ, ví dụ : điếc tai, không phát âm đúng, chậm phát triển về ngôn ngữ hoặc mọi mặt khác, cũng có thể vì trẻ không thạo ngôn ngữ đang được sử dụng.
• vì tình trạng tâm lý sôi động của trẻ khiến em không thể trò chuyện một cách dễ dàng.
2. CÁCH TRÒ CHUYỆN CỦA BẠN
Trẻ có cảm thấy thoải mái và sẵn sàng cởi mở hay không là tùy ở cách trò chuyện của bạn. Người lớn gây trở ngại cho cuộc trò chuyện khi :
• nói quá nhiều;
• hay phê phán, đánh giá;
• cười nhạo hoặc hạ nhục trẻ;
• đàn áp hoặc ức hiếp trẻ;
• chính bạn bị đau buồn hay có tình cảm sôi nổi;
• nói ngược lại trẻ hoặc tranh luận với trẻ;
• khó chịu hoặc bối rối khi trẻ đau buồn;
• không tôn trọng niềm tin hoặc lối sống của trẻ;
• không tạo ra được hoàn cảnh để trẻ có thể yên tâm tin tưởng bạn;
Những nỗi khó khăn của người lớn trong việc chuyện trò với trẻ


Những kỷ niệm đớn đau trong lòng người nghe
Chẳng phải lúc nào người lớn cũng dễ dàng trò chuyện với trẻ. Thường là người đang cố gắng giúp đỡ một em bé cũng đã từng chịu khổ y như em này, và những kỷ niệm đớn đau này sống lại khi nghe em bé kể chuyện. Đôi khi người ấy muốn khóc và vì vậy đâm ra bối rối hoặc sợ mình không còn tự chủ được nữa. Nếu gặp tình huống này, bạn nên cố gắng tập trung tư tưởng vào những đau khổ của em bé chứ không phải những đau khổ của bạn. Bạn và em bé có lặng thinh trong giây lát, và rồi bạn nói vài lời gì đó chẳng hạn như : "Những điều ấy khiến chú cũng buồn theo", hoặc "Cháu nói tiếp những gì cháu đương nói lúc nãy đi". Khi trẻ nhận ra rằng người lớn cũng có những tâm trạng đau thương và họ đã phải tập vượt qua những đau thương đó thì nhận thức này có ích cho trẻ.
Không biết làm sao ứng phó
Thật khổ sở khi nghe trẻ nói ra những đau khổ và khó khăn của em, nhất là khi bạn không biết đáp ứng như thế nào và e sợ rằng mình sẽ làm cho tình cảm của trẻ tệ hơn nữa. Khuynh hướng tự nhiên là muốn né tránh sự đau khổ của trẻ và muốn ngăn trẻ lại để em đừng bộc lộ khổ đau nữa : " Đừng khóc”, "Thôi đừng nghĩ đến chuyện ấy nữa"; thậm chí còn muốn thoát ra khỏi cảnh bị nghe em nói.
Nếu em bé rất sầu khổ, hãy an ủi em và từ từ khuyến khích em tiếp tục cuộc trò chuyện. Hãy cho em thấy rằng việc em bày tỏ tâm trạng với bạn là hợp tình hợp lý, rằng bạn có thể chấp nhận đau khổ của em và sẽ chẳng tránh né em sau khi em đã tâm sự với bạn.
Nếu bạn cho rằng em bé ấy đang ở trong tình trạng chao đảo thì hãy lo liệu sao cho có đủ thời giờ trước khi trò chuyện với em kẻo chưa kịp an ủi em thì đã phải đứng lên đi làm việc khác. Hãy liệt kê trước tất cả những cách an ủi khác nhau mà bạn biết được để tạo cho mình tư thế sẵn sàng giúp trẻ bị chao đảo mạnh (xem phần 6). Bản thân bạn cũng phải được nâng đỡ đầy đủ, có thể bạn mới dễ dàng đương đầu với đau khổ của người khác hơn (xem phần 11).
3. TẠI SAO TRẺ THẤY KHÓ TRAO ĐỔI
Trò chuyện với người lớn
Nhiều trẻ em không quen nói cho người lớn nghe về tâm trạng của chúng nhất là những người lớn mà em không quen biết nhiều. Nhiều xã hội qui định rõ ràng vấn đề chuyên biệt nào thì phải trao đổi với ai, chẳng hạn trẻ muốn xin lời khuyên thì phải đến với người lớn nào mới đúng luật. Một bé gái có thể chỉ cảm thấy thoải mái khi kể cho bà nghe về việc em bị cưỡng hiếp, hoặc nếu không có bà em sẽ nói chuyện với một phụ nữ luống tuổi.


Khó diễn tả cảm xúc bằng lời
Nhiều trẻ em chưa bao giờ được khuyến khích để tự nói về mình và không có đủ lời để diễn tả tâm trạng.
Trẻ nào gặp phải những biến cố bi thương thì thường khó diễn tả tâm trạng bằng lời. Có thể do em sợ bị choán ngợp bởi chính những tâm trạng của mình và muốn đè nén những tâm trạng ấy. Có những trẻ chẳng nói năng gì suốt mấy tháng, thậm chí suốt mấy năm, sau khi gặp chuyện quá buồn đau. Đâu phải lúc nào cũng dễ dàng thấy rõ được tâm trạng của mình là thế nào. Có những kinh nghiệm hoặc tâm trạng quá đau thương đến nỗi ta không thể nghĩ đến chúng được nữa - chúng đã biến thành vô tri vô giác như đóng băng trong lòng ta.
Hoài nghi, thiếu tin tưởng
Trẻ sống trong tình cảnh khó khăn thường có đủ lý do để ngờ vực. Các em có thể sợ bị chỉ điểm, bị tố giác, bị trừng phạt hoặc bị cưỡng bách hồi hương vì không được chấp nhận cho hưởng qui chế người tị nạn. Những người lớn mà các em gặp thường có vẻ xa cách với em và không hiểu được những khó khăn này.
Giận dữ và có ác cảm
Một số trẻ tức giận người lớn vì bị bạc đãi hoặc không được chăm sóc thích đáng; hoặc có thể do các em cứ đinh ninh mình sẽ bị phê bình hoặc trừng phạt.
Mặc cảm có tội, tự trách mình
Lại có những em hổ thẹn vì những gì đã xảy đến cho mình như bị cưỡng dâm, bị làm nhục; hoặc các em tự trách mình vì đã không bảo vệ được cho gia đình, vì mình còn sống sót trong khi mọi người thân đều thiệt mạng.
4. KHÔNG NÓI THẬT
Cũng như người lớn, trẻ không luôn luôn nói ra sự thật. Thay vì tức giận với các em, bạn hãy cố gắng tìm hiểu xem nguyên nhân nào dẫn đến trở ngại này.
Ước mơ một tình cảnh khác
Đối với trẻ nhỏ tuổi, mộng và thực đôi khi không có ranh giới. Thí dụ các em ước mơ rằng ba, má hoặc một người ruột thịt thân yêu nào đó vẫn còn sống - ước mơ ấy mãnh liệt đến nỗi điều này có vẻ như thật đối với các em.
Tránh né những đề tài đau thương
Thay vì nói về nỗi đau thương, ta thường thấy tránh né không nói về cái đau thương đó lại dễ hơn. Lúc đầu, Mateus nói rằng cậu không biết cha mẹ cậu hiện ở đâu. Nhưng khi bắt đầu cảm thấy tin tưởng người lớn đang trò chuyện với mình, cậu bắt đầu kể lại cha mẹ bị giết như thế nào.
Sợ bị hậu quả xấu
Có những trẻ không dám đả động gì đến nhà ở hoặc ký túc xá của mình vì sợ sẽ bị phạt vì tội kêu ca phàn nàn. Hãy giải thích rõ rằng sẽ không xảy ra chuyện em phải chịu khổ do bạn thông tin với người khác những gì em nói ra hoặc những gì ghi trong hồ sơ của em.
Cố gắng lấy lòng người lớn
Trẻ thường không biết tại sao có cuộc trò chuyện với bạn. Các em cố gắng nói ra những điều "hay", những điều mà các em cho rằng bạn muốn nghe, biết đâu chừng nhờ thế các em sẽ được lợi lộc, chẳng hạn sẽ được phát thêm thực phẩm hoặc quần áo.
Cố ý nói dối
Trẻ chỉ muốn đặt niềm tin tưởng vào bạn sau khi bạn đã tạo được một bầu khí tin tưởng - điều này càng rõ hơn trong trường hợp bạn tiếp xúc với trẻ em đường phố và những trẻ em có dính líu đến tội ác và bạo lực. Thay vì từ chối không trò chuyện, các em có thể bịa đặt ra những câu trả lời để mau chóng tống khứ bạn đi. Lại có những trẻ lôi kéo sự chú ý của bạn bằng cách khoác lác về những tội ác kinh khủng hoặc những hành vi bạo lực dữ dội mà chúng đã thực hiện - điều này dễ xảy ra khi trẻ khám phá ra rằng chúng có thể thu hút sự chú ý bằng những câu chuyện như thế.
Nếu thấy nghi ngờ về những gì trẻ nói ra, bạn có thể gợi lại chuyện ấy để tìm hiểu thêm. Đừng tranh cãi, bắt bẻ hoặc phê bình, nhưng hãy nói những lời như : "Nói chuyện về những điều gay go / về cuộc sống của các em thật khó lắm chứ nhỉ" để tỏ ra rằng cho dù các em đã không nói sự thật, bạn vẫn sẽ chấp nhận các em.
5. CÓ THỂ LÀM GÌ ĐỂ GIÚP TRẺ CỨ MÃI LẶNG IM ?
Cần phải vượt qua những trở ngại cho việc trao đổi nói trên bằng cách tìm hiểu nhau và xây dựng niềm tin tưởng, tuy có thể phải mất một thời gian lâu dài. Hãy nhớ rằng trẻ vẫn bộc lộ tâm trạng của chúng dù không bằng lời nói. Hãy cố gắng nắm bắt được những gì trẻ đang truyền thông bằng hành vi cử chỉ, qua việc vui chơi và sự liên hệ với người khác. Hãy nhìn nhận rằng nhẫn nại là cần thiết và hãy tỏ ra rằng bạn chấp nhận trẻ và không phê phán các em. Những đề nghị sau đây có thể hữu ích :
• Sự vuốt ve vỗ về và chú ý đến trẻ để tỏ sự quan tâm;
• Dùng các trò chơi, các hoạt động, các chuyến đi dã ngoại để giúp trẻ cảm thấy thoải mái và an toàn;
• Dùng tranh vẽ, chuyện kể, con rối, mặt nạ, tức các phương tiện giúp trẻ bộc lộ tâm trạng;
• Đưa trẻ vào một nhóm nhỏ để học tập và vui chơi để em có cơ hội quen thân với một số em khác và cảm thấy yên ổn với các em ấy. Chú ý chăm lo sao cho em không bị các em khác phớt lờ hoặc bỏ quên;
• Đừng ép em phải trò chuyện, nhưng hãy đáp ứng sốt sắng và tích cực khi em cố gắng phơi bày tâm sự. Cứ nói với em càng nhiều càng tốt dù em không đáp lời bạn;
6. TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC VUI CHƠI VÀ DIỄN TẢ TÂM TRẠNG
Có nhiều hình thức diễn tả cho phép trẻ bộc lộ tâm trạng mình một cách yên tâm, thoải mái, đồng thời được giải trí vui vẻ và cảm thấy hãnh diện vì những thành tích của mình :
Trò chơi tưởng tượng :
Hoặc một mình, hoặc cùng với các em khác, trẻ có thể "diễn xuất" những chuyện buồn đau. Đừng ngăn cản hình thức diễn kịch tự phát này vì nó giúp trẻ ổn định dần những cảm xúc và kỷ niệm đau thương của em.
Dùng truyện kể
Những truyện kể về những nhân vật đã khắc phục khó khăn trong cuộc sống của nhân vật đó giúp trẻ liên tưởng đến chính mình lướt thắng những khó khăn của chính em. Ví dụ, truyện kể về những con vật nhỏ bé biết dùng mưu đánh bại sư tử và voi, hoặc truyện kể về những người làm được phép mầu và lập được kỳ tích - những truyện này truyền đạt ý tưởng là ngay cả những người rõ là yếu đuối cũng có thể thành công, và như thế chúng khích lệ sự tự tin trong lòng các em.
Vẽ tranh
Qua tranh vẽ, trẻ truyền thông những kinh nghiệm và những tâm trạng mà em khó nói ra bằng lời. Bạn cần lưu ý để không gây ảnh hưởng đến những gì em vẽ. Em nào chưa vẽ bao giờ có thể chưa tự tin và hỏi phải vẽ gì, hoặc em sao chép tranh người khác đã vẽ hoặc tranh nhìn thấy trong sách. Trước tiên nên đề nghị trẻ vẽ bất cứ cái gì trẻ muốn vẽ. Về sau, bạn có thể đề nghị một đề tài như "tương lai của em", "giấc mơ", "gia đình em", "chiến tranh" - những đề tài như thế chỉ kích thích óc tưởng tượng của trẻ chứ không ảnh hưởng đến việc em phải xử lý tâm tư, tình cảm của em như thế nào.
Khi trẻ vẽ xong, bạn có thể xin trẻ nói cho bạn nghe về bức vẽ ấy, nhưng đừng ép em phải nói. Việc vẽ tranh tự nó có thể là một phương tiện giải tỏa tâm lý hoặc có thể mở đường cho việc trao đổi trò chuyện bằng lời.
Không nhất thiết phải cần đến giấy bút mà có thể vẽ ngay xuống đất hoặc dùng đất sét để nặn hình tượng.
Nếu có thể, bạn hãy treo tranh lên tường hoặc cất giữ chu đáo để tỏ ra rằng bạn trân trọng những gì trẻ đã làm.
Dùng con rối và mặt nạ
Khi giả vờ làm người khác, trẻ có thể bộc lộ ý nghĩ, tâm trạng của mình mà lúc bình thường rất khó nói. Trẻ có thể giấu mình sau chiếc mặt nạ hoặc con rối và trò chuyện với con rối hoặc mặt nạ của người lớn đang giúp em. Làm như vậy, em không cảm thấy lo liệu như khi trò chuyện trực tiếp.
Âm nhạc và vũ
Âm nhạc, ca hát và nhảy múa là những phương tiện rất hữu hiệu để giúp những trẻ có tâm lý quá căng thẳng, u sầu, nhất là nếu các ca khúc và giai điệu đó lại quen thuộc và liên kết với những kỷ niệm vui tươi. Tiết tấu và tiết điệu có tác dụng giải tỏa căng thẳng và đem lại tâm trạng sảng khoái. Hoạt động tập thể khiến trẻ cảm thấy an toàn và có thể bày tỏ tâm trạng mà không phải dùng đến lời nói hoặc không cảm thấy e thẹn.
Kịch nghệ
Việc tham gia vào hoạt động kịch nghệ cũng đem lại lợi ích không kém, vì trẻ sáng tác ra một câu chuyện diễn tả điều gì đó quan trọng đối với các em. Trẻ có thể dùng mặt nạ để cách ly mình với những cảm xúc của các nhân vật.
Ví dụ, trẻ có thể thực hiện một vở kịch kể về những kinh nghiệm thực sự của các em và thử nghiệm các kiểu khác nhau cho các kịch bản : kết có hậu và kết không có hậu. Khi kết thúc, bạn có thể trao đổi với trẻ xem các em cảm thấy thế nào về vở kịch và đoạn kết của vở kịch.
Thay vì diễn xuất, bạn và trẻ có thể dựng kịch múa rối. Loại hình này tránh cho trẻ khỏi bị xáo động vì phải trực tiếp đối phó với cảm xúc của những con người "thật".
Viết
Đối với những trẻ biết viết thì việc làm thơ, viết truyện về những gì các em đã trải qua là phương tiện rất hữu ích để diễn đạt tâm trạng.
Trong tất cả các hoạt động nói trên, bạn hãy để cho trẻ tự do diễn tả theo ý thích. Đừng phê bình kỹ thuật biểu diễn hoặc chất lượng biểu diễn của trẻ vì làm như thế là ngăn trở trẻ diễn đạt tự do, thoải mái.
7. TRẺ CHƯA ĐẾN TUỔI ĐI HỌC
Nhiều người lớn thấy rất khó trao đổi với trẻ nhỏ tuổi. Ở tuổi này, không phải lúc nào trẻ cũng có thể trò chuyện dễ dàng. Một số em im bặt luôn một thời gian dài sau khi đã trải qua một kinh nghiệm buồn đau. Tuy em bé không hỏi han về gia đình hoặc về tương lai của em, nhưng rất có thể em đang nghĩ đến những điều ấy. Ta cần phải trò chuyện với em một cách đơn giản và dịu dàng về những điều có thể em đang bận tâm. "Chắc là cháu đang lo lắng cho gia đình cháu lắm ... Thật là buồn vì không biết ba má bây giờ ở đâu", và giải thích một cách đơn giản về những kế hoạch cho tương lai của em. Tùy theo mức độ đáp ứng của em, ta có thể cho em biết thêm điều này, điều nọ. Chỉ nguyên việc chấp nhận tâm trạng của em đã là giúp được em rồi. Trẻ sẽ nhận ra người lớn nào không muốn biết đến tâm trạng và ý nghĩ của em, và em sẽ không cố gắng trao đổi nữa.
Điều hết sức quan trọng là phải đưa ra nhiều cách thức khác nhau để trẻ nhỏ tuổi bộc bạch tâm sự. Có thể là :
• gần gũi, thân mật với trẻ;
• trò chơi, truyện kể;
• những hoạt động mang tính diễn tả như vẽ tranh, ca vũ nhạc, kịch tuồng, múa rối ...
Ví dụ - một em bé trầm lặng
Mulwene được vào nhà trẻ mồ côi khi em mới lên năm vì chiến tranh đã đẩy em vào cảnh vô gia đình. Em đã ở viện mồ côi được 5 tháng và vẫn không nói năng gì với ai. Sự yên lặng ấy có thể vì những lý do gì ?
Một vài gợi ý :
• phải chăng em bị điếc ?
• em không hiểu thứ tiếng đang được sử dụng chăng ?

Mulwene không có vẻ gì là bị điếc cả. Em đã đáp ứng được những câu nói yêu cầu đơn giản, những tiếng động rất nhỏ và em không hề nhìn miệng người ta để hiểu người ta đang nói gì. Rõ ràng là em hiểu được thứ ngôn ngữ đang được sử dụng.
Em có dáng vẻ buồn rầu, mau nước mắt, tránh né tiếp xúc với các em khác và không thiết gì đến việc chơi đùa. Em luôn đi theo các nhân viên làm việc trong viện mồ côi.
Viện mồ côi đã giúp em như thế này :
• một cuộc thảo luận được tổ chức, và kết luận đưa ra là Mulwene sầu buồn vì mất hết liên lạc với gia đình; em cần phải được quan tâm săn sóc đặc biệt;
• một thành viên, cô Josefa, được chọn ra làm người chăm sóc đặc biệt cho em. Một thành viên khác sẽ tạm thay thế mỗi khi Josefa nghỉ ngơi.
• Josefa hết sức quan tâm đến Mulwene. Hàng ngày vào một giờ đều đặn, cô chơi đùa với em và hai em khác nữa trong vòng 15 phút. Cô kể chuyện cho các em nghe và khuyến khích các em vẽ tranh. Mulwene đã vẽ mấy bức về gia đình của em và dần dần em có thể nói cho Josefa nghe đôi điều về người thân của mình. Dần dần, em làm bạn với các em khác và tỏ ra vui vẻ hơn
8. TRẺ LỚN HƠN
Một số trẻ lớn không muốn trò chuyện với người lớn vì sợ bị phê bình hoặc vì các em có những điều muốn giấu. Ví dụ, đó là các trẻ em đường phố, các em trai có dính líu đến các hành vi bạo lực hoặc các em gái đã bị cưỡng hiếp.
Ví dụ - trẻ khó trao đổi với người lớn
Sonia là một bé gái 13 tuổi. Rất ít khi em đến trường, và nếu có đi học thì em cũng rất tách biệt, lẻ loi. Thầy giáo của em mời cha mẹ em cùng với em đến gặp thầy. Trước mắt cha mẹ, Sonia đã nói ra với thầy tâm trạng hổ thẹn của em vì bị cưỡng hiếp cách đó mấy tháng. Thầy bày tỏ ý thông cảm rằng đây là điều rất khó cho Sonia vượt qua, nhưng thầy vẫn khuyến khích cô bé đến trường và hòa mình vào một nhóm nhỏ các nữ sinh trong lớp. Từ đó trở đi cô bé đã có thể đi học đều đặn.
Benito 12 tuổi, đã từng dính líu vào một vụ ẩu đả có vũ khí. Cậu rất thô bạo, hung hăng, không tin tưởng người khác và chẳng cần bị trêu chọc cũng sẵn sàng vung nắm đấm. Cậu được gửi vào làm việc với một bác thợ mộc lớn tuổi. Trong vòng mấy tháng, cậu dần dần trở nên gắn bó với bác thợ và bắt đầu mở miệng bàn bạc về tương lai của mình.

9. TÓM TẮT
Sau khi trải qua những kinh nghiệm đau thương, có thể trẻ thấy khó trao đổi trò chuyện. Bạn cần ghi nhớ những điểm sau đây :
• Việc trao đổi với trẻ sở dĩ gặp trở ngại có thể là vì bạn chưa đáp ứng thích đáng đối với trẻ - ví dụ, chưa xây dựng được bầu không khí tin tưởng, thiếu khích lệ trẻ, gây trở ngại cho những nỗ lực trao đổi trò chuyện của trẻ.
• Một trong những cách tốt nhất để nâng cao kỹ năng trao đổi là xin các đồng nghiệp quan sát, góp ý để bạn tiến bộ hơn.
• Các đồng nghiệp có thể hỗ trợ, giúp đỡ bạn ứng phó với những tâm trạng căng thẳng đau buồn của chính bạn.
• Ý muốn trao đổi trò chuyện của trẻ có thể bị ngăn trở bởi những tâm trạng khác như buồn sầu, không tin tưởng, tức giận hoặc mặc cảm tội lỗi.
• Nếu trẻ có vẻ như không nói thật, hãy cố gắng tìm hiểu tại sao; hãy chấp nhận việc nói dối như một cách để trẻ diễn tả những tâm trạng nào đó.
• Bạn có thể góp sức phá vỡ những trở ngại cho việc trao đổi bằng cách đem đến cho trẻ những phương tiện diễn tả khác và bằng cách xử sự nhẫn nại.

Trích quyễn Trao đổi với trẻ, trợ giúp trẻ bị khổ tâm

19 tháng 6, 2008

Luật Phòng chống ma túy sửa đổi, bổ sung có hiệu lực từ 1-1-2009


Luật Phòng chống ma túy sửa đổi, bổ sung có hiệu lực từ 1-1-2009

Mạnh tay hơn sau cai nghiện

Các đồng đẳng viên đang phát tờ rơi tuyên truyền chống ma túy, mại dâm ở cửa khẩu Lạng Sơn
Luật sửa đổi, bổ sung sẽ linh động hơn, tạo cơ hội để người nghiện được quyền lựa chọn: Cai nghiện tại gia đình, cộng đồng hoặc trong các cơ sở cai nghiện. Nhưng người nghiện hoặc gia đình người nghiện phải khai báo, nếu không sẽ phải cai nghiện theo hình thức bắt buộc

15 nội dung sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng chống ma túy năm 2000 vừa được Quốc hội khóa XII thông qua, có tới 11 vấn đề liên quan tới công tác cai nghiện, sẽ tạo thêm nhiều cơ hội cho người nghiện. Ông Trần Việt Trung, Phó Cục trưởng Cục Phòng chống tệ nạn xã hội (Bộ LĐ-TB-XH), cho biết.

Thêm cơ hội và trách nhiệm cho người cai nghiện

Qua gần 7 năm thực hiện Luật Phòng chống ma túy được Quốc hội khóa X ban hành năm 2000, tệ nạn ma túy tại VN vẫn diễn biến phức tạp và nghiêm trọng. Hiệu quả của các hoạt động giảm cung, giảm cầu và giảm tác hại trong phòng chống ma túy còn hạn chế. Theo Bộ LĐ-TB-XH, một trong những nguyên nhân là do hệ thống pháp luật về phòng chống ma túy chưa đồng bộ, chưa phù hợp với tình hình thực tế hiện nay, đặc biệt là lĩnh vực cai nghiện phục hồi cho người nghiện ma túy.

Ông Trần Việt Trung cũng cho hay, trách nhiệm của người nghiện, gia đình người nghiện trong việc khai báo và đăng ký hình thức cai nghiện sẽ được đặt ra như một căn cứ pháp lý. Nó sẽ quyết định tới việc áp dụng các biện pháp cai nghiện (cai nghiện tự nguyện hoặc cai nghiện bắt buộc) đối với người nghiện ma túy. Cai nghiện tự nguyện có thể ở gia đình, cai nghiện tại cộng đồng hoặc tại các cơ sở cai nghiện (do Nhà nước quản lý hoặc cơ sở tư nhân, dân lập); cai nghiện bắt buộc được áp dụng tại cộng đồng hoặc tại các cơ sở cai nghiện bắt buộc (nếu người nghiện không tự khai báo và đăng ký hình thức cai nghiện).

Như vậy, nếu người nghiện không tự nguyện cai sẽ bị áp dụng biện pháp cai bắt buộc tại cộng đồng theo quyết định của chủ tịch UBND cấp xã hoặc cai nghiện bắt buộc tại cơ sở cai nghiện theo quyết định của chủ tịch UBND cấp huyện. Thời hạn cai nghiện tại gia đình, tại cộng đồng là 6- 12 tháng; thời hạn cai tại các cơ sở cai nghiện bắt buộc vẫn giữ nguyên như trước đây là 1-2 năm.

Tăng thời gian cách ly

Theo Cục Phòng chống tệ nạn xã hội (Bộ LĐ-TB-XH), quy định thời hạn cai nghiện bắt buộc chỉ từ 1 đến 2 năm là chưa đủ để người nghiện có thể đoạn tuyệt với ma túy. Cục trưởng Cục Phòng chống tệ nạn xã hội Nguyễn Văn Minh đúc kết, yếu tố quan trọng quyết định kết quả của công tác cai nghiện là việc cách ly người nghiện khỏi "môi trường ma túy". Đồng thời phải đi đôi với sự quản lý, giám sát của gia đình, cộng đồng và hỗ trợ học nghề, giải quyết việc làm đối với người đã cai nghiện trở về.

Vì thế, một trong những điểm mới, quan trọng là tăng cường thời gian để người nghiện cách ly với môi trường cũ. Cụ thể, người nghiện sau khi cai nghiện bắt buộc tại cơ sở cai nghiện ma túy phải chịu sự quản lý sau cai nghiện từ 1-2 năm theo một trong hai hình thức: Quản lý tại nơi cư trú hoặc quản lý tập trung tại cơ sở quản lý sau cai nghiện đối với người có nguy cơ tái nghiện cao. Bộ LĐ-TB-XH có trách nhiệm chỉ đạo tổ chức cai nghiện ma túy, quản lý sau cai nghiện và giải quyết các vấn đề xã hội sau cai nghiện; hướng dẫn chỉ đạo việc thành lập, giải thể cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở quản lý sau cai nghiện.

Trường hợp đặc biệt, đối với người đang cai nghiện bắt buộc tại cơ sở cai nghiện mà phạm tội, nếu thời gian bị phạt tù ít hơn thời gian cai nghiện ma túy, thì sau khi chấp hành xong hình phạt tù phải tiếp tục cai nghiện ma túy tại cơ sở cai nghiện bắt buộc; trường hợp phải chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù nhưng cho hưởng án treo thì vẫn phải thực hiện cai nghiện tại cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Người nghiện được xem xét dưới 3 góc độ

Ông Lê Bạch Hồng, Thứ trưởng Bộ LĐ-TB-XH, nhận định người nghiện ma túy sẽ được xem xét dưới 3 góc độ: Là người bệnh (bị một loại bệnh về tâm thần do sử dụng ma túy); người có hành vi vi phạm pháp luật (do sử dụng trái phép chất ma túy) và là người sa ngã vào tệ nạn xã hội (bị lệch lạc về nhân cách, hành vi). Vì vậy, cai nghiện phải áp dụng các phương pháp, biện pháp xử lý đồng bộ cả 3 khía cạnh về y tế, pháp luật và xã hội. Đây là quan điểm cơ bản trong việc sửa đổi, bổ sung Luật Phòng chống ma túy lần này.

Bài và ảnh: Nguyễn Quyết
Báo Người Lao động

ĐỘNG CƠ THÚC ĐẨY VÀ HÀNH VI:

ĐỘNG CƠ THÚC ĐẨY VÀ HÀNH VI:
Nghiên cứu động cơ thúc đẩy và hành vi là vấn đề hết sức cần thiết để hiểu bản chất con người nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng lao động. Nhận thức được tầm quan trọng của yếu tố con người trong các tổ chức, chúng ta cần phải tìm hiểu về một lý thuyết có thể giúp các nhà quản trị nhân sự có thể hiểu được hành vi của con người, nhằm hiểu được nguyên nhân dẫn đến hành vi mà còn dự đoán những thay đổi và khống chế hành vi tác động xấu đến hoạt động của doanh nghiệp.
4.1. Hành vi:
Hành vi về cơ bản là hoạt động có hướng đích. Hành vi của chúng ta nói chung là là do mong muốn đạt được một mục đích nào đó thúc đẩy. Mỗi cá nhân không phải lúc nào cũng hiểu biết một cách có ý thức mục đích. Tất cả chúng ta đã nhiều lần tự hỏi "Tại sao mình lại làm như¬ thế?" lý do là hành vi của chúng ta không phải lúc nào cũng rõ ràng trong trí óc. Những động cơ thúc đẩy những kiểu hành vi cá nhân bản năng "cá tính" là hướng tới một tiềm thức với mức độ đáng kể và vì vậy không thể dễ dàng kiểm tra, đánh giá.
Không phải lúc nào con người cũng nhận thức được mọi điều họ muốn, do đó nhiều hành động của con người chịu ảnh hưởng của các động cơ tiềm thức hoặc các nhu cầu. Động cơ của hầu hết mọi người và kết cấu phức tạp, nhiều lớp và lớn lao. Một phần quan trọng của động cơ của con người ẩn d¬ới vẻ bề ngoài, nghĩa là không phải luôn luôn rõ ràng. Nhiều khi chỉ một phần nhỏ của động cơ của một người là có thể thấy rõ được hoặc chính người đó nhận thức được. Điều đó có thể là do cá nhân thiếu sự nhận thức nội tâm của mình.
Đơn vị cơ sở của hành vi là hoạt động. Toàn bộ hành vi là một chuỗi hành động. Là con người chúng ta luôn có sự hoạt động nh¬ đi bộ, nói chuyện, ăn, ngủ, làm việc... Trong nhiều trường hợp cụ thể chúng ta th¬ờng thực hiện nhiều hành động cùng một lúc nh¬ nói chuyện trong khi đi bộ hoặc lái xe đến nơi làm việc. Bất cứ lúc nào chúng ta cũng có thể thay đổi hành động hoặc tổ hợp hành động và bắt đầu làm việc khác. Điều này dẫn đến một vài câu hỏi quan trọng là: Tại sao chúng ta làm việc này, chứ không làm việc khác? Tại sao họ lại thay đổi hành động. Với tư¬ cách nhà quản trị chúng ta làm thế nào để có thể dự đoán và thậm chí kiểm soát được hành động hoặc biết được những hành động gì mà một người có thể thực hiện vào lúc nào đó. Để dự đoán hành vi, các nhà quản trị phải biết động cơ hoặc nhu cầu nào sẽ dẫn đến một hành động nhất định tại một thời điểm nhất định.
4.1.1. Động cơ thúc đẩy:
Con người không chỉ khác nhau về khả năng hành động mà còn khác nhau về ý chí hành động hoặc sự thúc đẩy. Sự thúc đẩy phụ thuộc vào sức mạnh của động cơ. Động cơ đôi khi được xác định nh¬ là nhu cầu, ý muốn, nghị lực hoặc sự thúc đẩy của cá nhân. Động cơ hướng tới mục đích, cái mục đích có thể là ý thức hoặc chỉ trong tiềm thức.
Động cơ là nguyên nhân dẫn đến hành vi, chúng thức tỉnh và duy trì hành động, định hướng hành vi chung của cá nhân. Thực chất các động cơ hoặc nhu cầu là những yếu tố chính của hành động. Động cơ và nhu cầu có thể thay thế nhau. Nhu cầu trong trường hợp này không liên quan đến sự khẩn cấp hoặc bất kỳ một sự mong muốn cấp thiết nào về một cái gì đó. Nó chỉ có nghĩa một cái gì đó trong một cá nhân, thúc đẩy cá nhân đó hành động.
4.1.2. Mục đích:
Mục đích là trạng thái mong muốn đạt được là những cái bên ngoài cá nhân. Đôi khi mục đích ngụ ý nh¬ là hy vọng đạt được phần thưởng mà các động cơ hướng tới. Những mục đích này được các nhà quản trị gọi là các tác nhân kích thích. Các nhà quản trị th¬ờng có những thành công trong việc khuyến khích nhân viên, th¬ờng tạo ra một môi trường có những mục đích thích hợp (tác nhân kích thích) để thoả mãn nhu cầu. Mục đích là một trạng thại mong muốn của cá nhân hay tổ chức hướng tới nhằm đạt được.

Hình 1.7: Các động cơ hướng tới mục đích
4.1.3. Sức mạnh của động cơ:
Động cơ hoặc nhu cầu là những nguyên nhân gây ra hành vi. Mọi cá nhân đều có rất nhiều nhu cầu. Tất cả các nhu cầu này cạnh tranh với hành vi của họ. Vậy cái gì quyết định động cơ nào trong số các động cơ của một người nhằm cố gắng thoả mãn thông qua hành động. Nhu cầu mạnh nhất tại một thời điểm nhất định sẽ dẫn đến hành động.

Hình 1.8. Động cơ mạnh nhất quyết định hành vi.
4.1.4. Thay đổi sức mạnh động cơ:
Một động cơ có xu hướng yếu đi nếu nó đã được thoả mãn hoặc bị hạn chế sự thoả mãn.
1 - Sự thoả mãn nhu cầu: Theo Maslow khi một nhu cầu được thoả mãn, thì nó không còn là yếu tố tạo ra động cơ của hành vi nữa. Các nhu cầu mạnh đã được đáp ứng coi nh¬ đã được thoả mãn, nhu cầu cạnh tranh khác lúc đó lại trở nên mạnh hơn. Nếu một nhu cầu mạnh là khát n¬ớc, thì việc uống n¬ớc sẽ giảm mức cấp thiết của nhu cầu này, và lúc đó các nhu cầu khác lại trở nên quan trọng hơn.
2 - Cản trở việc thoả mãn nhu cầu: Việc thoả mãn một nhu cầu có thể bị cản trở lại. Đôi lúc nhu cầu có thể trở nên yếu, xong không phải lúc nào điều đó cũng xảy ra ngay từ đầu mà có thể có xu hướng con người lặp lại hành vi. Đây là một cố gắng để v¬ợt qua trở ngại thông qua việc quyết định vấn đề bằng cách thử và sửa sai. Người ta có thể thử hành vi khác nhau để tìm ra hành vi có thể thoả mãn mục tiêu hoặc làm giảm sức ép qua trở ngại (xem hình 1.9). Người ta có thể thử theo một hướng trước khi sang hướng 2 và 3, tại đó đã đạt được mục tiêu mà phần nào đã thành công. Nếu vì một lý do nào đó không thành công, họ có thể thay đổi mục tiêu, miễn sao mục tiêu đó đảm bảo thoả mãn nhu cầu. Ví dụ, một học sinh tốt nghiệp tú tài họ có thể thi vào trường đại học chính qui, nếu không đậu họ có thể thi vào đại học mở rộng hoặc trung cấp.

Hình 1.9. Lặp lại hành vi khi có sự cản trở trong quá trình cố gắng đạt mục đích nào đó
3 - Sự bất hoà có nhận thức. Những động cơ bị cản trở và thất bại liên tục trong việc lặp lại hành vi có thể dẫn đến việc lặp lại hành vi một cách bất hợp lý. Leon Festinger đã phân tích hiện t¬ợng này. Lý thuyết về sự bất hoà có nhận thức đầu tiên liên quan đến các mối quan hệ tồn tại giữa các nhận thức con người về chính mình và môi trường mình đang sống. Khi nhận thức cá nhân không có gì chung, chúng được coi là không liên quan với nhau. Nếu sự nhận thức cá nhân này có liên quan đến nhận thức cá nhân khác chúng được coi là có mối quan hệ hoà hợp. Sự bất hoà xảy ra khi có sự xung đột giữa hai nhận thức liên quan với nhau. Điều gây ra căng thẳng không thuận lợi về tâm lý và làm cho cá nhân đó phải cố gắng thay đổi một trong những hành vi không phù hợp để giảm căng thẳng hoặc sự bất hoà. Thực chất người đó lặp lại hành vi để lấy lại tình trạng hoà hợp hoặc cân bằng.
4 - Sự vỡ mộng. Ngăn chặn hoặc cản trở việc đạt mục tiêu được coi là sự tạo ra sự vỡ mộng. Hiện t¬ợng này được xác định về mặt điều kiện cá nhân chứ không vì môi trường bên ngoài. Một người có thể bị vỡ mộng do một vật cản t¬ởng t¬ợng và có thể không bị vỡ mộng bởi một vật cản thật.
Hành vi lặp lại hợp lý có thể dẫn tới việc hình thành mục tiêu thay đổi hoặc giảm sức mạnh của nhu cầu. Hành vi phi lý có thể xảy ra d¬ới một vài hình thức khi bị cản trở việc đạt mục tiêu vẫn tiếp tục diễn ra và sự vỡ mộng tăng lên. Sự vỡ mộng có thể tăng lên tới mức cá nhân đó có thể làm một hành vi ngổ ngược.
- Sự ngổ ngược có thể dẫn tới hành vi phá huỷ nh¬ gây ra sự đập phá. Người công nhân tức giận có thể xúc phạm tới người quản trị, có thể làm tổn hại tới công việc hoặc thanh danh của người quản trị, qua hành động của họ.
- Sự lý giải duy lý là đ¬a ra lý do bào chữa.
- Thoái lui là không chống lại.
- Tính cố hữu xảy ra khi một người liên tục thực hiện những hành vi t¬ơng tự lặp lại mặc dù kinh nghiệm cho thấy điều đó sẽ không đạt được mục đích gì.
- Sự cam chịu hoặc sự hờ hững xảy ra sau khi vỡ mộng kéo dài, người ta mất đi hết hy vọng đạt được mục đích trong một hoàn cảnh đặc biệt và rút lui khỏi sự thật và nguồn gốc gây cho họ sự vỡ mộng.
Một nhà quản trị nên nhớ rằng sự ngổ ngược, sự lý giải duy lý, thoái lui, tính cố hữu và sự cam chịu đều là những triệu chứng vỡ mộng, là dấu hiệu tồn tại tình trạng vỡ mộng.
5 - Tăng c¬ờng sức mạnh của động cơ: Hành vi có thể bị thay đổi nếu một nhu cầu hiện tại trở nên mạnh tới mức giờ đây trở thành động lực mạnh. Một nhu cầu có xu hướng mạnh lên hoặc yếu đi theo chu kỳ. Người ta có thể tăng hoặc trì hoãn tốc độ của mô hình chu kỳ này bằng cách tác động đến môi trường. Ví dụ, nhu cầu thức ăn của một người không thể rất mạnh, trừ khi môi trường hiện thời thay đổi đến mức người ta nhìn và ngửi thấy mùi thơm của món ăn hấp dẫn.
Con người có một loạt nhu cầu ở bất cứ thời điểm nào, họ có thể đói, khát và mệt mỏi, nh¬ng nhu cầu mạnh nhất sẽ quyết định họ phải làm gì.
4.2. Hành động:
Các hành động xuất hiện do nhu cầu mạnh, có thể phân chia làm hai loại: Hành động hướng đích và hành động thực hiện mục đích. Những khái niệm này rất quan trọng đối với nhà quản trị nhân sự vì nó ảnh hưởng đến việc nghiên cứu hành vi của con người.
4.2.1. Hành động hướng đích: là hành vi được hướng vào việc đạt tới mục đích. Nếu nhu cầu có c¬ờng độ mạnh nhất tại một thời điểm là đói, các hành động nh¬ tìm chỗ để ăn, mua thức ăn, hay chuẩn bị đồ ăn sẽ được coi là hành động hướng đích.
4.2.2. Hành động thực hiện mục đích sẽ diễn ra vì chính mục đích đó. Trong trường hợp đói, thức ăn là mục đích, do đó ăn là hành động của mục đích. Trong trường hợp đói, thức ăn là mục đích, ăn là hành động của mục đích (xem hình 1.10)

Hình 1.10. Nhu cầu đa dạng
Hành động hướng đích và hành động thực hiện mục đích có sự khác biệt quan trọng ảnh hưởng tới c¬ờng độ nhu cầu. Trong hành động hướng đích, c¬ờng độ nhu cầu có xu hướng tăng khi có một hành động cho tới khi hành vi mục đích đạt được hoặc tan vỡ. Sự vỡ mộng tăng khi việc phấn đấu đạt mục đích liên tục bị cản trở. Nếu sự vỡ mộng đủ mạnh, c¬ờng độ của nhu cầu đối với mục đích đó có thể giảm cho tới khi không đủ sức để gây ảnh hưởng tới hành vi nữa, lúc đó người ta sẽ từ bỏ nhu cầu đó.
C¬ờng độ của nhu cầu có xu hướng ngày càng tăng khi người ta thực hiện hành động hướng đích. Hành động thực hiện mục đích bắt đầu, c¬ờng độ nhu cầu giảm xuống khi người ta thực hiện hành động đó. Ví dụ, khi một người ăn ngày càng nhiều, c¬ờng độ nhu cầu thức ăn sẽ giảm xuống trong thời gian cụ thể đó. Tại điểm này khi nhu cầu khác trở nên mạnh hơn nhu cầu hiện tại, hành vi sẽ thay đổi. Ví dụ, để chuẩn bị buổi ăn tr¬a, thức ăn phải được chuẩn bị từ buổi sáng (hành động hướng đích), nhu cầu ăn tăng lên đến mức hầu nh¬ không để đợi tới khi bữa ăn được dọn lên bàn. Khi chúng ta bắt đầu ăn (hành động thực hiện mục đích), c¬ờng độ nhu cầu này giảm bớt tới mức nhu cầu khác trở nên quan trọng hơn. Khi chúng ta rời khỏi bàn, nhu cầu ăn đã hoàn toàn được thoả mãn. Hành động của chúng ta chuyển sang nhu cầu khác nh¬ uống n¬ớc, ngủ tr¬a hay nghe một bản nhạc trước khi đi ngủ. Nên nhớ rằng chúng ta không bao giờ thoả mãn hoàn toàn một nhu cầu, chúng ta chỉ thoả mãn nhu cầu đó trong một thời gian nhất định.
4.3. Tình huống thúc đẩy:
Tình huống thúc đẩy trong đó các động cơ của một cá nhân hướng tới việc đạt được mục đích. Động cơ cao nhất đã tạo ra hành vi, hành vi này hoặc là hành động hướng đích hoặc là hành động thực hiện mục đích. Vì không thể nào đạt được tất cả các mục đích, các cá nhân không phải lúc nào cũng đạt tới hành động thực hiện mục đích, dù có động cơ mạnh. Mối quan hệ giữa động cơ, mục đích và hành động được thể hiện trong sơ đồ 1.11.

Hình 1.11. Tình huống thúc đẩy
Các nhà quản trị nhân sự luôn nhớ rằng, nếu muốn gây ảnh hưởng đến hành vi của một người khác, trước hết phải hiểu động cơ hoặc nhu cầu gì là quan trọng nhất đối với người đó vào lúc đó. Một mục đích có hiệu lực phải phù hợp với cấu trúc nhu cầu mà người đó có liên quan. Vấn đề cần quan tâm là nên thực hiện hành động hướng đích hay hành động thực hiện mục đích. Nếu người ta có các hành động hướng đích quá lâu, sự vỡ mộng sẽ xuất hiện tới mức người đó có thể từ bỏ hoặc có những hành động vô lý khác. Mặt khác, nếu một người chỉ có hành động thực hiện mục đích và mục đích đó không thay đổi thì sự thích thú sẽ mất đi và tính lạnh nhạt sẽ tăng lên cùng với xu hướng giảm động cơ thúc đẩy. Một kiểu hành vi thích hợp và có kết quả hơn có thể là thực hiện tuần hoàn liên tục hành động hướng đích và hành động thực hiện mục đích. Một mục đích thích hợp cho một công nhân mới được làm việc và không có ý nghĩa đối cới người công nhân đã làm việc được 1 năm và lâu năm.
Quá trình diễn ra giữa hành động hướng đích và hành động thực hiện mục đích theo một chu kỳ và sự thách đố liên tục đối với nhà quản trị. Khi người công nhân tăng được khả năng để đạt được mục đích, thì cấp trên phải đánh giá lại và tạo môi trường cho phép thay đổi các mục đích và tạo ra các cơ hội tăng tr¬ởng và phát triển. Quá trình nhận biết và phát triển, nhà quản tri không phải luôn luôn tạo ra mục đích cho công nhân mà quan trọng là tạo ra môi trường thuận lợi cho cấp d¬ới có thể thiết lập được mục đích riêng của họ. Khi con người tham gia vào việc thiết lập mục đích riêng, họ sẽ gắn bó với công việc hơn và cố gắng nhiều hơn để thực hiện hành động hướng đích.
4.4. Triển vọng và khả năng sẵn có:
Hai yếu tố ảnh hưởng đến sức mạnh của nhu cầu là triển vọng và khả năng sẵn có. Triển vọng có xu hướng ảnh hưởng tới động cơ hoặc nhu cầu, còn khả năng sẵn có ảnh hưởng nhiều tới việc lĩnh hội các mục đích.
Triển vọng được hiểu là khả năng thoả mãn một nhu cầu nhất định của một cá nhân dựa trên kinh nghiệm cũ. Kinh nghiệm ở đây có thể thực có hoặc người khác truyền cho. Kinh nghiệm do truyền lại có từ nhiều nguồn, nh¬ từ bố mẹ, từ nhóm người cùng địa vị xã hội, từ các thầy cô giáo, từ sách vở. Ví dụ, cha của một cậu bé là một thợ gò hàn rất giỏi, cậu ta muốn theo chân bố. Nh¬ vậy triển vọng của cậu con trai có thể trở thành thợ gò hàn t¬ơng đối cao, bởi vậy sức mạnh nhu cầu là cao. Nh¬ng nếu trong quá trình học nghề lúc đầu cậu ta tạo ra sản phẩm không có gì là đẹp. Sự thất bại nhỏ không đủ làm nhụt chí con người mà đôi khi nó còn làm tăng thêm hành động. Nh¬ng nếu các sản phẩm về sau của cậu ta cứ tiếp tục không đạt yêu cầu kỹ thuật, và cuối cùng động cơ này sẽ không còn đủ mạnh hay không được dành quyền ¬u tiên cao nữa. Thực tế là, sau khi đã đủ những kinh nghiệm mà không thành đạt người ta có thể từ bỏ mục đích.
Khả năng sẵn có phản ánh những giới hạn môi trường đã đạt được nhận thức. Nó được xác định bởi một động cơ cá nhân nhận thức nh¬ thế nào để có thể tiếp cận những mục đích có thể thoả mãn một nhu cầu nhất định. Ví dụ, nếu mất điện trong một cơn lốc lớn người ta không thể xem truyền hình hay đọc sách. Những hành động thực hiện mục đích này không thể có được nữa do hạn chế của môi trường. Một người có thể rất muốn đọc nh¬ng nếu không có gì thắp sáng thì người đó sẽ mau chóng chán nản không muốn cố gắng tìm cách thoả mãn mong muốn này và sẽ làm việc khác.
Các động cơ, nhu cầu của một cá nhân được hướng tới những mục đích là những khát vọng trong môi trường đó. Những mục đích này được cá nhân đó hiểu là có thể tồn tại hoặc không tồn tại, điều này ảnh hưởng đến triển vọng. Nếu triển vọng cao, sức mạnh động cơ sẽ tăng. Kinh nghiệm có thể ảnh hưởng tới cách nhận biết cảm giác của ta về khả năng sẵn có. Sự tồn tại các mục đích trong môi trường đó có thể ảnh hưởng tới sức mạnh nhất định của động có.
4.5. Phát triển tính cách:
Trong quá trình tr¬ởng thành, con người có thói quen hoặc phản ứng có điều kiện đối với các tác nhân kích thích khác nhau. Toàn bộ những thói quen này quyết định tính cách của họ.
Thói quen a, thói quen b, thói quen c... thói quen n = tính cách. Khi cá nhân bắt đầu hành động theo cách t¬ơng tự với những điều kiện t¬ơng tự, thì đó chính là tính cách của họ. Dựa vào nó ta có thể dự đoán những hành vi nhất định của người này. Tính cách th¬ờng dễ thay đổi khi tuổi còn nhỏ, càng trở nên khó thay đổi khi con người nhiều tuổi.
Khi một cá nhân xử sự trong một tình huống thúc đẩy, hành vi đó trở thành một chất liệu mới được người ta tiếp nhận trở thành kinh nghiệm quá khứ của người đó. Chất liệu đó được dựa vào càng sớm thì ảnh hưởng của nó đối với hành vi sau này càng lớn. Bởi vì trong tổng số những kinh nghiệm đã qua của một thanh niên, vào quãng đầu cuộc đời, những hành vi đó chiếm tỷ trọng lớn hơn là những hành vi giống nh¬ vậy diễn ra sau này. Hành vi càng được củng cố lâu thì càng đậm nét và khó thay đổi. Điều này cho ta một bài học là đào tạo những người trẻ tuổi không chỉ ít tốn kém hơn mà khả năng sử dụng lao động dài hơn so với việc đào tạo người lớn.

18 tháng 6, 2008

Kiểm huấn sinh viên thực tập


Kiểm huấn sinh viên thực tập

Khi tôi còn là sinh viên ngành Công tác xã hội, khi đi thực tập tôi và các bạn cùng lớp chưa ý thức hết lợi ích cũng như tầm quan trọng của đợt thực tập nên có bạn chỉ làm quấy quá, hoặc làm ít nhưng báo cáo thì nhiều, chủ yếu là kiếm điểm để ra trường là được. Hậu quả là đến khi ra trường, nhận nhiệm sở, khi đó lúng túng không biết làm gì, thiếu tự tin khi làm việc với sếp và cả với người dân. Rồi càng làm việc, có cơ hội đi học thêm, theo dõi những trường hợp được kiểm huấn, tôi nghiệm ra rằng kiểm huấn sinh viên thực hành công tác xã hội được xem là một học phần rất quan trọng. Sau đây là một vài kinh nghiệm thực tập tại một trường Công tác xã hội.

Khi sinh viên đăng ký vào một khoá toàn thời gian về Công tác xã hội chuyên nghiệp, nhà trường dành một phần thời gian nhất định cho việc thực tập tại các cơ sở xã hội. Tại một số trường Công tác xã hội, người ta qui định thành số học phần, số giờ tương đương.

Như ở Asian Social Institute, chương trình thực tập riêng môn Phát triển cộng đồng là 3 học phần, tính ra sinh viên phải làm việc tại cộng đồng 400 giờ, suốt một học kỳ. Sở dĩ tính theo giờ vì kiểm huấn rất chặc chẽ, nếu sinh viên đến cộng đồng làm việc 2 giờ thì ghi 2 giờ chứ không xem là một ngày.

Thực tập được xem như là một học phần vì kiểm huấn viên như một người thầy của sinh viên chịu trách nhiệm về chương trình thực tập. Bằng kinh nghiệm của mình, kiểm huấn viên hướng dẫn cho sinh viên trong việc thực hành nghề nghiệp của họ. Chính vì thế, nên việc chọn cơ sở thực tập phải sao cho đáp ứng nhu cầu đào tạo, huấn luyện để sinh viên trở thành nhân viên xã hội chuyên nghiệp. Ví dụ như việc thực tập về phát triển cộng đồng thì cơ sở thực tập phải có chương trình hay dự án phát triển cộng đồng. Nơi thực tập cũng cần có sự phù hợp với điều kiện, khả năng đáp ứng của sinh viên để đạt được kết quả tốt nhất.

Chương trình thực tập giúp cho sinh viên nối kết giữa lý thuyết học tại lớp và thực tế tại cộng đồng. Ứng dụng những kiến thức, kỹ năng về Công tác xã hội. Cụ thể bao gồm những nội dung như sau:

1- Hiểu rõ về tầm nhìn, sứ mạng, mục tiêu và các chương trình dự án của cơ quan thực tập, triết lý và phương thức phát triển cộng đồng, tăng năng lực, quyền lực cho người dân.

2- Cảm nhận một cách sâu sắc tính năng động của cộng đồng qua những mặt như sau: nhịp sống của người dân, thực trạng về kinh tế, chính trị và xã hội; nhu cầu chung của cộng đồng là gì; những vấn đề và sự mong đợi của họ.

3- Chỉ ra những kỹ năng ban đầu trong công tác cộng đồng như:

• Chuẩn bị tìm hiểu cộng đồng,
• Nhận dạng nhu cầu cộng đồng, vấn đề người dân quan tâm mà có thể làm được,
• Thành lập nhóm nòng cốt hay xây dựng nhóm,
• Động viên, khuyến khích các nhóm giải quyết vấn đề,
• Công tác mạng lưới và thúc đẩy phát triển nguồn lực tại chỗ,
• Thực hiện một chương trình PTCĐ.

4- Đề ra những nguyên tắc hành động liên quan đến công tác phát triển cộng đồng,

5- Liên hệ những lý thuyết đã học trong tổ chức cộng đồng với những chủ đề khác

6- Tăng cường sự tự nhận thức, tự tin như là một người chuyên nghiệp.

Yêu cầu cụ thể về kết quả thực tập

1- Báo cáo mô tả bối cảnh của cộng đồng,
2- Vẽ bản đồ cộng đồng,
3- Lên kế hoạch công tác chung cho toàn đợt thực tập và kế hoạch cho một hoạt động hỗ trợ cộng đồng,
4- Thực hiện một kế hoạch cho một hoạt động hỗ trợ cộng đồng,
5- Ghi chép tiến trình thực hiện, làm việc với cộng đồng,
6- Bảng ghi chép thời gian làm việc tại cộng đồng,
7- Viết báo cáo về đợt thực tập và trình bày,
8- Lượng giá kết quả thực tập có phản biện theo nhiều chiều.

Điều tôi tâm đắc nhất là cách lượng giá. Đến cuối giai đoạn thực tập, sinh viên trình báo cáo thực tập cho kiểm huấn cơ sở và kiểm huấn viên ở trường. Báo cáo này trình bày rõ hết những việc làm từ đầu đến cuối kỳ thực tập. Viết báo cáo lượng giá cũng là dịp để sinh viên ôn lại toàn bộ những gì mình đã thực hành tại cộng đồng trong suốt giai đoạn thực tập. Nếu như sinh viên thực tập có điều gì chưa rõ thì kiểm huấn viên hỗ trợ bằng cách có những gợi ý như những điểm chính yếu là gì, cần nhấn mạnh chỗ nào, làm gì để người đọc hiểu rõ những việc mình làm.

Dựa vào chương trình thực tập, sinh viên thực tập, kiểm huấn cơ sở và kiểm huấn viên ở trường cùng xem lại mục tiêu và kết quả thực hiện có đạt được như đề ra ban đầu không. Sinh viên thực tập tự đánh giá cho chính mình. Buổi lượng giá kết quả thực tập do kiểm huấn viên trường và sinh viên thực tập tổ chức. Mỗi sinh viên trình bày báo cáo của mình trước lớp, sau đó mọi người đặt câu hỏi cho những chỗ chưa rõ hay chưa chính xác. Những sinh viên khác và kiểm huấn viên góp ý cho bản báo cáo lượng giá của sinh viên thực tập. Xem lượng giá như là một cơ hội nhìn lại hết những gì mình đã thực hành tại cơ sở, mình rút ra được bài học gì, những kiến thức và kỹ năng nào được củng cố. Quan trọng nhất là cảm thấy tự tin mình có thể là một nhân viên xã hội chuyên nghiệp.

Bài học kinh nghiệm đối với tôi trong công tác kiểm huấn:

Nhà trường có một cẩm nang hướng dẫn thực tập thật là cụ thể để sinh viên thực tập và kiểm huấn viên ở cơ sở biết rõ mình phải làm những gì và làm như thế nào, như qui định về chính sách, nội qui, đạo đức cũng phải được sinh viên nắm rõ để tránh vi phạm.

Kiểm huấn viên như là một người thầy nhưng không áp đặt kiến thức và kinh nghiệm lên sinh viên, không bảo sinh viên làm thế này, làm thế kia mà khéo léo từng bước đặt câu hỏi để sinh viên nhận ra mình cần phải bắt đầu từ đâu và làm những gì, làm như thế nào. Kiểm huấn viên cùng đồng hành với sinh viên để giúp sinh viên thực hành và khám phá ra những gì mới mẻ, những kinh nghiệm thực tế quí giá mà trong lớp không có.

Sự phối hợp giữa kiểm huấn viên cơ sở và kiểm huấn viên của trường rất chặc chẽ và hữu hiệu. Sổ sách, cách ghi chép, lịch thực tập, rất cụ thể và khoa học khiến sinh viên muốn “ma mãnh” cũng không thể được. Điều này giúp cho sinh viên hoàn thành đúng như giáo trình nhà trường đề ra về thời gian, nội dung thực tập, xứng đáng nhận bằng Công tác xã hội chuyên nghiệp.

Tôi hy vọng rằng, ngành Công tác xã hội ngày càng lớn mạnh, chất lượng đào tạo cũng đáp ứng theo yêu cầu chuyên nghiệp, trong đó thực tập là một phần đáng được quan tâm và dành cho nó một vị trí xứng đáng trong chương trình đào tạo.

Chu Dũng
SDRC

Mất cân bằng giới tính ở Việt Nam


TS Nguyễn Thiện Trưởng, Chủ tịch Hội Kế hoạch hóa gia đình VN, nhận định một xã hội thừa nam, thiếu nữ sẽ dẫn đến sự mất cân bằng trong đời sống, tâm lý, tình cảm của mỗi gia đình, xã hội. Trong khi dân số VN đang tăng ở mức báo động thì tình trạng chênh lệch giới tính ở trẻ sơ sinh cũng đang trở thành mối quan tâm của nhiều người. Tình trạng thừa nam, thiếu nữ nếu không được điều chỉnh kịp thời, trong tương lai VN có thể phải “nhập khẩu” cô dâu.

Chênh lệch giới tính vượt khỏi mức bình thường.

Cách đây 10 năm, tỉ lệ giới tính ở VN ngang bằng với mức độ trung bình của thế giới là cứ 100 bé gái thì có 105- 107 bé trai, nhưng trong vài năm trở lại đây, số lượng bé trai đã tăng lên đáng kể. Ở nhiều vùng, số bé trai đã vượt số lượng bé gái từ 20%- 25%.

TS Khuất Thu Hồng, Viện Nghiên cứu Phát triển xã hội, cho biết theo nghiên cứu tại một số tỉnh thuộc khu vực Đông Bắc, Tây Bắc và duyên hải, tỉ lệ giới tính khi sinh đã có sự chênh lệch cao và rất cao so với mức bình thường. Có tới 16 tỉnh tỉ lệ giới tính khi sinh từ 115 đến 128 nam/100 nữ và 20 tỉnh là 111 đến 120 nam/100 nữ. Tại Bắc Ninh, tỉ số giới tính khi sinh đã ở mức báo động với 123 nam/100 nữ, còn Hà Tây: 112 nam/100 nữ...

Cũng theo nghiên cứu này, 2/3 số phụ nữ biết giới tính của con trước khi sinh, 98% trong số đó là qua siêu âm. Trong khi tại các bệnh viện, việc công bố giới tính thai nhi là điều nghiêm cấm thì tại các phòng khám tư nhân, việc làm này dường như dễ dàng hơn khi bác sĩ nói miệng hoặc sử dụng một cách ví von để sản phụ dễ dàng tìm ra đáp án.

Nhiều nam giới mất quyền làm chồng.

Cũng theo bà Hồng, sự ưa thích con trai vẫn rất phổ biến ở người dân. Vì vậy, các cặp vợ chồng đều thực hiện mọi cách thức khác nhau để được đứa con với giới tính mong muốn. Không chỉ sử dụng biện pháp nạo phá thai sau khi siêu âm xác định giới tính, nhiều cặp vợ chồng còn mua “cẩm nang” tạo giới tính cho con được bày bán tràn lan trên thị trường để đạt ý nguyện. Tuy nhiên, theo TS Quan Lệ Nga, Giám đốc Trung tâm Phát triển Sức khỏe cộng đồng Ánh Sáng (Hà Nội), thực tế việc ăn uống và tính thời điểm thụ thai của các cặp vợ chồng cũng đúng ở một vài trường hợp. Nhưng cho đến thời điểm này, vẫn chưa có nghiên cứu khoa học nào chứng minh rằng những bài thuốc của “cẩm nang” là đúng.

Theo các chuyên gia dân số, việc phụ nữ đi phá thai vì giới tính của thai nhi không như mình mong muốn đã liệt VN vào danh sách một trong những nước có tỉ lệ nạo phá thai cao nhất trên thế giới. Trung bình, mỗi phụ nữ ở VN nạo phá thai 2,5 lần trong đời.

TS Nguyễn Thiện Trưởng nhận định, một xã hội thừa nam, thiếu nữ sẽ dẫn đến sự mất cân bằng trong đời sống, tâm lý, tình cảm của mỗi gia đình, xã hội. Hậu quả tất yếu sẽ dẫn đến tình trạng thiếu phụ nữ sẽ làm mất quyền làm chồng của nhiều đàn ông. Đáng nói, tình trạng này càng trở nên trầm trọng hơn khi số phụ nữ lấy chồng nước ngoài có xu hướng tăng ở một số địa phương.

Dân số tăng khoảng 50%.

Cũng theo ông Trưởng, không chỉ riêng vấn đề mất cân bằng giới tính mà gần một năm qua, tốc độ tăng dân số đến chóng mặt cũng đang làm đau đầu các cơ quan chức năng.

Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Bá Thủy cảnh báo, dân số đang tăng vọt trở lại. Đầu năm 2008, tại một số địa phương như Bắc Ninh, Sơn La... dân số đã tăng gần 50%. Nhiều địa phương khác, trong đó có cả những TP lớn như Hà Nội, TPHCM, tỉ lệ người sinh con thứ 3, thứ 4 cũng tăng mạnh. Theo một số chuyên gia dân số, nguyên nhân là do hệ thống ủy ban dân số các tỉnh bị giải thể và sáp nhập cùng với ngành y tế. Điều này đã gây tâm lý lơ là, chán nản đối với những người làm công tác dân số. Chính vì thế, dân số đang tăng với mức độ chóng mặt trong những tháng đầu năm 2008.

Theo Người lao động

Luật cân bằng và hạnh phúc, đau khổ trong cuộc đời con người

Luật cân bằng và hạnh phúc, đau khổ trong cuộc đời con người

Chúng ta vẫn thường nghe nói “anh A sướng”, “chị B khổ”. Liệu có đúng là người này sướng hơn (hay khổ hơn) người kia hay không? Cá nhân tôi đã từng rơi nước mắt khi chứng kiến những cảnh đời đau khổ, những con người tuy đã cố gắng rất nhiều nhưng vẫn sống mãi trong cảnh vất vả, lam lũ. Tôi đã từng nhiều lần tự nhủ: “Tại sao lại như thế. Cuộc đời sao thật bất công”. Có thật là cuộc đời bất công không? Đã từ lâu tôi đi tìm lời giải đáp cho vấn đề này.

Trải qua những biến cố, những thăng trầm của cuộc đời, có một câu nói (mà tôi tình cờ đọc ở đâu đó) luôn vang vọng trong tâm trí tôi: "Con cứ yên tâm, Ông trời rất công bằng!". Có đúng là "Ông trời" rất công bằng không? Trong bài viết này, tôi sẽ trình bày những điều tôi đã nghiệm ra từ kinh nghiệm bản thân và từ sự tìm hiểu của tôi về cuộc đời những người khác.

Tôi hy vọng bài viết sẽ là một làn gió mát, một tia nắng ấm sưởi ấm cho những tâm hồn đang đau khổ. Nó cũng là một tiếng chuông cảnh tỉnh cho những ai đang vui hưởng hạnh phúc (đặc biệt là đang vui hưởng những hạnh phúc không phải do nỗ lực của chính bản thân).

Như tôi đã viết trong bài Giới thiệu về luật cân bằng. Trong trời đất tồn tại một sức mạnh vô hình để gìn giữ mọi vật luôn luôn ở trang thái cân bằng. Nếu không có sức mạnh vô hình này mọi vật sẽ rơi vào trạng thái hỗn độn. Sức mạnh vô hình đó chính là luật cân bằng.

Sức mạnh vô hình đó cũng luôn tồn tại trong cuộc đời của một con người. Luật cân bằng trong cuộc đời của một con người được phát biểu như sau:

Tổng cộng của tất cả hạnh phúc trừ đi tổng cộng của tất cả đau khổ trong toàn bộ cuộc đời của một con người (của bất cứ ai) là bằng 0.


Cuộc đời con người là một chuỗi những giai đoạn hạnh phúc và đau khổ kế tiếp nhau. Hết giai đoạn hạnh phúc rồi lại đến giai đoạn đau khổ rồi lại đến một giai đoạn hanh phúc khác và cứ liên miên bất tận như vậy (Xem thêm Luật tuần hoàn). Nhưng nếu cộng tất cả hạnh phúc trong toàn bộ cuộc đời của một người, nếu cộng tất cả đau khổ trong cuộc đời của một người, thì tổng hạnh phúc phải bằng tổng đau khổ. Không một ai hạnh phúc nhiều hơn đau khổ và cũng không một ai đau khổ nhiều hơn hạnh phúc, nếu xét trên toàn bộ cuộc đời.

Đúng là tại một thời điểm có thể anh A sướng hơn chị B. Nhưng đó chỉ là một thời điểm trong giai đoạn hạnh phúc của anh A, sau giai đoạn hạnh phúc, một giai đoạn đau khổ đang chờ đón anh A. Cũng vậy, có thể hiện tại chị B đang ở trong giai đoạn đau khổ. Nhưng sau giai đoạn đau khổ, một giai đoạn hạnh phúc đang chờ đón chị B. Hết hồi thái lai lại chuyển sang giai đoạn bĩ cực, nhưng hết cơn bĩ cực lại đến hồi thái lai. Cuộc đời là vậy, ngàn năm trước đã thế và ngàn năm sau vẫn vậy.

Như vậy ta thấy tất cả chúng ta chỉ khác nhau về cường độ (độ mạnh yếu) và độ dài (thời gian) của hạnh phúc và đau khổ nhưng hoàn toàn giống nhau về việc tổng của hạnh phúc trừ đi đau khổ bằng 0. Anh có những niềm hạnh phúc của anh nhưng cũng có những nỗi đau khổ mà chỉ riêng anh biết và cảm nhận được (nhiều khi người ngoài không hề biết). Tôi có những niềm hạnh phúc của tôi và cũng có những nỗi đau khổ mà chỉ riêng tôi biết và cảm nhận được. Nhưng nếu tôi và anh, chúng ta đem đặt tất cả hạnh phúc và đau khổ lên bàn cân thì tôi và anh không ai sướng hơn ai, không ai khổ hơn ai. Chúng ta bình đẳng!

Xin lưu ý là hạnh phúc và đau khổ bàn ở đây phải là hạnh phúc và đau khổ do chính người trong cuộc cảm nhận. Sẽ là sai lầm nếu nhìn bề ngoài những con người đang sống trong sự giàu có, xa hoa và cho rằng họ đang hạnh phúc. Thực ra những con người đó cũng có những nỗi đau khổ ngấm ngầm bên trong ví dụ như lao tâm khổ tứ về kinh doanh, mất mát về tình cảm, hay bệnh tật âm thầm… Thông thường, nhiều người trong chúng ta muốn phô ra những thứ mà người ngoài thèm muốn và giấu đi những nỗi đau ở bên trong không cho người ngoài biết.

Cuộc đời của một vị tổng thống không hạnh phúc hơn cuộc đời của một cậu bé đánh giầy. Cuộc đời của một tỷ phú không hạnh phúc hơn cuộc đời của một người ăn mày. Cậu bé đánh giầy hay người ăn mày có những niềm hạnh phúc mà vị tổng thống hay nhà tỷ phú không bao giờ có được. Và ngược lại, vị tổng thống hay nhà tỷ phú có những niềm hạnh phúc mà cậu bé đánh giầy hay người ăn mày không có được. Tôi sẽ phân tích kỹ hơn về điều này trong một bài viết khác.
Luật cân bằng là luật quan trọng nhất trong các quy luật của cuộc sống. Nó là nền tảng của tất cả các quy luật khác. Luật này chi phối tất cả mọi sự vật hiện tượng trên trái đất và vũ trụ kể cả con người và các hiện tượng liên quan đến đời sống con người. Nhờ luật cân bằng mà vạn vật, trái đất, vũ trụ được giữ ở trạng thái cân bằng và không bị xảy ra tình trạng hỗn loạn.

Mọi người ai cũng mơ hồ cảm nhận được luật cân bằng những không diễn giải được nó ra một cách rõ ràng. Ví dụ khi ta nghe một người nói: Ông trời công bằng lắm… hay …được cái này, mất cái kia… đó chính là lúc mọi người đang nói đến Luật cân bằng.

Luật cân bằng còn có các tên gọi khác là luật quân bình, luật toàn không. Người Trung Hoa đã khám phá ra quy luật này từ hàng nghìn năm nay, nó được gọi dưới tên là Luật âm dương hay Kinh dịch.

Tuy nhiên Luật âm dương và Kinh dich bị giải thích một cách rất khó hiểu và huyền bí. Trong bài viết này tôi sẽ cố gắng giải thích luật cân bằng một cách dễ hiểu nhât. Hiểu một cách căn bản nhất luật cân bằng được phát biểu như sau:

1. Bất cứ một sự vật hiện tượng nào đều có 2 phần. Một phần dương và một phần là âm. Ví dụ ngày là dương và đêm là âm. Trong suốt cuộc đời của bất cứ sự vật hiện tượng nào 2 phần âm dương này thay phiên nhau tồn tại. Ví dụ hết ngày rồi đến đêm rồi lại đến ngày…Không bao giờ chỉ có một phần dương hay một phần âm tồn tại trong suốt cuộc đời của một vật.

2. Trong đời sống của một vật, nếu coi các lần xuất hiện của những phần dương là những số dương, nếu coi các lần xuất hiện của những phần âm là những số âm. Thì tổng của tất cả số dương và số âm trong suốt cuộc đời của một vật (sự vât hay hiện tượng) phải bằng không. Nói cách khác tổng của tất cả các số dương phải bằng với tổng của tất cả số âm.

3. Việc tổng của tất cả các số dương cộng với tổng của tất cả các số âm trong suốt cuộc đời một vật phải bằng không chính là luật cần bằng. Đây là điêu kiện để tất cả mọi vật được gìn giữ ở trạng thái cân bằng. Nếu không thỏa mãn điều kiện này thì moi vật sẽ rơi vào trạng thái hỗn độn, điều mà không có trên thực tế. Không bao giờ chỉ có dương mà không có âm, hay ngược lại chi có âm mà không có dương. Cũng giống như không bao giờ chỉ có lạnh mà không có nóng, chỉ ngày mà không có đêm, chỉ có hạnh phúc mà không có đau khổ…

Nguốn: baihocthanhcong

17 tháng 6, 2008

Biến đổi khí hậu: 22 triệu người Việt Nam sẽ bị mất nhà cửa


Biến đổi khí hậu: 22 triệu người Việt Nam sẽ bị mất nhà cửa
Đây là khẳng định của các nhà nghiên cứu đưa ra trong Báo cáo Phát triển con người 2008 do UNDP tại VN và Bộ TN – MT công bố ngày 28/11 tại Hà Nội.

Thế giới đối mặt với nguy cơ thảm họa hai lần

Ông Bernard O’Callaghan, Điều phối viên chương trình của Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên thế giới cho biết bản báo cáo nhan đề “Cuộc chiến chống lại biến đổi khí hậu: Đoàn kết nhân loại trong một thế giới phân cách”, cho thấy những thách thức về khí hậu trong thế kỷ 21 đặt thế giới trước nguy cơ thảm họa hai lần. Đó là nguy cơ trước mắt đối với phát triển con người và những thảm họa sinh thái đe dọa hành tinh.

Biến đối khí hậu còn làm cho các hệ thống nông nghiệp bị phá vỡ do ngày càng phải hứng chịu hạn hán, nhiệt độ tăng và lượng mưa càng càng thất thường. Điều này khiến thêm 600 triệu người nữa sẽ phải đối mặt với nạn suy dinh dưỡng.

Các khu vực nửa khô hạn ở châu Phi cận Sahara, với tỉ lệ nghèo đói vào loại cao nhất thế giới, sẽ phải đối mặt với nguy cơ năng suất sụt giảm tới 26% vào năm 2060.

Báo cáo cũng dự đoán sẽ có thêm 1,8 tỷ người phải đối mặt với sự khan hiếm nước tính đến năm 2080, trong đó các khu vực rộng lớn ở Nam Á và miền Bắc Trung Quốc sẽ phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng sinh thái hết sức nghiêm trọng do mất dần các dòng sông băng và thay đổi về lượng mưa.

Cùng với đó 332 triệu người sống ở các khu vực ven biển và đất trũng sẽ bị mất nhà ở do lũ lụt hoặc các cơn bão nhiệt đới. Biến đổi khí hậu cũng làm nảy sinh các nguy cơ đối với sức khỏe, khiến thêm 400 triệu người phải đối mặt với nguy cơ bị sốt rét.
“Biến đổi khí hậu sẽ là mối đe dọa tới toàn thể nhân loại. Nhưng những người nghèo, một bộ phận không hề chịu trách nhiệm về món nợ sinh thái mà chúng ta đang mắc phải lại là những người đang phải đối mặt với những thiệt hại sớm nhất và nghiêm trọng nhất về phát triển con người” - Ông Kernal Dervis, Giám đốc UNDP nói.

Về công tác giảm thiểu các tác động của biến đổi khí hậu, các tác giả bản báo cáo kêu gọi các nước phát triển thể hiện vai trò đi đầu bằng cách tới năm 2050 cắt giảm phát thải khí nhà kính ít nhất 80% và đến năm 2020 ít nhất 30% so với mức của năm 1990.

Bản báo cáo cũng khuyến nghị thực hiện kết hợp các biện pháp như đánh thuế carbon, các chương trình mua bán phát thải chặt chẽ hơn, có các giải pháp về quản lý và điều tiết năng lượng…

22 triệu người Việt Nam sẽ bị mất nhà cửa

Cũng theo ông O’Callaghan, biến đổi khí hậu sẽ gây ra những thiệt hại lớn cả về tài sản và môi trường. Một số mô hình dự báo biến đổi khí hậu cho thấy khi nhiêt độ tăng 3- 4 độ C, số người phải chịu ngập lụt ở vùng duyên hải là 134 – 332 triệu người.

Hoạt động của bão nhiệt đới gia tăng cũng có thể làm tăng số người bị tác động lên 371 triệu người vào cuối thế kỷ 21. Theo đó, khi mực nước biển dâng cao thêm 1 m, ở vùng thấp thuộc Ai Cập, 6 triệu người có thể mất nhà cửa và ngập lụt 4.500 km2 đất canh tác.

Riêng ở Việt Nam, nước biển dâng sẽ khiến 22 triệu người Việt Nam mất nhà cửa với thiệt hại lên tới 10% GDP. Lũ lụt và bão tố mạnh hơn cũng có thể làm chậm những tiến bộ trong phát triển con người ở những vùng dân cư chính yếu, kể cả Đồng bằng sông Cửu Long.

Báo cáo cũng cho thấy, biến đổi khí hậu gây đe dọa với Việt Nam ở nhiều cấp. Lượng mưa dự kiến sẽ gia tăng và Việt Nam sẽ đối mặt với những trận bão nhiệt đới mạnh hơn. Mực nước biển dự kiến sẽ dâng cao 33 cm vào năm 2050 và 1 m vào năm 2100.

“Với ĐBSCL thấp trũng, đây là một dự báo rất ảm đạm. Mực nước biển dâng cao như dự báo vào năm 2030 sẽ khiến khoảng 45% diện tích đất của khu vực này có nguy cơ nhiễm mặn cực độ và thiệt hại mùa màng do lũ lụt. Năng suất lúa dự báo sẽ giảm 9%. Nếu mực nước biển dâng cao 1m, phần lớn ĐBSCL sẽ hoàn toàn ngập trắng nhiều thời gian dài trong năm”- Ông Bernard O’Callaghan cho biết.

Biến đổi khí hậu cũng làm một diện tích rộng lớn của đồng bằng sông Mê Công, sông Hồng và ven biển miền Trung bị ngập lụt do nước biển dâng. Nước biển dâng cũng ảnh hưởng đến vùng đất ngập nước của bờ biển Việt Nam, nghiêm trọng nhất là các khu vực rừng ngập mặn của Cà Mau, TP.HCM, Vũng Tàu và Nam Định.

Về khí hậu, nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng 0,1 độ C / thập kỷ. Trong một số tháng mùa hè, nhiệt độ tăng khoảng 0,1 – 0,3 độ C / thập kỷ. Mưa lớn thường xuyên hơn.

Báo cáo cũng cho biết sự biến đổi này còn gây những tác động lớn đối với phát triển con người ở ĐBSCL. Theo đó, dù mức đói nghèo đã và đang giảm nhưng hiện vẫn còn 4 triệu người đói nghèo ở ĐBSCL. Đối với nhóm này, sự sụt giảm nhỏ về thu nhập hay mất cơ hội việc làm do lũ lụt sẽ gây hậu quả nghiêm trọng đối với dinh dưỡng, sức khỏe và giáo dục.

Trong đó người nghèo sẽ phải chịu nguy cơ gấp đôi. Khả năng những người này sinh sống ở những vùng dễ ngập lụt là cao hơn, song khả năng sống trong những ngôi nhà kiên cố, vững chắc thì thấp hơn.

Theo Phạm Tuyên, Tiền phong

TÁC ĐỘNG VỀ XÃ HỘI SAU KHI VIỆT NAM GIA NHẬP WTO


TÁC ĐỘNG VỀ XÃ HỘI SAU KHI VIỆT NAM GIA NHẬP WTO
I- NHỮNG VẤN ĐỀ XÃ HỘI – NHÌN LẠI HƠN MỘT NĂM TỪ KHI VIỆT
NAM GIA NHẬP WTO
Năm 2007, nhờ quá trình đổi mới đã hơn 20 năm tạo thế và lực, trong đó có
phần đóng góp của năm đầu tiên gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), kinh tế Việt Nam đạt được thành tựu trên nhiều lĩnh vực, tăng trưởng kinh tế đạt 8,5%. Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt mức cao nhờ cải thiện trong chính sách đầu tư, môi trường kinh doanh, mở cửa thị trường theo cam kết WTO. Tính đến tháng 12/2007, vốn FDI đăng ký đạt 15 tỉ USD, tăng gần 40% so với cùng kỳ năm trước. Thị trường xuất khẩu mở rộng với kim ngạch xuất khẩu đạt 48 tỷ USD, tăng 20,5% so với năm 2006 và vượt 3,1% so với kế hoạch. Dự trữ ngoại tệ được bổ sung thêm 9 tỷ USD. Hội nghị lần thứ 15 các nhà tài trợ tổ chức đầu tháng 12/2007 tại Hà Nội đã mang lại cho Việt Nam 5,426 tỷ USD ODA cam kết trong năm 2008, tăng 20% so với năm 2007.
Việc thực hiện các cam kết WTO khi Việt Nam gia nhập tổ chức kinh tế quốc tế lớn nhất hành tinh này đưa đến những thời cơ lớn và thách thức lớn đan xen vào nhau về kinh tế và xã hội. Vấn đề kinh tế nào cũng có chiều cạnh xã hội và tác động về mặt xã hội, đồng thời có những vấn đề trực tiếp có tính chất xã hội, tạo ra những hệ quả xã hội đặc trưng. Về kinh tế cũng như về xã hội, nếu biết vượt thách thức có hiệu quả thì thách thức sẽ biến thành thời cơ, còn nếu không biết tranh thủ thời cơ kịp thời thì thời cơ cũng có thể biến thành thách thức. Mặt khác, từ cuối năm 2007, do những vấn đề đã tích tụ trong nhiều năm trước, cộng với những diễn biến không thuận của kinh tế thế giới, đặc biệt là những khó khăn, thậm chí suy thoái của kinh tế Mỹ, lại thêm những hậu quả ngày càng rõ của sự biến đổi khí hậu toàn cầu, nên tình hình kinh tế vĩ mô của nước ta đã bộc lộ những nhân tố bất ổn, như hiệu quả thấp của đầu tư, nhập siêu tăng cao, thâm hụt ngân sách lớn, thị trường chứng khoán chao đảo, thị trường bất động sản hình thành bong bóng nguy hiểm, và nhất là lạm phát hai con số tác động xấu đến đời sống của nhân dân, nhất là những người nghèo.
Hơn một năm nay đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều hội thảo, cả trong
nước và quốc tế, về tác động của việc gia nhập WTO đối với sự phát triển kinh tế của Việt Nam. Chuyên đề này tập trung vào những hệ quả trực tiếp có tính chất xã hội. Để có thể đưa ra những kết luận đủ độ tin cậy, cần phân tích, tính toán bằng các chỉ số định lượng và trên cơ sở một khoảng thời gian đủ dài, bao gồm tỷ lệ thất nghiệp, tỷ lệ nghèo đói, tuổi thọ, tỷ lệ chết của trẻ sơ sinh, hệ số Gini (hay mức độ bất bình đẳng), tỷ lệ biết chữ, tỷ lệ đi học, bình đẳng giới…đó là chưa kể sự phân tích rất cần thiết về lối sống, về văn hoá. Chuyên đề này không có điều kiện tiến hành những nghiên cứu định lượng đó, mà chỉ lựa chọn phân tích một số vấn đề xã hội khi Việt Nam gia nhập WTO, từ đó có một số nhận xét đánh giá làm cơ sở để đưa ra một số gợi ý chính sách.
1- Các quy tắc của WTO và cách thực hành trong WTO tác động về xã hội
WTO là tổ chức kinh tế thế giới thúc đẩy sự lưu chuyển trên quy mô toàn cầu của hàng hoá, dịch vụ và các yếu tố sản xuất như vốn, công nghệ, tri thức quản lý kinh doanh. Tham gia vào WTO là tham gia vào quá trình toàn cầu hoá kinh tế hiện đã trở thành một xu thế tất yếu của thời đại, khi đó thị trường trong nước của mỗi quốc gia ngày càng liên kết sâu rộng với thị trường thế giới. Để thực hiện mục tiêu đó, WTO đề ra những nguyên tắc bắt buộc các thành viên tham gia phải thực hiện.
Các nguyên tắc cơ bản của WTO là:
(i) Không phân biệt đối xử, thể hiện qua hai chế độ là đối xử tối huệ quốc (MFN) và đối xử quốc gia (NT). Theo đó, thương mại quốc tế đối với hàng hóa và dịch vụ phải được thực hiện trên cơ sở không phân biệt đối xử giữa các nước thành viên. Nguyên tắc này nằm trong điều khoản “tối huệ quốc” (MFN) được nêu trong tất cả các Hiệp định WTO. Điều khoản MFN được bổ sung bằng điều khoản đãi ngộ quốc gia trong thương mại hàng hóa cũng như thương mại trong các lĩnh vực dịch vụ mà các thành viên cam kết. Điều khoản đãi ngộ quốc gia nghiêm cấm phân biệt đối xử giữa hàng hóa và dịch vụ nhập khẩu với hàng hóa và dịch vụ được sản xuất trong nước.
(ii) (ii) Thúc đẩy thương mại quốc tế đối với hàng hoá và dịch vụ thông qua đàm phán dỡ bỏ rào cản giữa các quốc gia, cắt giảm các loại thuế hải quan. Những biện pháp phi thuế quan như hạn chế nhập khẩu hay hạn ngạch không được sử dụng. Những biện pháp thương mại không lành mạnh như trợ cấp xuất khẩu, bán phá giá bị hạn chế tối đa.
(iii) Minh bạch hoá: bao gồm minh bạch về chính sách và minh bạch về tiếp cận thị trường. Việt nam là nước đang phát triển và đang chuyển đổi, nên qua đàm phán đã đạt được kết quả có thời hạn một số năm để chuẩn bị thực hiện cam kết về thuế tiêu thụ đặc biệt, trợ cấp nông nghiệp và phi nông nghiệp, quyền kinh doanh...
Dẫu sao, tham gia WTO có nghĩa là nền kinh tế chấp nhận một sự cạnh tranh quyết liệt hơn cả ở trong nước và trên thị trường thế giới.
Đương nhiên, Việt nam vẫn hoàn toàn có quyền lựa chọn nhà đầu tư này hay nhà đầu tư khác, thứ hàng hoá dịch vụ của nước này, hãng này hay nước khác, hãng khác, chứ không phải bất kỳ nhà đầu tư nào, hàng hoá nào, dịch vụ nào cũng có thể tự do vào nước ta. Do vậy, có chính sách và biện pháp đúng để tham gia WTO có hiệu quả, thì nguồn lực của nền kinh tế sẽ được phân bổ hiệu quả hơn trên cơ sở những lợi thế so sánh của mỗi quốc gia và sự phân công lao động quốc tế. Kết cục là sức mạnh của quốc gia sẽ được tăng lên nhờ tham gia vào quá trình đó.
Một kết quả dễ thấy về mặt xã hội khi hội nhập kinh tế quốc tế là người dân được hưởng nhiều loại hàng hóa và dịch vụ với chủng loại đa dạng hơn, chất lượng cao hơn và giá cả thấp hơn so với trường hợp không hội nhập. Điều đó có nghĩa là phúc lợi của mỗi người được nâng lên.
Tuy nhiên, không nên chỉ nhìn vào lợi ích toàn cục đó mà bỏ qua những vấn đề xã hội. Lợi ích của sự phát triển không được phân chia đồng đều cho tất cả mọi người của mỗi quốc gia nhờ tham gia WTO. Việc làm có thể mất đi ở nhóm người này hay ở nhóm ngành, nghề nào đó do chuyển dịch cơ cấu hay thay đổi lợi thế so sánh. Bất bình đẳng có thể tăng lên do thu nhập sẽ tăng lên với tốc độ khác nhau giữa những nhóm người khác nhau, giữa các vùng miền có điều kiện tự nhiên và xã hội khác nhau. Và còn nhiều vấn đề khác nữa như môi trường, công bằng, đạo đức xã hội… Những vấn đề xã hội này nếu không được nhìn nhận, đánh giá đúng mức và có giải pháp phù hợp sẽ dẫn đến những hệ quả tiêu cực và thậm chí kìm hãm sự phát triển. Mỗi quốc gia đều phải giải quyết tốt những vấn đề đó, tận dụng thời cơ đồng thời hạn chế những thách thức của quá trình toàn cầu hóa để đảm bảo sự phát triển bền vững.
2-Thực tế diễn biến một số vấn đề xã hội sau khi Việt Nam gia nhập WTO
2.1. Việc làm và thu nhập
Thị trường lao động là một trong những kênh chính chịu tác động xã hội khi gia nhập WTO, bởi sự gia tăng nhập khẩu, xuất khẩu, cạnh tranh, áp dụng công nghệ mới, đầu tư trực tiếp nước ngoài... đều có thể tác động đến việc làm và thu nhập của người lao động.
Gia nhập WTO giúp thay đổi các cách thức sản xuất sản phẩm xã hội, thay đổi các cách thức tổ chức các nhân tố sản xuất theo nguyên tắc hiệu quả. Gia nhập WTO cũng đồng nghĩa là các bước đi của cải cách thị trường sẽ nhanh hơn.
Một điều quan trọng nữa là với việc gia nhập WTO, những quy tắc được chấp nhận mang tính toàn cầu sẽ làm thay đổi một cách hiệu quả suy nghĩ, hành vi và thúc đẩy người lao động tăng khả năng của bản thân họ.
Tất cả những quá trình này dẫn đến nhiều điều chỉnh trong cơ cấu của cả 3 lĩnh vực chủ yếu của nền kinh tế là công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ. Điều này tạo ra cơ hội đáng kể để phát triển thị trường lao động.
Khu vực công nghiệp chứng kiến việc làm được tạo ra ở nhiều ngành nhưng đồng thời cũng có nhiều lĩnh vực bị mất đi việc làm. Trong trước mắt, rất nhiều việc làm mới được tạo ra ở những ngành sử dụng nhiều lao động và không đòi hỏi tay nghề cao mà những nước đang phát triển như Việt Nam có lợi thế do sự phân công lao động quốc tế. Đó là những ngành công nghiệp nhẹ như dệt may, da giầy, chế biến thực phẩm, xây dựng, hoặc những ngành xuất khẩu nguyên liệu thô, khai khoáng... Nhưng đồng thời những ngành không còn nhận được trợ cấp của Chính phủ sau khi thực hiện cam kết WTO hay những doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hoá sẽ là những ngành bị mất nhiều việc làm. Nhưng nhìn chung, việc làm tổng cộng ở khu vực công nghiệp tăng lên.
Theo số liệu khảo sát mới đây của trang web việc làm lớn nhất Việt Nam là vietnamworks.com, chỉ số cầu nhân lực năm 2007 tăng 67% so với năm 2006, đặc biệt cao nhất là những ngành sản xuất, trong khi đó chỉ số cung nhân lực mới chỉ tăng 22%. Điều đó cho thấy rất nhiều việc làm mới đã được tạo ra trong năm qua nhưng nguồn nhân lực hiện tại không đáp ứng đủ và xu hướng này còn tiếp tục trong những năm tới. Báo cáo cũng chỉ ra rằng nhu cầu về lao động có tay nghề đang tăng rất mạnh và sẽ xảy ra thiếu hụt trầm trọng đối với nhóm lao động có tay nghề.
Khu vực nông nghiệp có khả năng mất nhiều việc làm nhất do cơ cấu ngành đang có chiều hướng thu hẹp lại, diện tích trồng trọt giảm đi để chuyển sang nhiều mục đích sử dụng khác, đồng thời năng suất nông nghiệp tăng lên nhờ áp dụng các kỹ thuật và công nghệ tiên tiến hơn. Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong quá trình xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, kết cấu hạ tầng, mỗi năm cả nước có gần 200.000 ha đất nông nghiệp bị chuyển đổi mục đích sử dụng, tương ứng mỗi hộ gia đình nông thôn có khoảng 1,5 lao động bị mất việc làm. Với 54% lực lượng lao động hiện nay là lao động nông thôn, phần lớn trong số đó là chưa qua đào tạo, thì cơ hội tìm việc làm mới của họ sẽ gặp nhiều khó khăn. Trong khi đó, lực lượng lao động vẫn còn làm trong ngành nông nghiệp cần phải có kỹ năng làm việc cao hơn để có năng suất cao hơn. Điều này cho thấy vấn đề đào tạo và đào tạo nghề ở khu vực nông thôn có vị trí hết sức quan trọng.
Khu vực thứ ba - dịch vụ - là ngành có nhiều cơ hội tạo ra một số lượng lớn việc làm. Nói cụ thể hơn, tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh kích thích sự luân chuyển của hàng hoá và đem lại sự đa dạng phong phú các loại sản phẩm thị trường, kéo theo sự phát triển của các ngành dịch vụ cũng như nhu cầu việc làm ở khu vực này tăng lên. Đồng thời, những cam kết về mở cửa thị trường dịch vụ, đặc biệt là về bán lẻ và bán buôn tạo ra một số lượng lớn việc làm mới.
Nhiều lĩnh vực dịch vụ cao cấp được mở ra như ngân hàng, bảo hiểm, viễn thông cũng tạo ra nhiều việc làm mới. Cũng theo báo cáo của Vietnamworks, nhu cầu lao động ở những ngành dịch vụ như ngân hàng, tài chính, bảo hiểm là cao nhất trong năm 2007.
Một điểm cần lưu ý là khi vào WTO, cạnh tranh thị trường mạnh hơn, tức là người tìm việc chứ không phải việc tìm người. Vì vậy cần nhận thức rõ địa vị chủ động của người lao động, họ không chỉ là người nhận việc. Điều này tất yếu dẫn đến sự di chuyển lao động tăng lên giữa thành thị và nông thôn, giữa các khu vực và giữa các doanh nghiệp. Do đó, những hạn chế mang tính hành chính ngăn cản di chuyển lao động cần được bãi bỏ. Và điều quan trọng nhất là ảnh hưởng chủ yếu của gia nhập WTO đến việc làm về dài hạn là chất lượng chứ không phải là số lượng, đòi hỏi có thêm nhiều lao động tay nghề cao.
Việc làm vừa được tạo ra vừa bị mất đi khi thị trường được tự do hoá và những lợi thế so sánh di chuyển giữa các ngành nghề để đáp lại những thay đổi của thị trường. Việc làm chuyển từ ngành này sang ngành khác. Thách thức cho các nhà hoạch định chính sách là làm thế nào để tối đa hoá lợi ích và giảm thiểu sự mất đi việc làm, đồng thời quản lý tốt nhất sự di chuyển của việc làm và người lao động giữa các khu vực.
Về thu nhập của người lao động, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong năm qua có một kết quả rõ ràng là làm tăng thu nhập thực tế của người dân. Theo số liệu mới đây của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, thu nhập trung bình của người lao động trong khu vực doanh nghiệp năm 2007 tăng lên 10% so với năm 2006. Năm 2007 cũng là năm sản lượng và giá của nhiều loại nông sản chủ yếu đều tăng như gạo, cá, tôm, cà phê, cao su, hạt tiêu v.v. giúp thu nhập của người nông dân được cải thiện một bước.
Tuy nhiên điểm cần lưu ý là trong bối cảnh cạnh tranh, tiền lương thực tế của những lao động có trình độ tăng cao hơn so với người lao động không có tay nghề. Như vậy, bất bình đẳng thu nhập gia tăng do có sự khác biệt về mức lương giữa nhóm lao động có kỹ năng và khả năng thích ứng cao so với các nhóm lao động khác.
Hội nhập kinh tế tạo ra những cơ hội khác nhau về thu nhập của người lao động. Chẳng hạn, lao động trong các ngành xuất khẩu, dịch vụ có mức tăng trưởng thu nhập cao hơn do được hưởng lợi nhiều nhất khi hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Trong khi đó, nông dân là những người chưa được hưởng lợi nhiều bởi họ không tham gia xuất khẩu trực tiếp hàng hóa, điều đó đồng nghĩa với việc họ chưa thực sự hội nhập vào nền kinh tế thế giới.
Những nghiên cứu về kinh nghiệm một số nước trong khu vực như Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philippines là những nước tham gia hội nhập kinh tế quốc tế trước Việt Nam cho thấy nước nào thị trường càng mở cửa hơn cho bên ngoài, thì tiền lương thực tế càng tăng cao.
2.2. Nông nghiệp và nông thôn
Theo nhận định của nhiều chuyên gia, khu vực nông nghiệp và nông thôn, đặc biệt là ở những nước đang phát triển, là khu vực chịu nhiều tác động nhất khi gia nhập WTO. Người nông dân vốn đã không chuẩn bị cho mình đầy đủ kiến thức và điều kiện để thích ứng với một môi trường cạnh tranh khắc nghiệt khi mở cửa thị trường chắc chắn sẽ gặp phải nhiều khó khăn, nhất là khi không còn được nhà nước bảo trợ về giá nông sản nữa. Mặt khác, công nghệ mới thâm nhập vào nông nghiệp, sản xuất nông nghiệp hướng theo quy mô lớn và thâm canh tăng năng suất. Điều này dẫn đến kết quả là thiếu việc làm cho nông dân và một phần trong số họ sẽ lâm vào tình trạng thất nghiệp hoặc phải đi tìm các việc làm thay thế khác. Trong khi đó, đa số người nghèo lại là nông dân nên khi chịu những tác động kinh tế lớn, khu vực này tiềm ẩn nhiều vấn đề xã hội.
Hiện nay dân số sống ở nông thôn vẫn chiếm tới hơn 70% dân số cả nước và thu nhập của họ chủ yếu vẫn dựa vào nông nghiệp, đặc biệt là trồng lúa. 2/3 dân số Việt Nam ở nông thôn đang ở tình trạng kém phát triển với năng suất thấp so với 1/3 dân số thành thị. Những khó khăn hiện tại của người nông dân Việt Nam là rất rõ ràng khi họ phải chịu nhiều rủi ro của thiên tai cộng với chi phí sản xuất đầu vào lớn và phải trang trải nhiều chi phí đời sống khác như học hành, chữa bệnh... trong phạm vi thu nhập khiêm tốn hơn nhiều so với người dân ở đô thị. Nông nghiệp và đời sống của người nông dân Việt Nam được lo ngại hơn cả bởi những tác động khi gia nhập WTO.
Mặc dù vậy, thực tế trong năm qua chưa cho thấy có những tác động tiêu cực lên khu vực này như nhiều người đã dự đoán. Thay vào đó cơ hội cải thiện đời sống của người nông dân đã diễn ra nhờ cơ hội xuất khẩu nông sản nhiều hơn.Hầu hết hàng nông sản năm 2007 đều được giá nên giá trị xuất khẩu tăng mạnh.
Tổng kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng nông, lâm, thủy sản đạt trên 10 tỷ USD. Nhiều mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu 1 tỷ USD trở lên. Kim ngạch xuất khẩu cà phê đạt khoảng 1,7 tỷ USD (năm 2006 xuất khẩu gần 1 tỷ USD); thuỷ sản đạt 3,6 - 3,7 tỷ USD (năm 2006 đạt hơn 3 tỷ USD). Mặt hàng gỗ chế biến dự kiến đạt khoảng 2,5 tỷ USD; cao su khoảng 1,4 tỷ USD; xuất khẩu gạo trên 4,53 triệu tấn, đạt kim ngạch 1,4 tỷ USD... Nhiều hộ nông dân đã có thu nhập cao trong năm qua do được mùa và giá cao. Như vậy, có thể nói việc gia nhập WTO bước đầu đã đem lại những tác động tích cực cho người nông dân ở Việt Nam.
Theo những cam kết của Việt Nam khi vào WTO, các sản phẩm nông nghiệp dành cho tiêu dùng trong nước vẫn nhận được khoảng 10% trợ cấp của Nhà nước trên tổng mức tiêu dùng chung mặc dù trợ cấp dành cho nông sản xuất khẩu phải loại bỏ. Mức thuế quan trung bình đánh vào hàng nông sản giảm từ 23,5% xuống còn 20,9% vẫn là mức khá cao và mang tính bảo hộ cho nông nghiệp trong nước. Đồng thời, Việt Nam vẫn có thể duy trì một hệ thống hạn ngạch nhập khẩu nhằm bảo hộ sản xuất trong nước cho nhiều loại nông sản như mía, trứng, thuốc lá và muối. Đây là những thuận lợi chúng ta cần tận dụng để bảo vệ nền nông nghiệp và hỗ trợ nông dân trong bối cảnh Việt Nam gia nhập WTO.
Tác động tích cực nhất đối với nông nghiệp khi Việt Nam gia nhập WTO là mở ra những cơ hội để có thể hợp tác toàn diện trên lĩnh vực khoa học nông nghiệp với các nước phát triển, đẩy mạnh thu hút kỹ thuật nông nghiệp mới, nâng cao hàm lượng kỹ thuật của nông sản, chất lượng sản phẩm và sức cạnh tranh... có lợi cho điều chỉnh cơ cấu nông nghiệp và chuyển đổi sản phẩm của vùng nông thôn. Đồng thời, việc mở cửa thị trường bán lẻ sẽ kích thích lưu thông, phân phối và xuất khẩu nông sản.
Tuy nhiên, nông nghiệp và nông thôn Việt Nam cũng đang đứng trước một thách thức lớn là tình trạng thiếu việc làm. Điều này là xu thế tất yếu trong bối cảnh chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng tích cực với diện tích canh tác thu hẹp lại để chuyển mục đích sang công nghiệp và kết cấu hạ tầng cơ sở. Việc áp dụng máy móc và khoa học kỹ thuật nông nghiệp làm cho năng suất tăng cao hơn nhưng cũng sử dụng ít lao động hơn. Lực lượng lao động nông nghiệp dư ra là nguồn cung ứng lao động cho những ngành khác.
Thực tế cho thấy luồng lao động di cư từ nông thôn ra thành thị đang ngày càng tăng lên. Gia nhập WTO cũng có nghĩa là nhiều cơ hội việc làm được mở ra ở những ngành khác, nhất là ở thành thị và các khu công nghiệp. Vấn đề đáng chú ý ở đây là lực lượng lao động di cư từ nông thôn ra thành thị hầu hết phải làm những công việc không đòi hỏi tay nghề cao và có mức thu nhập thấp. Hơn thế nữa, việc di cư từ nông thôn ra thành thị dẫn đến tình trạng quá tải về cơ sở hạ tầng và các dịch vụ cơ bản ở những đô thị lớn, đòi hỏi phải có những giải pháp toàn diện.
Kinh nghiệm Trung Quốc về nông nghiệp và nông thôn là rất đáng để nghiên cứu. Kể từ khi bắt đầu gia nhập WTO, Trung Quốc đã hết sức chú trọng đến vấn đề giải quyết việc làm cho lực lượng lao động nông thôn. Trung Quốc thực hiện khẩu hiệu “Ai ai cũng có kiến thức”. Người lao động chưa qua đào tạo và trình độ thấp thì được đào tạo thông qua “chương trình ánh sáng tham gia đào tạo và hướng nghiệp” cho người lao động nông thôn. Chính phủ Trung Quốc còn áp dụng nhiều biện pháp khuyến khích tạo việc làm trong chiến dịch nông thôn mới, kể cả việc tăng cường đầu tư kết cấu hạ tầng cho nông thôn, xóa bỏ học phí cho vùng nông thôn. Ngoài Bộ Lao động và An sinh xã hội thì Bộ Dân chính cũng tham gia đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Bình quân hàng năm phải đào tạo khoảng 1 triệu người lao động cho vùng khó khăn. Với miền núi khó khăn, tập trung đào tạo nghề, đưa đến các khu vực phát triển để tìm việc làm, tạo ra nguồn thu nhập lớn cho vùng khó khăn.
Bên cạnh đó, Trung Quốc đã có các chính sách đẩy mạnh phát triển đô thị, tăng cơ hội việc làm và điều chỉnh cơ cấu sản phẩm của xí nghiệp hương trấn, đẩy mạnh mậu dịch gia công bên ngoài, đưa lao động đi xuất khẩu; tăng cường xây dựng kết cấu hạ tầng; phát triển nhiều ngành nghề mới và dịch vụ ở nông thôn...để tạo việc làm và tăng thu nhập giảm nghèo.
Trung Quốc có chính sách trợ giúp nông nghiệp, đó là điều chỉnh cơ cấu vùng miền. Vùng ven biển giảm diện tích trồng cây lương thực, phát triển nông nghiệp thu ngoại tệ, miền trung và miền tây phát triển nông nghiệp trồng trọt nhằm đảm bảo phát triển cân đối giữa các vùng miền, đặc biệt chú trọng đến vùng phía tây kém lợi thế so sánh. Trung Quốc thực hiện các cam kết WTO nhưng đồng thời hướng đến một nền nông nghiệp chất lượng cao thông qua việc hoàn thiện pháp luật về kiểm dịch động thực vật, hoàn thiện hệ thống tiêu
chuẩn chất lượng đối với sản phẩm trong nước. Người nông dân cũng được bảo vệ với nhiều biện pháp cụ thể như đẩy mạnh trợ giúp nông nghiệp, thực hiện chính sách 4 miễn đối với nông dân (miễn thuế nông nghiệp, thuế chăn nuôi, thuế đặc sản nông lâm, thuế giết mổ), giảm đóng góp cho nông dân; đẩy mạnh trợ giúp nông nghiệp, trợ cấp các hạng mục cho nông dân (giống, mua công cụ lớn, sản xuất nông nghiệp tổng hợp...); đẩy mạnh trợ giúp sản xuất nông nghiệp thông qua ứng dụng khoa học kỹ thuật, đào tạo nghề cho nông dân, tăng cường đầu tư kết cấu hạ tầng, xây dựng nông thôn mới; thúc đẩy cải cách hệ thống lưu thông sản phẩm.
Bài học cho Việt Nam ở đây là cần tạo điều kiện để lao động nông thôn di chuyển sang khu vực phi nông nghiệp. Năng suất lao động trong ngành công nghiệp và dịch vụ cao hơn gấp 6 lần lao động ở nông nghiệp và như vậy mỗi lao động nông nghiệp được chuyển sang khu vực khác sẽ tạo động lực đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế đất nước.
Chiến lược công nghiệp hoá ưu tiên phát triển các ngành sử dụng nhiều lao động song song với việc đẩy mạnh giáo dục cơ bản ở nông thôn là tiền đề để thực hiện sự phát triển trong công bằng. Đồng thời đầu tư vào kết cấu hạ tầng ở nông thôn tạo điều kiện cho nông dân đa dạng hoá nông phẩm và tiếp cận với thị trường, thực hiện được chính sách phát triển nhanh nhưng không mở rộng độ chênh lệch giàu nghèo trong quá trình phát triển.
2.3. Xoá đói giảm nghèo và công bằng xã hội
Thành tích xóa đói giảm nghèo của Việt Nam đã được thế giới đánh giá rất cao. 15 năm qua, Việt Nam là một trong những nước đạt được tốc độ giảm nghèo nhanh nhất thế giới. Tỷ lệ nghèo đói - tính bằng số người sống dưới mức 1USD/ngày – đã giảm từ khoảng 58% năm 1993 xuống còn 16% năm 2006. Năm 2007, sau một năm gia nhập WTO tỷ lệ nghèo lại tiếp tục giảm 6,28% so với cuối năm 2006.
Tỷ lệ nghèo đói ngày càng giảm của Việt Nam là nhờ những chính sách đem lại tốc độ tăng trưởng nhanh và liên tục, với tốc độ 7- 8% năm trong hơn một thập kỷ qua. Thành tích đó còn do Việt Nam có chính sách hạn chế gia tăng bất bình đẳng. Hệ số Gini, một chỉ số về bất bình đẳng thu nhập, chỉ tăng từ 0,34 năm 1993 lên 0,36 năm 2006 - thấp hơn các nền kinh tế mới nổi khác. Tỷ lệ người gần ngưỡng nghèo đói cũng giảm xuống và nếu theo xu hướng này có thể hy vọng nhiều người nữa thoát đòi nghèo trong tương lai gần.
Trong bối cảnh Việt Nam chính thức gia nhập WTO, tăng trưởng và giảm
nghèo đã diễn ra đồng đều ở cả thành thị và nông thôn. Tỷ lệ nghèo chỉ khoảng 4% dân số đô thị năm 2006 là mức tương đối thấp so với nhiều nước khác trong khi đó tỷ lệ này ở nông thôn cũng đang giảm nhanh chóng. Năm 1993, khoảng 2/3 dân số nông thôn được coi là nghèo, nay con số này giảm xuống còn 1/5.
Xóa đói giảm nghèo được tiến hành khắp các vùng, miền của Việt Nam. Tỷ lệ nghèo ở miền núi phía Bắc và Tây Nguyên mặc dù còn cao hơn hẳn so với các vùng khác chẳng hạn như Đồng bằng sông Cửu Long và Sông Hồng, nhưng cũng giảm khá nhanh. Tỷ lệ nghèo của người thiểu số giảm xuống rõ rệt. Như vậy không có vùng nào ở Việt Nam bị bỏ rơi trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Nhiều chuyên gia đã chỉ ra ba yếu tố dẫn đến tăng trưởng tương đối đồng đều cho mọi người ở Việt Nam, đó là giáo dục, thương mại và kết cấu hạ tầng.
Ngày nay Việt Nam đã có tỷ lệ người biết đọc biết viết lên đến 95%, cao hơn Trung Quốc và Ấn Độ, và đó là yếu tố quan trọng dẫn đến tăng trưởng cho mọi người.
Thành tích của Việt nam xuất khẩu nhiều loại sản phẩm và thu hút đầu tư nước ngoài nhờ những hiệp định thương mại song phương và với WTO đã làm tăng thu nhập cho nhiều người.
Kết cấu hạ tầng nông thôn, nhờ chương trình điện khí hoá và giao thông nông thôn giúp cho những khu vực xa xôi nhất của đất nước cũng không bị bỏ rơi. Ngày nay, khoảng 95% hộ gia đình có điện lưới, so với 50% đầu những năm 1990. Khoảng 90% dân số sống trong khoảng cách không quá 2 km tới đường có thể đi được trong mọi điều kiện thời tiết. Người dân nông thôn hiện nay đã có điều kiện tiếp cận dễ dàng với các phương tiện thông tin như radio và tivi, kể cả ở vùng sâu, vùng xa. Các phương tiện liên lạc như điện thoại hay internet ngày càng phổ biến ở nông thôn.
Mức độ giảm nghèo tiến bộ liên tục trong nhiều năm là nhờ Việt Nam đã có những bước đi đúng đắn và cụ thể, thể hiện rõ nhất trong việc thực hiện Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo với nhiều chương trình quốc gia được sự hỗ trợ lớn của ngân sách và các nguồn viện trợ quốc tế.
Những chương trình quốc gia về các lĩnh vực giáo dục, y tế, bảo hiểm, xóa đói giảm nghèo, an sinh xã hội đã cải thiện nhiều chỉ tiêu phát triển con người của Việt Nam như tuổi thọ, sử dụng nước sạch, tiến bộ về giới...
Tuy nhiên, một vấn đề đặt ra là xoá đói giảm nghèo đạt kết quả tốt nhưng lại đang có xu hướng gia tăng bất bình đẳng tuyệt đối. Theo số liệu thống kê, nhóm 20% người giàu nhất có mức chênh lệch về thu nhập và tiếp cận các dịch vụ gấp 6 lần so với nhóm 20% nghèo nhất. Xu hướng phân hóa giàu nghèo đang tăng trong nội bộ khu vực nông thôn, và đặc biệt là giữa nông thôn với đô thị. Mặc dù sự gia tăng chênh lệch giữa các vùng và giữa các nhóm người là tất yếu do phát triển kinh tế và mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, nếu để chênh lệch quá mức dẫn tới bất ổn xã hội sẽ thật sự là vấn đề đáng lo ngại và điều này cần được hết sức lưu ý.
3-Đánh giá chung
Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới đến nay mới được hơn một năm. Việc đánh giá tác động về mặt xã hội cần phải có nhiều thời gian hơn nữa và cần dựa trên những phân tích kỹ lưỡng hơn để đưa ra những kết luận rõ ràng. Tuy nhiên qua những diễn biến thực tế được phân tích ở trên, những ảnh hưởng về mặt xã hội khi Việt Nam gia nhập WTO có chiều hướng tích cực nhưng cũng có không ít vấn đề phải đối mặt. Có thể rút ra một số nhận xét sau đây.
Chỉ trong một thời gian ngắn trước khi vào WTO, đã có khoảng 30 bộ luật và pháp lệnh được sửa đổi cho phù hợp với các nguyên tắc và qui định của WTO, điều đó chứng tỏ Việt Nam thực hiện nghiêm túc các cam kết WTO và sẵn sàng đón nhận những thời cơ mới mà WTO mang lại.
Bên cạnh những con số ấn tượng đạt được về mặt kinh tế trong năm 2007, những vấn đề xã hội cũng được cải thiện một bước.
Việc làm tăng lên nhiều qua các năm, đặc biệt là ở khu vực đầu tư nước ngoài và khu vực dân doanh, chứng tỏ môi trường kinh doanh và đầu tư của Việt nam đã ngày càng được cải thiện, trong đó có phần nhờ thực hiện các cam kết WTO.
Việc cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước được tiến hành trong những năm qua được dự kiến là làm tăng tỷ lệ thất nghiệp. Tuy nhiên, với sự chuẩn bị tốt, Nhà nước đã có những chính sách hỗ trợ kịp thời đối với số lao động dư ra, do đó hầu như không có tình trạng thất nghiệp. Đây là một kết quả đáng khích lệ và cần tiếp tục đẩy mạnh cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước. Năm 2007, kế hoạch được đề ra là cổ phần hóa 500 doanh nghiệp nhà nước nhưng đến hết năm mới chỉ cổ phần hóa 116 doanh nghiệp, đạt 21%, là con số quá thấp so với chỉ tiêu đề ra.
Một số việc làm dự kiến sẽ bị mất đi trong thời gian sắp tới, đặc biệt là ở khu vực các doanh nghiệp nhà nước sẽ cổ phần hóa, ở những doanh nghiệp không còn nhận được sự bảo hộ của nhà nước theo cam kết của WTO, hay thậm chí ở một số ngành sử dụng nhiều lao động hiện nay có thể mất đi lợi thế cạnh tranh khi Việt Nam hội nhập sâu hơn với nền kinh tế thế giới. Tuy nhiên, dự kiến tác động này là có tính cục bộ, không quá lớn và chỉ mang tính ngắn hạn. Mặc dù vậy, cũng cần có những nghiên cứu đánh giá kỹ tác động tới việc làm theo từng ngành cụ thể để có những giải pháp kịp thời.
Về tổng thể, hội nhập sẽ tạo ra nhiều cơ hội việc làm hơn, phần lớn người lao động sẽ có cơ hội làm việc tốt hơn, đặc biệt là người lao động có trình độ, có kỹ năng, nhưng cũng có một bộ phận bị mất việc làm, nhất là những người không có tay nghề.
Thu nhập của người lao động được tăng lên, đặc biệt là ở khu vực doanh nghiệp. Có thể nói điều đó có được là do trong môi trường cạnh tranh hơn, các doanh nghiệp đã có những biện pháp đổi mới kinh doanh theo hướng hiệu quả hơn, năng suất cao hơn và nhờ đó thu nhập của người lao động cũng tăng lên.
Tuy nhiên, thực tế lạm phát tăng nhanh trong năm qua cần có biện pháp xử lý hiệu quả. Lạm phát tăng cao và kéo dài sẽ làm cho thu nhập thực tế của người dân giảm xuống. Theo một nghiên cứu mới đây của Ngân hàng Thế giới, GDP đầu người tính theo sức mua tương đương (PPP) của Việt Nam giảm 30% năm 2007. Hơn nữa, lạm phát cao nếu không ngăn chặn kịp thời sẽ kìm hãm tăng trưởng và thậm chí có thể dẫn đến những bất ổn xã hội.
Việc tiền lương tăng lên phản ánh một thực tế là nhu cầu về lao động tăng lên, đặc biệt là đối với lực lượng lao động có kỹ năng, cho thấy có khả năng thiếu hụt ở nhóm lao động này.
Vấn đề công bằng và bất bình đẳng của Việt Nam đã được giải quyết khá tốt và được thế giới đánh giá cao. Công tác xóa đói giảm nghèo đạt được tiến bộ lớn nhờ những chính sách phát triển lấy trọng tâm là con người và vì người nghèo của Việt Nam được thực hiện trong nhiều năm qua.
Tuy nhiên, cần quan tâm đến sự chênh lệch giàu nghèo đang có xu hướng nới rộng ra giữa người có tay nghề và người không có tay nghề, giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng miền. Giải quyết tốt vấn đề chênh lệch giàu nghèo là tiền đề quan trọng cho sự phát triển bền vững.
Vấn đề cần quan tâm nhất là việc làm cho người nông dân. Đây không phải hoàn toàn là vấn đề của riêng việc Việt Nam gia nhập WTO mà là vấn đề mang tính cơ bản, chiến lược và lâu dài. Tình trạng thiếu việc làm của người nông dân là kết quả tất yếu của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Việt Nam đã và đang có nhiều chính sách hỗ trợ khá hiệu quả cho quá trình này, đặc biệt là những chương trình xóa đói giảm nghèo, chương trình công nghiệp hóa hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn. Thực tế cho thấy đời sống của người nông dân nhìn chung đã được cải thiện. Tuy nhiên, nhiều vấn đề cần được giải quyết, đó là việc di dân theo chiều hướng khó kiểm soát về thành thị, tình trạng tái nghèo, tình trạng bỏ học tăng lên ở lứa trẻ, đời sống khó khăn của người dân tộc thiểu số, vùng xa, vùng sâu.
Cuối cùng, để phát huy những thuận lợi về mặt kinh tế và xã hội do việc gia nhập WTO mang lại cho Việt Nam, thúc đẩy quá trình hội nhập sâu hơn và cạnh tranh được với các quốc gia khác, một điều không thể thiếu là xây dựng một mạng lưới an sinh xã hội, đảm bảo cho mọi người có một cuộc sống an toàn. Thực tế cho thấy hệ thống an sinh của Việt Nam hiện nay còn thiếu và yếu.
Chắc chắn, việc Việt Nam gia nhập WTO còn có những ảnh hưởng khác về mặt xã hội như môi trường, quan hệ xã hội và đạo đức xã hội rất cần được nghiên cứu đánh giá. Những vấn đề ấy nằm ngoài phạm vi đề cập của chuyên đề này.
II- TRANH THỦ PHÁT HUY THỜI CƠ VÀ THUẬN LỢI VỀ MẶT XÃ HỘI
KHI GIA NHẬP WTO – MỘT SỐ VIỆC CẦN LÀM
1- Thể chế và chỉ đạo, điều hành của Chính phủ
Muốn phát huy được những thời cơ và thuận lợi, hạn chế những khó khăn thách thức cả về mặt kinh tế lẫn xã hội khi chúng ta vào WTO, điều đầu tiên và quan trọng nhất là tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường phù hợp với những cam kết của WTO.
Vào WTO, chúng ta tham gia vào một “sân chơi” toàn cầu với sự cạnh tranh quyết liệt hơn nhưng cũng bình đẳng hơn. Thể chế Nhà nước đóng một vị trí rất quan trọng trong việc gia nhập sâu rộng vào sân chơi toàn cầu đó và thúc đẩy sự phát triển bền vững của nền kinh tế Việt Nam. Xây dựng một khung khổ thể chế ở Việt Nam, tạo ra được một hành lang an toàn cho nền kinh tế, một trật tự ổn định cho cuộc sống của người dân, các lợi ích, quyền và nghĩa vụ của từng cá nhân, của các cộng đồng đều được điều chỉnh trong một môi trường đồng thuận hoàn toàn phù hợp với những nguyên tắc của WTO.
Thể chế thể hiện thành pháp luật cần phải có vị trí tối thượng và mọi hoạt động của cơ quan nhà nước phải công khai, dựa trên pháp luật. Nhà nước tạo điều kiện nâng cao vai trò phản biện xã hội, giám sát xã hội của xã hội dân sự, tăng cường sự tham gia của cộng đồng để người dân chủ động bàn định các chính sách quốc gia và thực hiện quyền giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước từ lập pháp, hành pháp đến tư pháp.
Nhà nước cần tập trung nỗ lực hoàn thiện một môi trường pháp lý và chính sách thuận lợi để phát huy mọi nguồn lực của xã hội. Môi trường pháp lý đó phải lấy công khai, minh bạch làm nguyên tắc hàng đầu, lấy cạnh tranh bình đẳng và lành mạnh giữa các chủ thể hoạt động kinh doanh làm cơ sở nền tảng, việc trao quyền cho người dân phải được lấy làm mục tiêu và người thực thi công vụ phải luôn ý thức được trách nhiệm giải trình trước dân. Nhà nước kiểm tra, giám sát để bảo đảm trật tự, kỷ cương xã hội.
Sự điều hành của Chính phủ chỉ tập trung làm tốt những gì thực sự cần thiết thuộc về chức năng của Nhà nước, trả lại cho xã hội những công việc mà xã hội có thể làm tốt hơn.
Phương thức can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế phải thật sự chuyển từ những công cụ quản lý trực tiếp sang công cụ quản lý gián tiếp, dựa trên cơ sở vận dụng đúng đắn thế mạnh của cơ chế thị trường.
Chính phủ phải nâng cao chất lượng xây dựng và giám sát việc tuân thủ các qui tắc, chuẩn mực kinh tế - xã hội; trong đó có cơ sở pháp luật – thể chế đảm bảo các điều kiện cho sự hình thành và hoạt động hiệu quả của thị trường. Nhà nước đóng vai trò hỗ trợ phát triển thông qua xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội quan trọng, hệ thống an sinh xã hội.
Kiêt quyết chống tham nhũng, đẩy mạnh cải cách hành chính theo hướng phụcmvụ thật tốt cho người dân và doanh nghiệp, sử dụng hiệu quả các dự án đầu tư của nhà nước, từ nguồn vốn ODA, nhất là về phát triển kết cấu hạ tầng.
2- Xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Một xã hội công bằng là xã hội trong đó mọi người đều có cơ hội học tập và lao động, được hưởng đúng phần đáng được hưởng từ thành quả của mình, được tự do làm những gì mà luật pháp không cấm.
Nhưng công bằng không có nghĩa là cào bằng, bình quân chủ nghĩa, người làm nhiều lại được hưởng thụ và đánh giá như người làm ít. Công bằng trước hết là sự bình đẳng trong cơ hội, cơ hội học tập, cơ hội làm việc, cơ hội kinh doanh. Cùng với công bằng cơ hội là công bằng trong phân phối thu nhập (nhưng không phải đồng đều).
Công bằng, dân chủ là điều kiện để đảm bảo trình độ văn minh của xã hội, là yếu tố cần thiết để phát triển bền vững kinh tế quốc gia. Xã hội văn minh là xã hội trong đó mọi công dân ý thức được nghĩa vụ, trách nhiệm của mình và tự giác thực hiện nghĩa vụ đó đối với xã hội. Xã hội văn minh là xã hội có kỷ cương, nề nếp, con người lao động có năng suất cao, có đời sống vật chất đầy đủ và đời sống tinh thần phong phú, lành mạnh, con người được tôn trọng, được tự do phát triển về tài năng và nhân cách.
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, để đảm bảo sự phát triển bền vững thì một trong những điều kiện quan trọng hàng đầu là phải xây dựng được một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đó cũng là mục tiêu của toàn Đảng, Nhà nước và toàn dân ta.
Xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh thì chỉ có thể dựa trên cơ sở mọi thành viên trong xã hội sống và làm việc theo pháp luật, đề cao và tôn trọng pháp luật với tinh thần của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
3- Phát triển thị trường lao động cạnh tranh và chất lượng cao
Điều quan trọng để Việt Nam hội nhập vững chắc vào thị trường thế giới là phải có được một đội ngũ lao động có chất lượng, có khả năng cạnh tranh cao, có khă năng thích ứng với thị trường và khai thác những cơ hội tốt hơn đang rộng mở cho tất cả mọi người. Chất lượng lực lượng lao động thể hiện thứ nhất ở trình độ chuyên môn, tay nghề, kỹ năng hành nghề và tính linh hoạt nghề; thứ hai là tinh thần chấp hành kỷ luật, hiểu biết pháp luật và ý thức hành động theo luật pháp; và thứ ba là văn hoá ứng xử trong công việc mang tính chuyên nghiệp.
Bởi vậy, các chính sách về thị trường lao động phải được điều chỉnh để tạo điều kiện cho sự dịch chuyển lao động phù hợp với kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.
Trước hết, phải hoàn thiện khung pháp lý, thể chế, chính sách và sự quản lý của Nhà nước đối với hoạt động của thị trường lao động, thiết thực hỗ trợ sự phát triển thị trường lao động phù hợp với các thông lệ quốc tế và cam kết quốc tế của Việt Nam.
Xây dựng hệ thống luật pháp về lao động và thị trường lao động cần chú ý đến việc bảo đảm quyền lựa chọn chỗ làm việc và cư trú của người lao động. Chế độ hợp đồng lao động cần được thực hiện rộng rãi để bảo đảm quyền lợi của cả người lao động và người sử dụng lao động. Trong quan hệ lao động giữa chủ sử dụng lao động và người lao động, vai trò của công đoàn có ý nghĩa quan trọng.
Nếu yêu cầu việc làm cũng như những đòi hỏi chính đáng khác của người lao động không được giải quyết, cả hiện tại và tương lai, thì nhiều hậu quả xã hội như bất bình đẳng xã hội, xung đột xã hội, tội phạm và tệ nạn xã hội có thể gia tăng mà tốc độ tăng trưởng kinh tế cao đến đâu cũng không thể bù đắp nổi những tổn thất và hệ lụy xã hội
Chính sách tiền lương phải được thực hiện theo hướng thị trường hóa việc trả công cho người lao động, bảo đảm cho tiền lương trở thành động lực thực sự kích thích người lao động nâng cao năng suất, và ngược lại, chính hiệu quả và năng suất lao động quyết định tiền lương. Nhà nước điều tiết thị trường lao động thông qua áp dụng qui định mức lương tối thiểu chung. Mức lương tối thiểu này cần được nghiên cứu tính toán khoa học, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế và được điều chỉnh tăng dần.
Các chính sách hỗ trợ khác bao gồm các chính sách đồng bộ về thông tin thị trường lao động, tuyển dụng, hợp đồng lao động, dịch vụ việc làm, hỗ trợ chuyển đổi công việc. Những biện pháp hỗ trợ này cần được thông tin nhanh nhất và ít chi phí tìm kiếm nhất cho cả người lao động và người sử dụng lao động.
Điểm quan trọng là chính sách đào tạo và dạy nghề cần được đổi mới dựa trên những đòi hỏi của thị trường. Nhà nước có chính sách hỗ trợ người lao động đi học nghề và tìm việc. Có chính sách ưu đãi các doanh nghiệp thu hút nhiều lao động, nhất là ở khu vực nông thôn.
Với thực trạng lực lượng lao động dồi dào và trẻ của Việt Nam, nhất là lao động ở nông thôn, một biện pháp hữu hiệu là đẩy mạnh xuất khẩu lao động, đặc biệt là lao động đã qua đào tạo nghề, lao động nông nghiệp.
Chính phủ cần nghiên cứu, đánh giá tác động của việc mở cửa, gia nhập WTO
đối với việc làm trong giai đoạn hiện nay để có chiến lược phát triển thị trường lao động một cách phù hợp. Việc nghiên cứu tác động của việc gia nhập WTO phải sát thực tế, dự đoán được sự vận động của vấn đề, và đặc biệt cần có sự phối hợp và lồng ghép giữa hành động của ngành và của lĩnh vực.
Cuối cùng, một điểm cần hết sức lưu ý là, một lực lượng lao động rẻ, và trình độ tay nghề không cao có thể là lợi thế hiện tại nhưng sẽ kém khả năng cạnh tranh khi kinh tế phát triển hơn nữa. Chiến lược đẩy mạnh xuất khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài dựa vào lợi thế nhân công rẻ có thể giúp giải quyết vấn đề việc làm trước mắt nhưng không phát huy được vai trò trong trung hạn và dài hạn, thậm chí có thể tạo ra trở lực cho phát triển. Trong bối cảnh thị trường thế giới có giá cả bị áp đặt, thành công trong cạnh tranh của Việt Nam phụ thuộc rất nhiều vào khả năng duy trì sức cạnh tranh tại khu vực. Sức cạnh tranh này phụ thuộc vào hai yếu tố chính: mức chi phí nhân công và năng suất. Chi phí nhân công thấp là đặc điểm chung của cả khu vực mà Việt Nam nằm trong đó, do vậy, chỉ có chất lượng lao động mới có thể tạo ra sự khác biệt của Việt Nam trong cạnh tranh. Chiến lược phát triển nguồn nhân lực của Việt Nam cần phải hướng vào chất lượng cao.
4. Công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn
Chính phủ cần tiến tới một phương án mang tính cơ bản, lâu dài với một chiến lược hoàn chỉnh đối với nông nghiệp, nông thôn và nông dân (tam nông). Chính sách đó cần quán triệt sâu sắc các quan điểm, mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn đã được đề ra nhưng được đặt trong điều kiện thực tiễn mới - các nội dung đã cam kết khi gia nhập WTO. Kế hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn phải hướng tới bốn lĩnh vực chủ yếu: tập trung xây dựng hạ tầng cho nông nghiệp và nông thôn; tạo môi trường đầu tư thuận lợi cho kinh tế nông thôn; chuyển giao tiến bộ khoa học - công nghệ; và tạo sự liên kết chặt chẽ nông thôn - thành thị. Về vấn đề này, kinh nghiệm của Trung Quốc như đã trình bày ở phần trên sẽ là những bài học hữu ích cho Việt Nam.
Đã có nhiều chương trình hỗ trợ cho khu vực nông nghiệp, nông thôn được xây dựng, vấn đề là nhanh chóng hiện thực hóa các chính sách, các biện pháp trợ giúp cho người dân, doanh nghiệp để tăng năng lực sản xuất, cạnh tranh với sản phẩm nông nghiệp của các nền kinh tế khác.
Đối với nguời nông dân, đất canh tác là tư liệu quan trọng nhất, do đó việc thu hồi đất nông nghiệp để phát triển đô thị, KCN, giao thông... đồng nghĩa với việc nguời nông dân bị mất việc làm và hậu quả xã hội là nạn thất nghiệp gia tăng, tệ nạn xã hội phát triển, đặc biệt bức xúc ở khu vực ven đô các thành phố lớn, gây ra những bất ổn tiềm tàng nếu không có giải pháp kịp thời có thể gây ra những hậu quả khôn lường về an ninh và trật tự xã hội.
Vì vậy, vấn đề cốt lõi là làm sao khi gia nhập WTO, phải giúp cho bằng được 70% nông dân Việt Nam khá lên.
Giải pháp trước hết là hỗ trợ sự dịch chuyển lao động từ nông nghiệp sang khu vực phi nông nghiệp. Sự dịch chuyển này có thể diễn ra bằng hai cách. Một là thu hút lao động ra khỏi khu vực nông thôn về các khu công nghiệp, thường tập trung ở vùng đô thị. Hai là đưa công nghiệp, dịch vụ về nông thôn, phát triển làng nghề. Cả hai cách đó cần được thực hiện đồng thời. Nhà nước cần đầu tư đào tạo nghề cho nông dân để đối phó với sự dịch chuyển trong nông nghiệp, tập trung đào tạo nghề cho lực lượng trẻ, lao động nữ, hỗ trợ học phí cho người học nghề.
Thứ hai là hỗ trợ nông dân những gì WTO không cấm, qua đó tận dụng một cách hiệu quả những ưu đãi cho nông nghiệp. Khi gia nhập WTO, phải xóa bỏ chính sách trợ giá, nhưng phải tận dụng được ưu đãi mà WTO cho phép (còn được gọi là Hộp xanh) như thủy lợi, hệ thống tưới tiêu, cải tạo đất đai, khuyến nông, nghiên cứu áp dụng khoa học - công nghệ vào nông nghiệp. Ở khía cạnh này, Nhà nước và các tổ chức phi Chính phủ đóng vai trò quan trọng và cùng nhau chia sẻ gánh nặng tài chính.
Thứ ba, Nhà nước cần tăng đầu tư về nông thôn, tập trung đầu tư cho khoa học công nghệ và xây dựng kết cấu hạ tầng.
Thứ tư, tập trung vào xúc tiến thương mại và cung cấp thông tin tới nông dân. Bên cạnh những thông tin thị trường và khoa học kỹ thuật, cần xây dựng hệ thống thông tin thị trường lao động, cung cấp đầy đủ những thông tin cần thiết về lao động và tổ chức các dịch vụ giới thiệu việc làm ở khắp các vùng nông thôn, nơi có nhiều thanh niên đang thiếu việc làm và sẵn sàng di cư để tìm kiếm việc làm.
Thứ năm, có chính sách hỗ trợ để nâng cao tiêu chuẩn và chất lượng của sản phẩm nông nghiệp, đảm bảo sức cạnh tranh trên trường quốc tế. Khi đứng vững trên sân chơi WTO thì kinh tế nông nghiệp tiếp tục trở thành động lực rất quan trọng thúc đẩy công cuộc xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam.
5. Hệ thống an sinh xã hội
Mục tiêu của hệ thống an sinh xã hội là đảm bảo cho mọi công dân, không loại trừ một ai, được yên tâm trước mọi rủi ro có thể xảy ra đối với đời sống của họ.
Hệ thống an sinh xã hội hiện nay ở Việt Nam bao gồm các chương trình dành cho người lao động ở khu vực chính quy cộng với trợ giúp xã hội thông qua các chương trình mục tiêu và các hình thức hỗ trợ khác dành cho những người thiệt thòi. Tuy nhiên, hệ thống an sinh hiện nay theo nhiều đánh giá còn thiếu và yếu. Mức hưởng an sinh xã hội của nhóm người có thu nhập cao rất lớn trong khi người có thu nhập thấp, ở nông thôn, miền núi chiếm tỷ lệ rất hạn chế. Theo tài liệu công bố của chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP), những gia đình được hưởng nhiều an sinh xã hội nhất (40%) lại thuộc vào nhóm thu nhậpcao nhất Việt Nam, trong khi nhóm nghèo nhất chỉ nhận được chưa đến 7%.
Cũng theo nghiên cứu này, xét về tỷ lệ được hưởng an sinh xã hội, nhóm 20% dân số giàu nhất trong xã hội Việt Nam hưởng cao gấp 6 lần nhóm người nghèo. Nhóm liền kề nhóm giàu hưởng cao gấp 4 lần nhóm người nghèo.
Mục tiêu phát triển của Việt Nam là nâng tỷ lệ giảm nghèo hàng năm từ 2% hiện nay lên 3%. Trong khi đó, theo một nghiên cứu mới đây của nhóm các nhà khoa học thuộc Trung tâm Phân tích chính sách xã hội, thuốc ĐHTH Bath (Anh), về chính sách an sinh xã hội của Việt Nam, tỷ lệ nghèo có thể tăng 4,6% nếu không có khoản trợ cấp an sinh xã hội. Những vấn đề hiện nay của hệ thống an sinh xã hội của Việt Nam nếu không được giải quyết tốt sẽ dẫn đến hệ quả làm thui chột những thành quả tăng trưởng kinh tế, làm trầm trọng thêm những vấn đề xã hội và cuối cùng là ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của lực lượng lao động. Do đó, cần một phương pháp tiếp cận hiện đại và thích hợp để giúp người dân đối phó với những rủi ro có thể xảy ra với sinh kế và sức khỏe của mình, đồng thời tránh bị tái nghèo chỉ vì những bất an trong cuộc sống như ốm đau, khuyết tật, mất việc làm, nuôi con và tuổi cao.
Hệ thống an sinh xã hội Việt Nam cần được xây dựng trên ba nguyên tắc cơ bản: Một là, phải giải quyết được những vấn đề trong giai đoạn chuyển đổi của Việt Nam, mang tính kế thừa và phát triển. Hai là, phải mang tính xã hội. Ba là, phải đảm bảo độ an toàn và có yếu tố bền vững. Hệ thống phải thúc đẩy có hiệu quả nền kinh tế thị trường, giảm tối đa rủi ro trong quá trình phát triển, đáp ứng mục tiêu tăng trưởng kinh tế gắn với xoá đói giảm nghèo trong từng bước phát triển của Việt Nam
Trước hết cần tạo khung pháp lý hoàn chỉnh về an sinh xã hội. Quốc hội chuẩn bị thông qua Luật Bảo hiểm xã hội mới quy định ba hình thức bảo hiểm là bảo hiểm bắt buộc, bảo hiểm tự nguyện và bảo hiểm thất nghiệp. Điểm quan trọng là cần đổi mới chính sách bảo hiểm sao cho tách bạch rõ chức năng bảo hiểm và chức năng phân phối lại mà hiện nay hệ thống bảo hiểm xã hội vẫn đang đảm nhận. Đặc biệt cần cải tiến chế độ thu và chi bảo hiểm nhằm tạo điều kiện cho người lao động không bị ràng buộc bởi một đơn vị hay thành phần kinh tế nào, cho dù người đó là lao động tự do, miễn là họ tham gia đóng bảo hiểm đầy đủ theo nghĩa vụ, đúng pháp luật. Điều này giúp cho thị trường lao động trở nên linh hoạt hơn, và người lao động được tự chủ trong tìm kiếm việc làm phù hợp với khả năng và điều kiện của mình. Trong tương lai gần, cần hướng tới xây dựng chế độ bảo hiểm xã hội toàn dân và mang tính bắt buộc.
Cơ hội tất nhiên lớn với người lao động khi Việt Nam hội nhập nhưng để giảm tối đa những thách thức, bảo vệ quyền lợi người lao động thì cần đẩy mạnh thực thi các chính sách tạo việc làm thông qua khuyến khích doanh nghiệp phát triển, khuyến khích đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.
Bên cạnh đó, sự tham gia của xã hội dân sự đối với chăm sóc sức khỏe, y tế và giáo dục cần được hết sức khuyến khích để bổ sung cho hệ thống an sinh xã hội cũng như để san sẻ gánh nặng tài chính của Nhà nước. Một ví dụ của các nước phát triển là gắn trách nhiệm xã hội với doanh nghiệp như chia sẻ gánh nặng bảo hiểm, có chính sách khuyến khích (giảm thuế) đối với những doanh nghiệp tuyển dụng nhiều lao động nữ, hay sử dụng người tàn tật, người dân tộc thiểu số.
Cần hết sức chú ý đến những nhóm người dễ bị tổn thương. Nhóm người dễ bị tổn thương là: nông dân bị mất đất canh tác, bị thiên tai dịch bệnh, những người bị rủi ro cá nhân, người khuyết tật, đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, người di cư tự do vào các đô thị, người nghèo và cận nghèo. Chính sách xã hội phải hướng tới nhóm người này, trong đó người nghèo, trẻ em, phụ nữ, người già, người tàn tật là những người cần được quan tâm nhiều nhất và chắc chắn rằng họ phải được hưởng chế độ an sinh xã hội đầy đủ.
Cần đổi mới chính sách giáo dục và y tế sao cho mọi người dân đều có cơ hội
công bằng để tiếp cận với những dịch vụ quan trọng cơ bản này. Xã hội hóa các dịch vụ xã hội là quan trọng, nhưng phải đảm bảo việc tiếp cận dễ dàng đối với các nhóm xã hội yếu thế. Điều này có ý nghĩa an sinh xã hội rất lớn, có thể góp phần quan trọng vào việc cải thiện kỹ năng và sức khỏe cho lực lượng lao động quốc gia, đảm bảo chất lượng cho lực lượng lao động. Những chính sách hỗ trợ hiện nay như cho học sinh nghèo vay tiền đi học cũng như khám, chữa bệnh miễn phí cho trẻ em và người nghèo chắc chắn sẽ mang lại những hiệu quả xã hội tích cực.
III- THAY LỜI KẾT
Gia nhập WTO mang lại nhiều thuận lợi cho Việt Nam cả về kinh tế lẫn xã hội. Việc tham gia vào sân chơi kinh tế toàn cầu này giúp Việt Nam thúc đẩy nhanh hơn nữa những cải cách mà chúng ta theo đuổi, góp phần thực hiện nhanh hơn những mục tiêu kinh tế và xã hội mà Đảng và Nhà nước đã đề ra.
Khi các tiêu chí tự do hoá thị trường được cam kết và thực thi, các chính sách xã hội liên quan đến thất nghiệp, mạng lưới an sinh xã hội, đào tạo và đào tạo lại cần được đánh giá, xem xét lại kỹ lưỡng để có sự điều chỉnh phù hợp. Việc đưa những chính sách đó vào thực tiễn không chỉ là vai trò của riêng Nhà nước mà cần sự đóng góp của tất cả mọi người, của cả người lao động và người sử dụng lao động, của cả người già và người trẻ, của cả công nhân, nông dân, trí thức và của mọi tổ chức xã hội dân sự. Điều quan trọng nhất là phải thực hiện nhất quán mục tiêu tối đa hoá lợi ích tổng thể của hội nhập kinh tế quốc tế bằng việc chấp nhận một số tốn phí của sự điều chỉnh trong ngắn hạn để đổi lấy những lợi ích dài hạn. Tận dụng được thật nhiều cơ hội cũng có nghĩa là hạn chế được thách thức nảy sinh trong quá trình toàn cầu hoá.
Gia nhập WTO cho phép Việt Nam bước hẳn vào nền kinh tế thế giới. Để tiến lên một cách bền vững, các chính sách của nhà nước về xã hội đóng vai trò cốt yếu.
CIEM – Trung tâm Thông tin – Tư liệu